Đồng VND mạnh: Mấu chốt giải toả nền KT Việt???

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by futureprecedor, Mar 15, 2008.

2771 người đang online, trong đó có 1108 thành viên. 09:51 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 0)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. futureprecedor

    futureprecedor Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 11, 2006
    Likes Received:
    467
    Ngày 17-03-2008, 09:06
    PGS.TS Trần Hoàng Ngân: Tỉ giá phải giảm sâu


    Có thể cho tỉ giá (TG) VND/USD giảm dưới 5% là đề xuất của PGS.TS Trần Hoàng Ngân, Đại học Kinh tế TP.HCM, nhằm giải quyết ách tắc trên thị trường ngoại tệ. Nhưng đó chỉ là giải pháp tạm thời để thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát...


    Ông Ngân nói: ?oChúng ta đang đặt ưu tiên hàng đầu là kiểm soát lạm phát, vì vậy phải linh hoạt chính sách TG, trong ngắn hạn phải "hi sinh" xuất khẩu và dài hạn là kiên trì mục tiêu khuyến khích xuất khẩu. Vấn đề là phải xác định thời gian, các biện pháp cần làm để đạt mục tiêu?.



    Chúng ta cũng đã cho VND lên giá, phải chăng như thế là chưa đủ?





    Những điều chỉnh vừa qua chưa đủ để khai thông thị trường ngoại tệ. Phải chấp nhận điều chỉnh TG thật sâu 3-4% để khai thông thị trường. Ngân hàng (NH) Nhà nước nên giảm TG liên NH 1-2%, cộng với biên độ TG nên nới ra 2%. Khi TG giảm, sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa nhập khẩu rẻ đi, chủ yếu là xăng dầu, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị..., qua đó giảm áp lực lên lạm phát. Khi đã chữa được bệnh lạm phát thì chúng ta trở lại mục tiêu dài hạn là khuyến khích xuất khẩu. Việc điều chỉnh TG, tăng thuế nhập khẩu... để kiềm chế lạm phát có thể tạo ra lợi ích cho nhóm này hoặc thu hẹp lợi ích của nhóm kia. Như câu chuyện tăng thuế nhập ôtô để giảm nhập siêu. Vì vậy, bên cạnh các biện pháp chống độc quyền, liên kết giá..., các bộ ngành phải chủ động thông tin, giải thích thật cụ thể cho doanh nghiệp và người dân biết, tránh hiểu lầm, gây ra những phản ứng không đúng với chính sách.




    Chống được lạm phát sẽ giảm chi phí của nhà xuất khẩu, lãi suất VND qua đó cũng giảm và tạo được sự thông thoáng trong thị trường. Hiện lạm phát đang làm xơ cứng các thị trường.



    Theo ông, nhà xuất khẩu phải chịu đựng bao lâu?



    Có thể 3-6 tháng. Tới đây Mỹ sẽ còn cắt lãi suất thêm, sau đó là giai đoạn phục hồi và sẽ có nhiều thay đổi sau bầu cử tổng thống Mỹ. Chu kỳ này từng diễn ra trong giai đoạn 2000-2001. Lúc đó tốc độ tăng GDP của VN cũng bị ảnh hưởng, dù nền kinh tế VN chưa hội nhập sâu. Còn hiện nay đã hội nhập sâu thì ảnh hưởng lớn hơn nhưng cũng dễ hồi phục hơn.



    Nhưng TG giảm sâu có chắc là khai thông được thị trường ngoại tệ?



    Phải có giải pháp linh hoạt và tính đến từng trường hợp. Người dân nắm giữ nhiều USD đang đổ ra bán. Trường hợp này chúng ta chấp nhận cho TG giảm sâu. Cho phép NH được mua theo giá thỏa thuận. Cơ chế này đang được áp dụng tại NH Xuất nhập khẩu VN (Eximbank). NH mua vào theo giá mà người có nhu cầu chấp nhận được chứ không bị ràng buộc bởi biên độ TG của NH Nhà nước. Riêng USD chuyển khoản vẫn phải theo biên độ của NH Nhà nước. Đồng thời NH Nhà nước cũng xem xét mua hết USD có nguồn gốc từ xuất khẩu. Sau đó, chúng ta mới cho TG giảm sâu để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát.



