Dự đoán trước 15/11 này giảm lãi suất cơ bản... hoặc thay đổi hạn mức tín dụng linh hoạt...

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi New_beginning1984, 30/10/2008.

398 người đang online, trong đó có 159 thành viên. 06:05 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1941 lượt đọc và 22 bài trả lời
  1. New_beginning1984

    New_beginning1984 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    18/11/2002
    Đã được thích:
    0
    Dự đoán trước 15/11 này giảm lãi suất cơ bản... hoặc thay đổi hạn mức tín dụng linh hoạt...

    Nếu ko em xin ko dùng nick này 1 năm để vào 319 nữa... Nick làm từ những năm 2002, quý lắm đấy ạ.

    Đợi tổng kiểm tra tín dụng các ngân hàng thương mại xem thực tế nó thế nào đã... sắp xong rồi, hôm nay các ngân hàng phải nộp báo cáo đây... chắc phải mất 1 tuần để xem xét và trình duyệt...

    Chà... 30.000 tỷ nợ xấu

    150.000 tỷ nợ BĐS nhưng có thể lên tới 600.000 tỷ (gần 40 tỷ USD) do lại tiếp tục đem nhà mua bằng tiền nợ để vay tiền... quả này mà vỡ thì cũng ác liệt đấy.

    Dù sao thì áp lực giảm LS cũng lớn lắm rồi... nếu mà không giảm vì sợ lạm phát thì chắc là cũng phải áp dụng hạn mức tín dụng linh hoạt cho từng ngân hàng, chứ cào bằng 30% thế này thì khó phá băng tín dụng lắm.

    Đợi và kiểm chứng nhé.
  2. New_beginning1984

    New_beginning1984 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    18/11/2002
    Đã được thích:
    0
    Vượt qua bất ổn kinh tế: 6 đề xuất cụ thể

    Tại hội thảo ?oKhủng hoảng tài chính quốc tế: Ứng xử của của ngành ngân hàng, tài chính, xuất nhập khẩu và doanh nghiệp Việt Nam?, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thúy đã đưa ra những quan điểm về phương cách khắc phục những bất ổn kinh tế vĩ mô hiện nay.

    Chúng tôi xin giới thiệu nội dung chính bài tham luận của ông tại hội thảo này.

    Sự bất ổn của kinh tế Việt Nam thời gian qua (lạm phát cao, thâm hụt thương mại lớn, thị trường tiền tệ - tài chính chao đảo) đã khiến nhiều doanh nghiệp hoạt động trong môi trường đầy biến động, không dự báo được, không thể sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.

    Nhiều doanh nghiệp thua lỗ hoặc lợi nhuận thấp, phải thu hẹp sản xuất kinh doanh. Một số không ít bị đóng cửa, phá sản hoặc tạm ngừng kinh doanh để chờ thời.

    Không chỉ các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa - dịch vụ thông thường, mà cả các doanh nghiệp là tổ chức tài chính, như các tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư, các công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm? cũng gặp những khó khăn lớn.

    Khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế thế giới đang lan rộng và tác động xấu đến tất cả các nước, trong đó có Việt Nam. Cuộc khủng hoảng này cộng hưởng với những bất ổn vĩ mô và suy giảm sản xuất kinh doanh trong nước, đang và sẽ đặt ra những khó khăn ngày càng lớn cho doanh nghiệp.

    Những dấu hiệu được cảnh báo những ngày gần đây càng bộc lộ rõ, như xuất khẩu khó khăn; khan hiếm dần nguồn vốn ngoại, tỉ giá USD tăng; doanh nghiệp không mặn mà vay vốn ngân hàng, mặc dù lãi suất giảm (tuy vẫn còn cao) vì không chọn được phương án kinh doanh trước quá nhiều bất ổn bên trong và bên ngoài?

    Bên cạnh việc phát huy tính năng động, nghệ thuật quản lý điều hành của doanh nghiệp để chèo lái con thuyền kinh doanh vượt giông bão; bên cạnh sự trợ giúp cụ thể, trực tiếp của Chính phủ cho từng lĩnh vực, từng ngành hàng trong chừng mực khả năng cho phép thì điều cơ bản là Nhà nước phải có những quyết sách điều hành vĩ mô kịp thời, đúng đắn, để xử lý những đột biến xấu, vượt ra ngoài khả năng ứng phó của doanh nghiệp.

    Để đạt được mục tiêu này, người viết xin có một số đề xuất cụ thể như sau:

    Thứ nhất, phải coi việc ngăn ngừa chiều hướng đình trệ sản xuất, kinh doanh - do cộng hưởng của suy thoái kinh tế thế giới với sự suy giảm đà tăng trưởng trong nước - là nhiệm vụ trung tâm đột xuất của những tháng cuối năm 2008 và trong cả năm 2009.

    Kiểm soát lạm phát vẫn là nhiệm vụ ưu tiên, hiểu theo nghĩa nguy cơ tái diễn lạm phát cao vẫn thường trực và rất dễ bộc phát trở lại, nếu chúng ta mất cảnh giác và không tiếp tục xử lý tận gốc nguyên nhân sâu xa của lạm phát là ?ochạy theo tố độ tăng trưởng cao bằng cách mở rộng nguồn lực đầu tư không tương xứng với nâng cao hiệu quả, dẫn đến sức ép nới lỏng chính sách tài khóa và chính cách tiền tệ?.

    Song, không thể không thấy rằng để có sự điều chỉnh sâu về kinh tế và tạo nên chuyển biến thực sự cần phải có thời gian, trong khi đó thì một mặt cơn sốt lạm phát đã giảm, mặt khác thì nền kinh tế đang có triệu chứng đình đốn cục bộ, và triệu chứng này có khả năng lan tỏa dưới tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới.

    Đã đến lúc không cần và không nên cho nền kinh tế uống thuốc ?ogiảm sốt lạm phát? như vừa qua, mà nên áp dụng một phác đồ điều trị cơ bản hơn, lâu dài hơn. Ngăn chặn nguy cơ đình đốn kinh tế là nhằm bồi bổ sức khỏe để giúp cơ thể kinh tế có khả năng chịu đựng và hấp thu những liều thuốc đặc trị, để hoàn toàn bình phục và phát triển bền vững.

    Thứ hai, cần củng cố lòng tin và tăng cường khả năng ?ochống đỡ giông bão? của hệ thống các tổ chức tài chính mà trụ cột là hệ thống ngân hàng.

    Cần tiếp tục quan tâm bảo đảm vững chắc khả năng thanh khoản, song phải chú trọng nhiều hơn đến việc củng cố và tăng cường khả năng thanh toán của từng tổ chức tín dụng. Năng lực tài chính bị suy yếu do những khó khăn trong kinh doanh, nhất là chi phí vốn quá cao so với ?otrần lãi suất? đang làm cho không ít ngân hàng thương mại thua lỗ.

    Nợ xấu đang và sẽ tăng lên sẽ làm cho bản cân đối tài khoản ngân hàng xấu đi. Thị trường bất động sản trầm lắng, đóng băng sẽ là một thách thức lớn cho việc giải chấp tài sản để thu hồi các khoản vay đáo hạn, làm tăng gánh nặng tài chính đối với người đi vay và cả người cho vay.

    Phương án xử lý nợ xấu của từng tổ chức tín dụng phải được hoạch định và thi hành ngay. Đồng thời một phương án xử lý tổng thể nợ xấu cho nền kinh tế, với vai trò của ngân hàng và công ty mua - bán nợ do Chính phủ thành lập, quy định rõ nguồn lực tối thiếu cần thiết và cách thức sử dung nguồn lực đó? đã trở nên cấp bách.

    Một tuyên bố công khai việc Chính phủ bảo đảm toàn bộ tiền gửi tiết kiệm của dân cư ở các tổ chức tính dụng sẽ là cần thiết để ngăn chặn những đột biến xấu, đồng thời thu hút thêm các nguồn vốn nhàn rỗi hiện đang quay vòng hay nằm yên ngoài hệ thống ngân hàng, làm cho thanh khoản của nền kinh tế thêm dồi dào hơn.

    Thứ ba, trở lại nguyên tắc lãi suất thỏa thuận cả huy động lẫn cho vay, đã và đang bị những áp đặt hành chính làm tổn hại thời gian gần đây.

    Lãi suất thỏa thuận không những là tất yếu khách quan, phù hợp với cơ chế thị trường trong kinh doanh tín dụng, ngân hàng, mà còn là một chủ trương lớn của Đảng đề ra từ Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa 9, ban hành tháng 5/2002, đã được thực tiễn kiểm nghiệm trong suốt thời kỳ 2002 - 2007.

    Một lời giải thích của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về điều 474 và 476 Bộ luật Dân sự, rằng ?onhững quy đinh này chỉ áp dụng cho những quan hệ tín dụng phi chính thức khi có tranh chấp pháp lý? là cần và đủ để tháo gỡ vướng mắc cho hoạt động kinh doanh tiền tệ - tín dụng hiện nay.

    Lãi suất thỏa thuận tạo cơ hội cho thị trường đưa ra những tín hiệu đúng để phân bổ cho các nguồn lực trong kinh tế. Nó cũng là bộ giảm xóc để hệ thống ngân hàng giảm bớt chấn động của môi trường kinh doanh trong và ngoài nước, thích ứng linh hoạt với tương quan cung cầu về vốn trong từng thời điểm và tránh những tác động tâm lý bất lợi không đáng có mỗi lần phải điều chỉnh tăng hay giảm lãi suất cơ bản, mà thực chất trần lãi suất cho vay, do bị gắn chặt với quy định nói trên của Bộ luật Dân sự.

    Sự nhìn nhận và xử lý đúng vai trò của thị trường liên ngân hàng, phân biệt yêu cầu thanh khoản với tăng trưởng tín dụng nóng, việc điều hành linh họat các công vụ nghiệp vụ thị trường mở... mới là nhân tố quyết định để ngăn chặn những hành vi đẩy lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất huy động tiền gửi hoặc lãi suất cho vay vượt tầm kiểm soát - như đã từng xảy ra trong những tháng đầu năm 2008, tạo thêm những bất ổn không đáng có và làm trầm trầm trọng thêm những bất ổn khách quan.

    Thứ tư, lấy tỉ giá thực (REER - Real Effective Exchange Rate) làm căn cứ chính để xác định và điều hành tỉ giá đối đoái, chứ không giản đơn chạy theo cung cầu ngoại hối và bị động đối phó với các cơn sốt ngoại tệ (hiện đang có dấu hiệu trở lại).

    Không thể không thấy rằng tỉ giá danh nghĩa hiện hành thấp xa so với tỉ giá thực đang góp phần không nhỏ gây khó khăng cho xuất khẩu và ?ohỗ trợ? xuất khẩu. Duy trì cứng nhắc tỉ giá đó còn buộc phải sử dụng dự trữ ngoại hối để can thiệp khi chưa thực sự cần thiết.

    Cần lưu ý là dự trữ ngoại hối tuy tăng lên về lượng tuyệt đối (đạt khoảng 22 tỉ USD vào tháng 10/2008) - song chỉ tương đương với 12 tuần nhập khẩu trong năm 2008, so với 17 tuần trong năm 2007 - vẫn là một lực lượng mỏng để có thể ứng phó với tác động xấu của khủng hoảng tài chính toàn cầu.

    Lạm phát giảm khá mạnh chính là cơ hội để xử lý tốt hơn vấn đề tỉ giá hối đoái.

    Thứ năm, nên tháo dỡ ?ohạn mức tín dụng 30%? - tuy không có văn bản quy định về pháp lý - song vẫn đang là chỉ tiêu điều hành trên thực tế bằng không ít các mệnh lệnh hành chính.

    Vấn đề chủ yếu không phải chủ yếu ở chỗ mức tăng trưởng tín dụng đến tháng 10/2008 chỉ khoảng 19%, trong khi sản xuất kinh doanh trầm lắng, nhiều doanh nghiệp chưa thể và chưa muốn vay vốn đầu tư làm ăn vì chưa lường được chiều hướng phát triển, do đó tăng trưởng tín dụng cả năm chỉ vào khoảng 25%.

    Vấn đề nằm chính ở chỗ hạn mức tín dụng đang góp phần làm tăng thêm sự méo mó của việc phân bổ nguồn lực, khiến cho dòng vốn không lưu chuyển một cách thông suốt đến những nơi cần vốn và sử dụng vốn có hiệu quả.