    TG giảm sâu sẽ khó cho ngành giày dép, dệt may, vì vậy cần có những biện pháp hỗ trợ hai ngành này.



    Việc cho VND lên giá quá cao có làm giảm sức cạnh tranh hàng xuất khẩu của VN so với các nước trong khu vực?



    Trong một năm qua USD đã giảm giá 14,75% so với EUR, với yen Nhật là 14,53%, đồng baht Thái Lan là 3,96%, peso Philippines 14,5%, đôla Singapore là 10,45%... Những tháng đầu năm USD chỉ giảm không tới 0,5% so với VND, còn trong năm 2007 mức giảm là không đáng kể. Vì vậy, việc giảm giá USD trong thời gian tới không tác động quá xấu đến xuất khẩu và cạnh tranh của hàng VN vì VND lên giá nhẹ nhàng hơn các đồng tiền của các nước trong khu vực. Hơn nữa giải pháp giảm giá USD chỉ là ngắn hạn.



    Nhưng TG giảm sâu quá lại dẫn đến nhập siêu. Dự báo mới về nhập siêu không phải là 17 mà là 20 tỉ USD, thưa ông?



    Bộ Công thương phải tính toán vấn đề này. Công văn 319 của Chính phủ về chống lạm phát có nói rồi. Không chỉ dùng thuế, cơ chế kỹ thuật, chúng ta cũng có thể dùng cả biện pháp hành chính, miễn là đừng vi phạm cam kết với Tổ chức Thương mại thế giới. Vừa rồi Chính phủ đã tăng thuế nhập khẩu ôtô để giảm bớt chi ngoại tệ cho mặt hàng này. Thậm chí là cho tăng thuế ở trong nước để hạn chế tiêu dùng và tăng nguồn thu cho ngân sách. Chúng ta cho TG giảm để kiềm chế lạm phát. Khi mục tiêu này đạt được thì chúng ta phải chuyển ngay sang khuyến khích xuất khẩu để cân bằng cán cân thương mại.



    Cũng cần lưu ý là khuyến khích xuất khẩu không thể chỉ dựa vào TG mà còn tín dụng xuất khẩu, xúc tiến thương mại, nâng cao chất lượng hàng hóa. Khi TG giảm, đó là cơ hội để các nhà xuất khẩu nhập máy móc thiết bị, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hóa.



    Lần đầu tiên chúng ta "hi sinh" xuất khẩu để ưu tiên chống lạm phát, theo ông, bài học rút ra là gì?



    Khuyến khích xuất khẩu không chỉ dựa vào TG mà còn nhiều chính sách khác như tín dụng, xúc tiến thương mại, chất lượng hàng hóa... Thời gian qua chúng ta đã dựa quá nhiều vào TG. Vì vậy, cần điều chỉnh theo hướng doanh nghiệp phải chủ động hơn là dựa vào chính sách. Doanh nghiệp nên đầu tư nhiều hơn cho công tác dự báo, phòng chống rủi ro, bảo hiểm... Khi thấy kinh tế Mỹ có vấn đề, Mỹ giảm lãi suất USD thì phải chuyển hướng sang các thị trường khác, giảm bớt nhận thanh toán bằng USD hoặc sử dụng các công cụ phòng chống rủi ro TG...



    Kinh nghiệm cho thấy doanh nghiệp nào biết đầu tư cho công tác này sẽ ít bị thiệt hại nhất.



    Theo TT
  2. futureprecedor

    futureprecedor Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 11, 2006
    Likes Received:
    467
    Ngày 19-03-2008, 14:47
    Ba mâu thuẫn lớn trên thị trường ngoại tệ



    Giá USD so với VND đang giảm mạnh.
    Tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước chiều ngày 15/3/2008, Thủ tướng chỉ đạo cần có biện pháp để các ngân hàng thương mại tiếp tục mua ngoại tệ của các doanh nghiệp xuất khẩu.


    Thời gian qua, các doanh nghiệp này không bán được ngoại tệ và đã phải "kêu cứu" lên Chính phủ và tỷ giá xuống thấp.