    Khẩu hiệu ưu tiên cho doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu, cho các dự án trọng điểm, cho thu mua cá ba sa, thu mua lúa gao... có vẻ đúng, nhưng liệu các doanh nghiệp làm hàng thay thế nhập khẩu, các dự án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam tạo nên tăng trưởng cao và công ăn việc làm nhiều, các sản phẩm như cà phê, cao su, hồ tiêu, hạt điều? có đáng được quan tâm đáp ứng nhu cầu về vốn không?

    Định hướng tăng trưởng tín dụng để bảo đảm an toàn hệ thống và giảm bớt áp lực lạm phát là cần thiết, và ở Việt Nam mức tăng trưởng này nên dưới 25% cho cả hệ thống trong những năm tới.

    Song quản lý, điều hành mức tăng trưởng này phải bằng các giải pháp mềm mà chặt, như lãi suất, dự trữ bắt buộc, hệ số an toàn vốn, tỉ lệ nợ xấu, mức trích lập dự phòng rủi ro, các chuẩn mực khác về an toàn thanh khoản và khả năng chi trả?

    Nếu quá thiên về mức tăng dư nợ tín dụng so với hạn mức chung trong điều hành vĩ mô, sẽ không chỉ làm mất đi cơ hội tiếp cận vốn của những doanh nghiệp có khả năng kinh doanh hiệu quả (kể cả doanh nghiệp kinh doanh bất động sản), mà còn tạo cơ hội tăng trưởng nóng cho những tổ chức tín dụng không hội đủ các chuẩn mực an toàn cần thiết, gây nên rủi ro cho toàn hệ thống.

    Thứ sáu, chính sách tài khóa cần chia lửa nhiều hơn nữa với chính sách tiền tệ, để giảm bớt gánh nặng cho chính sách tiền tệ trong ứng phó với lạm phát và duy trì đà tăng trưởng, hạn chế bớt việc phải thắt chặt tiền tệ quá mức hoặc nới lỏng quá mức cần thiết.

    Cần giảm mức bội chi ngân sách cao hơn, chứ không thể tiếp tục bội chi xấp xỉ 5% GDP kéo dài trong nhiều năm qua. Bội chi ngân sách năm 2008 vẫn là 4,95% GDP trong bối cảnh lạm phát cao và nguồn thu tăng khá so với dự toán, chứng tỏ chương trình tài khóa chưa thực sự bị siết chặt. Chỉ tiêu bội chi 4,8% GDP trong dự toán ngân sách 2009 là chưa hợp lý.

    Cần cắt giảm mạnh hơn đầu tư công, đặt biệt là đầu tư của khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng nguồn thu từ ngân sách hoặc bằng nguồn khác nhưng quy cho đến cùng vẫn là gánh nặng ngân sách. Cho đến nay, việc cắt giảm đầu tư công vẫn chưa có các tiêu chí cụ thể, chưa được định đoạt từ trên xuống, mà chủ yếu dựa vào sự hưởng ứng từ dưới lên.

    Có thực sự cắt giảm mạnh đầu tư công cho quá nhiều dự án được coi là trọng điểm, nhưng chưa hẳn đã thật sự cần thiết, mới có chỗ dựa cho đầu tư phát triển khối dân doanh, ngăn chặn nguy cơ đình đốn, thất nghiệp gia tăng.

    Nên dùng một phần nguồn thu tăng lên, chẳng hạn tăng thuế nhập khẩu xăng dầu mà vẫn có thể hạ đáng kể giá bán so với hiện nay (giá xăng bán lẻ tại Mỹ ngày 21/10/208 là 2,85 USD một gallon, tương đương 12.600 đồng/lít với tỉ giá VND/USD là 16.650; giá này giảm từ mức đỉnh là 4,15 USD/gallon) để lập quỹ dự phòng hỗ trợ tài chính cho các tổ chức tín dụng, mua lại nợ xấu?

    Nên xây dựng và triển khai thực hiện một phương án trọn gói về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân để kích cầu trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và mở rộng sản xuất kinh doanh.

    Một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định trong mọi định hướng sẽ là nền tảng để doanh nghiệp hoạch định chương trình, dự án kinh doanh, tiếp cận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, để đạt lợi nhuận cao và bền vững.

    Lê Đức Thúy
    (Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước)
    Theo VnEconomy
  3. New_beginning1984

    New_beginning1984 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    18/11/2002
    Đã được thích:
    0
    Tín dụng bất động sản: Càng giảm dư nợ, rủi ro càng tăng

    Khá nhiều khách hàng từng bỏ tiền mua căn hộ của một dự án có vị trí đắc địa tại Hà Nội đang lo sốt vó vì thời hạn trả nợ ngân hàng đã gần kề mà thị trường bất động sản (BĐS) vẫn chưa khởi sắc, kế hoạch bán lại suất mua coi như đổ bể, giờ NĐT chỉ mong thu hồi được tiền gốc và đủ trả lãi ngân hàng, nhưng cũng không dễ kiếm người có năng lực tài chính để mua. Tương tự, đã có doanh nghiệp thực hiện tới 70% móng mà công trình vẫn dở dang vì thiếu vốn, không bán được nhà, nợ vay ngân hàng càng khó trả.

    Trong một báo cáo mới đây của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, các chuyên gia cho rằng, tháo gỡ khó khăn cho tín dụng BĐS chính là tháo gỡ khó khăn cho bản thân các ngân hàng trước nguy cơ nợ xấu gần kề. Ngân hàng giảm dư nợ BĐS không có nghĩa là giảm rủi ro cho mình, mà thậm chí tác dụng là ngược lại.

    Mỗi căn hộ tại dự án trên có diện tích khá lớn, khoảng 150 m2, riêng giá gốc mua từ chủ đầu tư cũng tới gần 4 tỷ đồng, nếu vay ngân hàng để ôm suất mua mà không bán được, áp lực trả nợ ngân hàng là rất lớn. Tại một cuộc hội thảo mới đây, Tiến sỹ Võ Trí Thành, Trưởng ban Nghiên cứu chính sách hội nhập (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương) cho rằng, mối quan hệ giữa thị trường BĐS với ngân hàng ở Việt Nam vẫn chưa rõ ràng và minh bạch, đây chính là một trong những rủi ro khiến nợ xấu của hệ thống ngân hàng có thể trở nên nghiêm trọng hơn.

    Thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, hiện có khoảng 115.000 tỷ đồng cho vay trực tiếp từ hệ thống ngân hàng vào BĐS, chiếm khoảng 9,15% tổng dư nợ, cộng với gần 500.000 tỷ đồng tài sản cho vay thế chấp bằng BĐS ở Việt Nam. Vì vậy, chỉ cần một phần nhỏ trong số đó biến thành nợ xấu cũng là cả chục ngàn tỷ đồng. Đây là con số rất lớn đối với ngân sách của Việt Nam cũng như là khả năng can thiệp của NHNN.

    Đề cập đến vấn đề này, lãnh đạo các NHTM cho biết, ngân hàng họ đều có những quy trình tín dụng chặt chẽ đối với cho vay BĐS. Khi cho vay, ngân hàng đều thẩm định ở mức an toàn tối đa, thông thường, với một miếng đất có giá thị trường 100, các ngân hàng chỉ định giá 50 và cho vay 70% của 50 đó nên mức độ rủi ro rất thấp. Hơn nữa, tại các thành phố lớn của Việt Nam, BĐS mất giá không đều, nhiều khu vực vẫn giữ giá nên lo ngại về các khoản vay không đến mức quá trầm trọng.

    Nhưng nhóm chuyên gia của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia cho rằng, rủi ro nằm ở chỗ, các ngân hàng đồng loạt quay lưng với cho vay BĐS khiến cho thị trường này không "tan băng" được, việc thanh toán các khoản vay thế chấp bằng BĐS gặp khó khăn. Ngay cả trường hợp có các tài sản thế chấp khác đảm bảo thì ngân hàng cũng không dễ thanh lý để thu hồi vốn kịp thời.

    Trong khi đó, theo báo cáo của Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN) hôm 24/10, vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng dư thừa đang vào khoảng 50.000 tỷ đồng. Lãi suất tiền đồng chào bán qua đêm trên thị trường liên ngân hàng giảm mạnh, từ 13%/năm xuống 10,33%/năm. Trước tình hình như vậy, ông Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng (NHNN) cho rằng, các ngân hàng có thể cơ cấu lại lãi suất theo rủi ro để từ đó có hình thức lãi suất khác nhau với từng đối tượng cho vay. Những dự án được đánh giá tốt, đã hoàn thành 80 - 90% nhưng thiếu vốn, ngân hàng có thể tái cấu trúc khoản nợ để họ có thể vay thêm nhằm hoàn thành dự án đúng quy định, lúc đó mới có thể chuyển cho nhà đầu tư thứ cấp. Như vậy, doanh nghiệp BĐS sẽ thu được tiền và ngân hàng thì thu được nợ. Ở lĩnh vực cho vay tiêu dùng, nếu người dân có nhu cầu thật có thể vay 50% trị giá BĐS định mua, với lãi suất vừa phải, góp phần tạo tính thanh khoản cho thị trường.

    Các chuyên gia cũng đề nghị Nhà nước cần lưu ý thành lập quỹ dự phòng để đối phó với khó khăn của các NHTM đã cho vay BĐS. "Với thị trường tài chính, chỉ cần chậm một bước, chi phí để chống đỡ rủi ro có thể tốn gấp 10 lần. Đừng nghĩ là các khoản thế chấp còn an toàn mà không hành động. Chúng ta phải chủ động đặt ra bài toán và giải bằng nhiều cách khác nhau", ông Nghĩa nói.

    "Nợ khó đòi của các ngân hàng nhóm 4 + 5 tính đến hết tháng 9/2008 là 30.000 tỷ đồng. Trong khi đó, dự phòng rủi ro của toàn hệ thống tính đến hết tháng 9 là 22.000 tỷ đồng. Những DN có nợ xấu phải làm hồ sơ chuẩn xác và nếu do yếu tố khách quan của thị trường sẽ được ngân hàng xem xét, thậm chí còn có thể xóa nợ".

    (Theo ông Lê Xuân Nghĩa)
    ĐTCK
  4. New_beginning1984

    New_beginning1984 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    18/11/2002
    Đã được thích:
    0
    Câu hỏi lớn hậu cắt giảm lãi suất của FED

    (Dân trí) - Sau quyết định cắt giảm lãi suất cơ bản đồng USD xuống 1%, nhiều chuyên gia kinh tế nhận xét: "FED dường như đang đổ thêm dầu vào ngọn lửa do chính họ tạo ra".

    Lần gần nhất lãi suất được hạ xuống mức này là vào tháng 6/2003. Sau đó, các công ty và cá nhân tranh thủ vay tiền, vì thế sau đó FED đã 17 lần tăng lãi suất từ tháng 6/2004 cho đến tháng 6/2006 để kiềm chế lạm phát.

    Mỗi thời điểm có những đặc điểm khác nhau, năm 2003, kinh tế Mỹ mới thoát khỏi khủng hoảng còn lần nay, kinh tế Mỹ đang suy yếu.

    Người tiêu dùng đang phải trải qua thời kỳ lạm phát tăng cao, giá nhà đất hạ. Họ ngày một lo lắng về triển vọng của nền kinh tế khi thị trường chứng khoán từ đầu năm đến nay mất 36% giá trị.

    Các ngân hàng sẽ lại tiến hành hạ mức lãi suất cho vay sau động thái của FED, tuy nhiên họ không cho vay với sự hào hứng như cách đây 2 năm. Ngay cả với những người có khả năng tài chính tốt cũng đang phải trải qua một quá trình vay tiền đầy khó khăn.

    Tuyên bố giảm lãi suất cơ bản của FED khiến người ta liên tưởng đến một tương lai đầy u ám, khả năng một đợt cắt giảm lãi suất vào tháng 12 là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Thị trường kỳ vọng lãi suất sẽ tiếp tục được cắt giảm 0,25 cho đến 0,5 điểm phần trăm.

    Các nhà hoạch định chính sách kinh tế lo lắng là có lý khi họ đã cố gắng hết sức để hỗ trợ hệ thống tài chính bằng việc bơm hàng nghìn tỷ USD vào hệ thống, đáng chú ý nhất là kế hoạch 700 tỷ USD để mua lại cổ phần tại ngân hàng và mua lại tài sản có vấn đề.

    Tuy vậy các chuyên gia kinh tế vẫn chú ý nhiều đến bình luận của FED về lạm phát trong thông báo phát đi, theo đó Ngân hàng Trung ương đã bớt quan tâm đến khả năng hồi phục hệ thống tài chính hiện nay sẽ có thể dẫn tới lạm phát tăng cao vào năm sau.

    Quan điểm của FED như sau: ?oXét đến tình hình gần đây giá năng lượng, giá hàng hóa hạ và triển vọng kinh tế không mấy sáng sủa, chúng tôi cho rằng lạm phát sẽ dịu đi, giá cả sẽ ổn định?.

    Một số chuyên gia kinh tế chỉ ra sự nguy hiểm của quan điểm này: ?oFED đang đổ thêm dầu vào lửa, ngọn lửa do chính FED tạo ra và nay họ đang lờ đi thực tế. Giá hàng hóa và lạm phát rồi sẽ lại tăng cao do chính chính sách tiền tệ hiện nay?.

    Và cuối cùng, người tiêu dùng sẽ phải chịu ảnh hưởng lớn nhất của khủng hoảng tài chính.

    Dân trí
  5. New_beginning1984

    New_beginning1984 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    18/11/2002
    Đã được thích:
    0
    Giải ngân chờ... lãi suất

    Trong số khách hàng tìm đến ngân hàng thì không phải ai cũng đáp ứng được điều kiện đưa ra từ phía ngân hàng.

    Tiến độ giải ngân vốn của nhiều ngân hàng vẫn tăng chậm, kể cả khi lãi suất cho vay giảm sâu sau khi Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất cơ bản xuống 13%/năm.

    Theo các ngân hàng, doanh nghiệp vẫn ngại mức lãi suất cho vay dao động trong khoảng 17 - 19,5%/năm hiện nay, họ tiếp tục xem xét diễn biến lãi suất chờ ngân hàng giảm thêm.

    Riêng khách hàng cá nhân vay vốn để mua nhà, đất, kinh doanh chứng khoán hay tiêu dùng lúc này cũng là điều không thể, vì lãi suất đầu ra vẫn là rào cản đến với ngân hàng.

    Đại diện Ngân hàng ACB cho biết, sau gần 2 tháng đẩy mạnh vốn cho vay, với tổng ngân khoản đợt đầu 5.000 tỷ đồng trong kế hoạch 15.000 tỷ đồng, Ngân hàng mới giải ngân được 2.500 tỷ đồng cho khách hàng, trong đó đa phần là doanh nghiệp.

    Riêng 500 tỷ đồng dành hỗ trợ cho khách hàng cá nhân có thu nhập ổn định mua nhà trả góp, ACB cho biết, vẫn đẩy mạnh cho vay, lãi suất áp dụng tối đa 19,5%/năm và tối thiểu dưới 19%/năm, nhưng trên thực tế giải ngân tương đối chậm.

    Theo Eximbank, trong 3.000 tỷ đồng đưa ra đợt 2 hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu bằng tiền đồng theo lãi suất USD (dao động 6,5 - 6,8%/năm) từ cuối tháng 9/2008 đến nay, Ngân hàng mới giải ngân được 1.000 tỷ đồng; 3.000 tỷ đồng hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, Eximbank cũng giải ngân được tỷ lệ tương tự.

    Hiện Eximbank vẫn triển khai cho vay bất động sản tiêu dùng theo lãi suất điều chỉnh giảm dần. Thế nhưng, theo một lãnh đạo Eximbank, tiến độ giải ngân vốn khá chậm so với loại hình tín dụng dành cho doanh nghiệp.

    Còn với Sacombank, trong tổng hạn mức 300 tỷ đồng đợt đầu dành hỗ trợ nhà đầu tư kinh doanh chứng khoán, kể từ cuối tháng 8/2008 đến nay, Ngân hàng cũng chỉ giải ngân được 30 tỷ đồng (bằng 10%). Tương tự, trong tổng số 800 tỷ đồng hỗ trợ nhà đầu tư kinh doanh chứng khoán, sau hơn 1 tháng triển khai, Eximbank mới giải ngân được gần chục tỷ đồng.

    Đại diện CTCK Gia Quyền (EPS) - đơn vị liên kết cùng Eximbank hỗ trợ vốn cho nhà đầu tư cho biết, trong bối cảnh TTCK đang diễn biến phức tạp, dường như nhà đầu tư không còn mặn mà với dịch vụ cầm cố chứng khoán.

    Phó giám đốc một ngân hàng cổ phần tại TP. HCM cho rằng, thời điểm này, không phải khách hàng không có nhu cầu về vốn, nhưng với khách hàng đáp ứng được yêu cầu siết chặt tín dụng đưa ra từ phía ngân hàng lại chưa muốn vay.

    Trong khi đó, số lượng khách hàng tìm đến ngân hàng thì không phải ai cũng đáp ứng được điều kiện đưa ra từ phía ngân hàng. So với đầu tháng, lãi suất cho vay của các ngân hàng hiện giảm đáng kể, thấp hơn 1 - 3%/năm.
    Thế nhưng, theo tính toán của nhiều doanh nghiệp, sử dụng vốn ngân hàng để mở rộng sản xuất, kinh doanh lúc này lãi ít, thậm chí nguy cơ lỗ tăng cao, vì áp lực lãi suất vẫn đè nặng.

    Theo ông Trần Phương Bình, Tổng giám đốc DongA Bank, mức lãi suất đầu vào và đầu ra đang hạ dần sẽ giảm bớt áp lực cho người vay vốn. Tại DongA Bank, sau khi lãi suất cơ bản hạ xuống 13%/năm, Ngân hàng đã điều chỉnh lãi suất cho vay với mức bình quân 18%/năm. Tuy nhiên, ông Bình cũng cho rằng, muốn cho vay lúc này nhiều khách hàng cũng không dám vay, mà nguyên nhân chính vẫn là rào cản lãi suất.

    Kế hoạch đưa vốn ra thị trường của các ngân hàng dịp cuối năm đang lên cao, với hàng chục nghìn tỷ đồng, kèm lời chào mời lãi suất cho vay giảm dần. Thế nhưng, thực tế lãi suất cho vay vẫn khó giảm xuống mức 16%/năm.