    Đó là một vấn đề lớn dư luận đang hết sức quan tâm, song nhìn bề ngoài trên thị trường ngoại tệ hiện nay còn thấy một số mâu thuẫn lớn sau đây.



    Mâu thuẫn đầu tiên ở chỗ, Việt Nam là một nền kinh tế nhập siêu, thường xuyên thâm hụt cán cân thương mại, nhưng lại đang có "nghịch lý lớn" là từ đầu năm 2007, đặc biệt từ đầu tháng 3/2008 đến nay cung ngoại tệ lại lớn hơn cầu, xảy ra tình trạng thừa ngoại tệ.



    Tình hình đó làm cho tỷ giá VND/USD giảm mạnh trên cả 3 thị trường: thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường mua bán ngoại tệ của ngân hàng thương mại với các doanh nghiệp và tỷ giá trên thị trường tự do.



    Chỉ tính từ đầu tháng 3/2008 đến nay, tỷ giá trên thị trường tự do và tỷ giá thực tế tính cả phí mà các ngân hàng thương mại mua USD của các doanh nghiệp giảm khoảng 400 VND/USD, tương đương với mức giảm trên 3%.



    Tính cân đối chung, Việt Nam thặng dư cán cân vãng lai khoảng 6,6 tỷ USD trong năm 2007. Nếu trừ đi số ngoại tệ người Việt Nam đi du học, đi du lịch và chữa bệnh nước ngoài, ngoại tệ sử dụng cho buôn lậu... thì thặng dư cán cân vãng lai cũng phải tới 3-4 tỷ USD. Với cách tính tương tự thì thặng dư cán cân vãng lai trong quý 1/2008 ước tính khoảng 1,0 tỷ USD.



    Đây là lý do thứ nhất lý giải vì sao cung ngoại tệ tăng mạnh!



    Lý do thứ hai là do sự biến đổi ngược chiều nhau của lãi suất, tỷ giá giữa USD và VND, nên người dân chuyển đổi từ cất trữ tài sản và đầu tư vào USD qua việc gửi tiết kiệm tại ngân hàng thương mại bằng USD sang VND. Trong khi đó doanh nghiệp thích vay USD hơn vay VND. Hai nhân tố này làm cho cung ngoại tệ tăng mạnh.



    Mâu thuẫn thứ hai là, lãi suất cho vay vốn ngoại tệ đang diễn ra trái thông lệ ở nước ta từ trước đến nay. Bởi vì từ khi đổi mới hoạt động ngân hàng vào năm 1988 đến nay, các ngân hàng thương mại cho vay vốn USD theo lãi suất thả nổi hay cố định đều dựa trên nguyên tắc: lãi suất thị trường liên ngân hàng Singapore (Sibor) kỳ hạn 1 năm cộng với 1,5% - 2,0%/năm.



    Lãi suất Sibor kỳ hạn 1 năm hiện nay khoảng 3,4% - 3, 6%/năm, với tỷ lệ trên thì lãi suất cho vay chỉ khoảng 5,1% - 5,6%/năm. Nhưng hiện nay lãi suất cho vay thấp nhất của các ngân hàng thương mại Nhà nước đang là 6,45%/năm - 8,5%/năm, của các ngân hàng thương mại cổ phần từ 6,8%/năm - 9,0%/năm.



    Như vậy trong khi lãi suất USD của FED và lãi suất Sibor giảm thì lãi suất cho vay USD của nước ta lại tăng và tăng cao, cao hơn thông lệ tại chính thị trường ngoại tệ nước ta khoảng 1,35%/năm - 3,4%/năm.



    Do đó giá thành hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ cao hơn, nói cách khác là thu lợi nhuận thấp hơn. Hàng hoá xuất khẩu và dịch vụ của Việt Nam có nguyên nhiên vật liệu và máy móc thiết bị phải sử dụng vốn vay USD kém sức cạnh tranh hơn so với các đối tác khu vực.



    Có 3 nguyên nhân của tình trạng trên.



    Nguyên nhân đầu tiên là từ đầu tháng 2/2008, tỷ lệ dự trữ bắt buộc tiền gửi ngoại tệ không kỳ hạn đến có kỳ hạn dưới 12 tháng tăng từ 10% lên 11%, tiền gửi ngoại tệ có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên tăng từ 4% lên 5%. Các mức tỷ lệ dự trữ bắt buộc này cũng tăng gấp hơn 2 lần so với mức đầu năm 2007.