    Đối với các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ thì lãi suất cho vay áp dụng phổ biến mức đụng trần (19,5%) mới có lãi, do phải huy động vốn với chi phí cao hơn nên dư nợ cho vay khó tăng.

    Theo Vân Linh
    ĐTCK
  6. gdsanhdieu

    gdsanhdieu Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/07/2008
    Đã được thích:
    847
    bài viết hay, không biết đúng sai của ngày 15 thế nào vẫn vote5* cho bác.
  7. New_beginning1984

    New_beginning1984 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    18/11/2002
    Đã được thích:
    0
    Ưu tiên tăng trưởng hay chống lạm phát?

    Vẫn còn những ý kiến trái chiều về chính sách nới lỏng tín dụng cho ngân hàng vừa được NHNN ban hành tuần trước.

    Các chính sách tiền tệ nhằm nới lỏng tín dụng cho ngân hàng cũng như hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp vừa được Ngân hàng Nhà nước ban hành tuần trước hiện vẫn tạo ra những ý kiến trái chiều về việc nên ưu tiên mục tiêu tăng trưởng hay chống lạm phát trong thời gian tới.

    Tại hội thảo về tác động của khủng hoảng tài chính thế giới đối với Việt Nam ngày 28-10, ông Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng thuộc Ngân hàng Nhà nước, cho rằng các ngân hàng Việt Nam đã nới lỏng tín dụng trong một thời gian khá dài, gây nên lạm phát cao, và buộc Chính phủ phải thực hiện các biện pháp tiền tệ thắt chặt, từ đó đẩy các doanh nghiệp từ sản xuất cho đến dịch vụ vào tình trạng đình đốn hiện nay.
    Ông Nghĩa thừa nhận hiện đang có hai luồng suy nghĩ, một là hạ lãi suất, nới lỏng tín dụng để hỗ trợ doanh nghiệp, hướng khác lại cho rằng nên tiếp tục thận trọng, tăng lãi suất cơ bản hoặc ít nhất là giữ mức lãi suất như hiện nay.
    ?oCá nhân tôi, tôi cho rằng đã đến lúc có thể nới lỏng một cách thận trọng chính sách tiền tệ bởi vì chúng ta hiện đang xét đến lạm phát của quá khứ. Cần phải nhìn vào lạm phát kỳ vọng trong những tháng tới đây, mà theo tôi có khả năng ở mức trên dưới 10%, dựa theo số liệu trong nội bộ Ngân hàng Nhà nước?, ông Nghĩa lập luận.

    Theo ông Nghĩa, tốc độ tăng cung ứng tiền cho nền kinh tế năm nay rất thấp, chỉ khoảng 11-12% trong tháng 10 trong khi tỷ lệ này là 43-44% hồi năm 2007. Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2007 là 54%, đầu năm 2008 Việt Nam đưa chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng là 30%, nhưng đến nay tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng chỉ mới ở mức 18%, và tăng trưởng âm trong vài tháng qua.

    ?oLạm phát đang giảm rất nhanh và có thể dẫn tới thiểu phát, đây là điều kiện tốt để nới lỏng tín dụng. Chỉ số lạm phát sẽ khó tăng cao vì tình hình kinh tế thế giới trì trệ sẽ kéo kinh tế Việt Nam trì trệ theo?, ông Nghĩa nói.

    Đồng tình với ý kiến của ông Nghĩa, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thúy và hiện là thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia nhấn mạnh: ?oNên coi việc ngăn ngừa chiều hướng đình trệ sản xuất kinh doanh do cộng hưởng khủng hoảng tài chính thế giới với chiều hướng suy giảm đà tăng trưởng trong nước là nhiệm vụ trung tâm cho những tháng cuối năm 2008 và trong năm 2009?.

    Theo ông Thúy, nguy cơ suy giảm sản xuất trong nước lớn hơn nhiều so với suy nghĩ của nhiều người, thể hiện qua việc doanh nghiệp ít vay vốn ngân hàng mặc dù lãi suất có giảm và ngân hàng sẵn sàng cho vay. ?oTuy nhiên, kiểm soát lạm phát vẫn là nhiệm vụ ưu tiên theo nghĩa không được lơ là trong thời gian tới,? ông Thúy nói.

    Đứng ở góc nhìn khác, ông Vũ Thành Tự Anh, Phó giám đốc phụ trách nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại TPHCM, nhấn mạnh: ?oKhông ai muốn lãi suất cao, nhưng ở một đất nước lạm phát 25% như Việt Nam thì hạ lãi suất sẽ khó có thể kềm chế lạm phát. Mà nếu không kềm chế được lạm phát, thì tương lai tăng trưởng dài hạn của Việt Nam sẽ gặp khó khăn?.
    Ông Tự Anh cho rằng các doanh nghiệp trong nước không phải đang thiếu vốn để hoạt động mà là tín dụng được phân bổ một cách không đồng đều và kém hiệu quả.
    Ông đơn cử nếu như khoản hỗ trợ Vinashin vay 20.000 tỉ đồng được phân bổ lại cho doanh nghiệp dân doanh thì sẽ có rất nhiều doanh nghiệp tư nhân được hưởng lợi trong khi Vinashin là khối doanh nghiệp quốc doanh hiệu quả đầu tư rất thấp và dàn trải.
    Theo ông Tự Anh, Việt Nam đã trải qua những bất ổn vĩ mô và đã có những dấu hiệu tích cực tuy nhiên chỉ là dấu hiệu ban đầu và chưa thể khẳng định rằng Việt Nam đã vượt qua khủng hoảng.
    Vì thế, chống lạm phát để nền kinh tế phát triển an toàn, ổn định vẫn nên là mục tiêu hàng đầu của Việt Nam hiện nay và Nhà nước cũng nên điều chỉnh mức độ kỳ vọng vào tốc độ tăng trưởng thời gian tới, theo ông khó có thể đạt được 7% trong năm 2009.

    Theo Thuỷ Triều
    TBKTSG
  8. New_beginning1984

    New_beginning1984 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    18/11/2002
    Đã được thích:
    0
    Tín dụng bất động sản: Càng giảm dư nợ, rủi ro càng tăng
    Thứ năm, 30/10/2008, 22:39 GMT+7

    Khá nhiều khách hàng từng bỏ tiền mua căn hộ của một dự án có vị trí đắc địa tại Hà Nội đang lo sốt vó vì thời hạn trả nợ ngân hàng đã gần kề mà thị trường bất động sản (BĐS) vẫn chưa khởi sắc, kế hoạch bán lại suất mua coi như đổ bể, giờ NĐT chỉ mong thu hồi được tiền gốc và đủ trả lãi ngân hàng, nhưng cũng không dễ kiếm người có năng lực tài chính để mua. Tương tự, đã có doanh nghiệp thực hiện tới 70% móng mà công trình vẫn dở dang vì thiếu vốn, không bán được nhà, nợ vay ngân hàng càng khó trả.

    Trong một báo cáo mới đây của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, các chuyên gia cho rằng, tháo gỡ khó khăn cho tín dụng BĐS chính là tháo gỡ khó khăn cho bản thân các ngân hàng trước nguy cơ nợ xấu gần kề. Ngân hàng giảm dư nợ BĐS không có nghĩa là giảm rủi ro cho mình, mà thậm chí tác dụng là ngược lại.

    Mỗi căn hộ tại dự án trên có diện tích khá lớn, khoảng 150 m2, riêng giá gốc mua từ chủ đầu tư cũng tới gần 4 tỷ đồng, nếu vay ngân hàng để ôm suất mua mà không bán được, áp lực trả nợ ngân hàng là rất lớn. Tại một cuộc hội thảo mới đây, Tiến sỹ Võ Trí Thành, Trưởng ban Nghiên cứu chính sách hội nhập (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương) cho rằng, mối quan hệ giữa thị trường BĐS với ngân hàng ở Việt Nam vẫn chưa rõ ràng và minh bạch, đây chính là một trong những rủi ro khiến nợ xấu của hệ thống ngân hàng có thể trở nên nghiêm trọng hơn.

    Thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, hiện có khoảng 115.000 tỷ đồng cho vay trực tiếp từ hệ thống ngân hàng vào BĐS, chiếm khoảng 9,15% tổng dư nợ, cộng với gần 500.000 tỷ đồng tài sản cho vay thế chấp bằng BĐS ở Việt Nam. Vì vậy, chỉ cần một phần nhỏ trong số đó biến thành nợ xấu cũng là cả chục ngàn tỷ đồng. Đây là con số rất lớn đối với ngân sách của Việt Nam cũng như là khả năng can thiệp của NHNN.

    Đề cập đến vấn đề này, lãnh đạo các NHTM cho biết, ngân hàng họ đều có những quy trình tín dụng chặt chẽ đối với cho vay BĐS. Khi cho vay, ngân hàng đều thẩm định ở mức an toàn tối đa, thông thường, với một miếng đất có giá thị trường 100, các ngân hàng chỉ định giá 50 và cho vay 70% của 50 đó nên mức độ rủi ro rất thấp. Hơn nữa, tại các thành phố lớn của Việt Nam, BĐS mất giá không đều, nhiều khu vực vẫn giữ giá nên lo ngại về các khoản vay không đến mức quá trầm trọng. (không tin được, ka ka... bọn tín dụng tham như mõ)

    Nhưng nhóm chuyên gia của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia cho rằng, rủi ro nằm ở chỗ, các ngân hàng đồng loạt quay lưng với cho vay BĐS khiến cho thị trường này không "tan băng" được, việc thanh toán các khoản vay thế chấp bằng BĐS gặp khó khăn. Ngay cả trường hợp có các tài sản thế chấp khác đảm bảo thì ngân hàng cũng không dễ thanh lý để thu hồi vốn kịp thời.

    Trong khi đó, theo báo cáo của Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN) hôm 24/10, vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng dư thừa đang vào khoảng 50.000 tỷ đồng. Lãi suất tiền đồng chào bán qua đêm trên thị trường liên ngân hàng giảm mạnh, từ 13%/năm xuống 10,33%/năm. Trước tình hình như vậy, ông Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng (NHNN) cho rằng, các ngân hàng có thể cơ cấu lại lãi suất theo rủi ro để từ đó có hình thức lãi suất khác nhau với từng đối tượng cho vay. Những dự án được đánh giá tốt, đã hoàn thành 80 - 90% nhưng thiếu vốn, ngân hàng có thể tái cấu trúc khoản nợ để họ có thể vay thêm nhằm hoàn thành dự án đúng quy định, lúc đó mới có thể chuyển cho nhà đầu tư thứ cấp. Như vậy, doanh nghiệp BĐS sẽ thu được tiền và ngân hàng thì thu được nợ. Ở lĩnh vực cho vay tiêu dùng, nếu người dân có nhu cầu thật có thể vay 50% trị giá BĐS định mua, với lãi suất vừa phải, góp phần tạo tính thanh khoản cho thị trường.

    Các chuyên gia cũng đề nghị Nhà nước cần lưu ý thành lập quỹ dự phòng để đối phó với khó khăn của các NHTM đã cho vay BĐS. "Với thị trường tài chính, chỉ cần chậm một bước, chi phí để chống đỡ rủi ro có thể tốn gấp 10 lần. Đừng nghĩ là các khoản thế chấp còn an toàn mà không hành động. Chúng ta phải chủ động đặt ra bài toán và giải bằng nhiều cách khác nhau", ông Nghĩa nói.
    (Nguồn: ĐTCK, 30/10)



    Được new_beginning1984 sửa chữa / chuyển vào 09:24 ngày 31/10/2008
  9. geminidear

    geminidear Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    12/03/2006
    Đã được thích:
    16.963
    quá nhiều tin tốt
  10. New_beginning1984

    New_beginning1984 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    18/11/2002
    Đã được thích:
    0
    Quá sớm để lo giảm phát
    30/10/2008 2:57:44 PM


    Sau khi Tổng cục Thống kê công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tháng 10 giảm 0,19% so với tháng 9, đã xuất hiện một số ý kiến cho rằng nguy cơ giảm phát đang tới gần, và vì vậy cần nới lỏng chính sách tiền tệ (giảm lãi suất và tăng tín dụng) và kích cầu (giảm thuế hay tăng chi tiêu của Chính phủ).