    Nguyên nhân thứ hai là nguồn vốn USD trong các ngân hàng thương mại khan hiếm do người dân rút ra bán đi chuyển đổi sang VND.



    Nguyên nhân thứ ba là doanh nghiệp thích vay vốn ngoại tệ hơn so với vốn VND.



    Mâu thuẫn thứ ba là, trong khi cung ngoại tệ trên thị trường tăng mạnh, có tình trạng thừa ngoại tệ, tỷ giá VND/USD xuống quá thấp, nhưng vốn USD của các ngân hàng thương mại lại khan hiếm, lãi suất huy động vốn và cho vay vốn USD tăng cao!



    Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là do các ngân hàng thương mại huy động được vốn ngoại tệ thì cho vay vốn ngoại tệ, không thể dùng vốn kinh doanh ngoại tệ do mua được trên thị trường để cho vay. Tức là huy động vốn USD bên phía tài sản nợ của ngân hàng thương mại thể hiện bằng USD thì về danh mục tài sản có cũng phải thể hiện là USD, tức là cho vay hay đầu tư trên thị trường tiền gửi... cũng phải bằng USD.



    Trong khi đó với nghiệp vụ mua bán ngoại tệ, ngân hàng thương mại luôn luôn phải đảm bảo ngoại hối dao động quanh mức 30% so với vốn tự có của ngân hàng thương mại đó để đảm bảo an toàn, tránh rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ của mình cũng như của nền kinh tế.



    Việt Nam neo giữ tỷ giá VND/USD quá lâu, không đúng với diễn biến của thị trường hối đoái quốc tế trong khi USD giảm giá mạnh trong hơn 2 năm qua là nguyên nhân quan trọng gây nên lạm phát cao hiện nay. Bởi vì việc neo ghìm giữ tỷ giá VND/USD quá lâu cũng làm cho hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam tăng giá, cũng góp phần gây nên lạm phát.



    Đến nay thì Ngân hàng Nhà nước lại hạn chế quá mức việc mua USD, làm cho tỷ giá sụt giảm nhanh. Thực tế hiện nay nếu Ngân hàng Nhà nước để tỷ giá diễn biến theo đúng cung cầu ngoại tệ theo chỉ đạo của Chính phủ, không neo giữ tỷ giá bằng việc công bố tỷ giá liên ngân hàng không sát thực tế và biên độ mặc dù đã được điều chỉnh lên +/-1% nhưng vẫn quá chật hẹp... thì tỷ giá mua bán USD của ngân hàng thương mại với doanh nghiệp còn giảm mạnh hơn.



    Theo hướng đó tỷ giá VND/USD giảm, sẽ làm giảm chi phí hàng hoá, nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu khi tính ra VND. Đây là xu hướng chung trên thế giới khi mà USD đang suy yếu, mất giá mạnh với hầu hết các loại ngoại tệ chủ đạo.



    Một chính sách được thực thi đều có tác động hai chiều tích cực và hạn chế. Sự phản ứng của dư luận được một số người cho là do các nhóm lợi ích khác nhau, nhưng đứng trên góc độ vĩ mô toàn cảnh của nền kinh tế thì phải cân nhắc xem lợi ích chung và dự báo diễn biến trong trung dài hạn.



    Nếu Ngân hàng Nhà nước mua ngoại tệ vào thì phải cung ứng khối lượng rất lớn tiền VND ra lưu thông, gây sức ép lên lạm phát tiền tệ, nhưng nếu không mua USD vào thì tỷ giá xuống quá thấp và tình trạng đôla hoá tăng cao.



    Việt Nam là nền kinh tế nhập siêu ở mức độ lớn, vay nợ nước ngoài còn cao, nên cần rút ra bài học kinh nghiệm từ chính mình trong điều hành tỷ giá các năm qua, đặc biệt là bơm tiền VND ra quá lớn, dồn dập để neo giữ tỷ giá cứng nhắc trong những tháng đầu năm 2007 vừa qua.


    Theo VNE

Share This Page