    Tuy nhiên, từ cả góc độ lý thuyết lẫn thực tiễn, nỗi lo giảm phát ở Việt Nam hiện nay là thiếu cơ sở. Do vậy, Chính phủ cần hết sức thận trọng trước những gợi ý chính sách xuất phát từ nỗi lo không chính đáng này.

    Đầu tiên, cần hiểu thế nào là giảm phát. Giảm phát (deflation) được định nghĩa là tình trạng giảm giá phổ biến trong nền kinh tế. Điều này có nghĩa là nếu giá hàng hóa hay dịch vụ trong một số khu vực của nền kinh tế suy giảm, thì mặc dù điều đó có thể gây khó khăn cho những nhà sản xuất trong các khu vực này, nhưng lại chưa phải là giảm phát, và do đó nhìn chung không phải là vấn đề đối với toàn nền kinh tế.

    Nhìn vào số liệu chi tiết CPI của Việt Nam trong thời gian gần đây, có thể thấy rằng chưa hề có dấu hiệu của tình trạng giảm giá phổ biến trong nền kinh tế. Cụ thể là CPI của 10 tháng đầu năm 2008 so với cùng kỳ năm 2007 vẫn ở mức rất cao 23,15%.

    Hơn nữa, khi CPI trong tất cả các tháng từ đầu năm đến nay so với cùng kỳ năm ngoái luôn duy trì ở mức trên dưới 20% thì nỗi lo lớn nên dành cho lạm phát chứ không phải giảm phát.

    Ngay cả trong tháng 10 khi CPI giảm nhẹ 0,19% so với tháng 9 nhờ sự giảm giá của ba nhóm hàng: hàng ăn và dịch vụ ăn uống (-0,42%), nhà ở và vật liệu xây dựng (-0,08%), và phương tiện đi lại, bưu điện (-0,94%) thì tất cả bảy nhóm hàng còn lại vẫn đều tăng giá tuy không nhiều.

    Hơn nữa, nếu nhìn sâu hơn một chút thì thấy việc giảm giá của ba nhóm hàng kể trên chủ yếu nhờ vào yếu tố khách quan (giá dầu thế giới giảm mạnh) và yếu tố có tính thời vụ (vụ hè thu thắng lợi).

    Điều này có nghĩa là sự giảm nhẹ của CPI thiếu tính bền vững vì một mặt, nó có thể bị đảo ngược khi yếu tố khách quan và thời vụ không còn; và mặt khác, cũng chưa đủ cơ sở để khẳng định rằng kết quả này có được chỉ là từ chính sách.

    Bây giờ hãy thử xem xét các nguyên nhân có thể gây nên tình trạng giảm phát. Về mặt lý thuyết, giảm phát có thể xảy ra bởi một trong ba nguyên nhân. Thứ nhất là do tổng cầu sụt giảm, cụ thể là sự suy giảm mạnh của sức mua khiến người bán phải hạ giá để tìm đủ người mua. Thứ hai là do tổng cung đột nhiên tăng, chẳng hạn nhờ vào việc năng suất được cải thiện nhanh chóng làm giảm giá thành.

    Trong lịch sử, có thể nói giảm phát chưa bao giờ là hệ quả của tổng cung tăng nhanh, mà nếu có đi chăng nữa thì việc tăng tổng cung thường dẫn tới sự tăng trưởng chứ không phải là suy thoái kinh tế. Và cuối cùng, giảm phát có thể đồng thời do hai nguyên nhân trên gây ra.

    Như vậy, nguyên nhân chủ yếu của giảm phát là do tổng cầu sụt giảm, kéo theo suy thoái kinh tế (tốc độ tăng trưởng âm) và thất nghiệp. Từ kết luận này nhìn lại nền kinh tế Việt Nam sẽ thấy rằng, với tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm 2008 ước đạt 6,5% thì tuy nền kinh tế đã tăng trưởng chậm lại nhưng chưa hề có dấu hiệu suy thoái, tức là chưa có tình trạng giảm phát.

    Vấn đề cơ bản của nền kinh tế Việt Nam từ nay đến cuối năm 2008 và cả năm 2009 vẫn là bình ổn kinh tế vĩ mô, trong đó chống lạm phát là ưu tiên hàng đầu. Điều này có nghĩa là cả chính sách tiền tệ và tài khóa cần được thắt chặt một cách đúng đắn.

    Thử lấy một số ví dụ để bàn về tính đúng đắn của chính sách thắt chặt tiền tệ. Mặc dù rất nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp dân doanh đang vô cùng khó khăn trong việc tiếp cận với tín dụng ngân hàng.

    Nhưng điều này không hẳn là nguyên nhân của tình trạng khan hiếm tín dụng trong tổng thể nền kinh tế. Mức tăng tín dụng 30%/năm không hề thấp đối với một nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ trên dưới 7% như Việt Nam hiện nay.

    Vấn đề của hệ thống ngân hàng ở Việt Nam vì vậy không phải là tình trạng khan hiếm tín dụng mà là phân bổ tín dụng kém hiệu quả và thiếu cẩn trọng. Khi một lượng lớn tín dụng ngân hàng được đổ vào hoạt động đầu cơ bất động sản và chứng khoán đầy rủi ro thì tất nhiên là tín dụng dành cho hoạt động sản xuất vốn ổn định và bền vững hơn sẽ bị suy giảm đáng kể.

    Tương tự như vậy, khi hàng chục ngàn tỉ đồng được sử dụng để cứu trợ cho các tập đoàn nhà nước thì cơ hội tiếp cận tín dụng của hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn doanh nghiệp dân doanh sẽ bị từ chối.

    Thêm vào đó là cách áp đặt hạn mức tín dụng 30% cho toàn hệ thống ngân hàng trên thực tế theo phương châm ?omột vài người ốm bắt cả làng uống thuốc? mà không dựa vào những tiêu chí có tính chuẩn mực như hệ số đủ vốn (theo tiêu chuẩn Basel) hay trình độ quản lý rủi ro của từng ngân hàng cụ thể.

    (Theo VŨ THÀNH TỰ ANH - Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright TBKTSG)

    http://www.vinabull.com/NewsDetail.aspx?newsid=19374&cat_id=6



    Được new_beginning1984 sửa chữa / chuyển vào 09:53 ngày 31/10/2008

Chia sẻ trang này