Dự thảo Chiến lược phát triển logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến 2050

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi VNbroker88, 08/09/2025.

621 người đang online, trong đó có 248 thành viên. 00:13 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 828 lượt đọc và 1 bài trả lời
  1. VNbroker88

    VNbroker88 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    22/04/2013
    Đã được thích:
    768
    Dự thảo Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến 2050 có nhiều định hướng khuyến khích phát triển ngành dịch vụ logistics, đặc biệt logistics xanh.

    Bộ Công Thương đang gấp rút hoàn thiện dự thảo và trình Thủ tướng Chính phủ "Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến 2050", đặc biệt cập nhật mới sau khi sắp xếp, sáp nhập các địa phương.

    [​IMG]

    Dự thảo Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào GDP đạt 6 - 8%.

    Theo Dự thảo Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 do Bộ Công Thương chủ trì xây dựng, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào GDP đạt 6 - 8%.

    Bên cạnh đó, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 60 - 70%, chi phí logistics giảm xuống tương đương 16 - 18% GDP.

    Đến năm 2050, tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào GDP đạt 12 - 15%, tỷ lệ thuê ngoài đạt 70 - 90%, chi phí logistics giảm xuống tương đương 10 - 12%, xếp hạng theo chỉ số LPI trên thế giới đạt thứ 30 trở lên.

    Để đạt được mục tiêu đó, dự thảo Chiến lược định hướng hoàn thiện thể chế pháp luật, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển dịch vụ logistics. Đổi mới quy hoạch, đẩy mạnh đầu tư xây dựng hạ tầng phát triển dịch vụ logistics Việt Nam theo hướng đồng bộ, hiện đại.

    Đồng thời, phát triển thị trường logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, thúc đẩy liên kết vùng kinh tế, hành lang kinh tế, khu vực và quốc tế bảo đảm tăng trưởng bền vững, đồng thời nâng cao chất lượng và xanh hóa các hoạt động dịch vụ logistics dựa trên nền tảng số.

    Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong lĩnh vực dịch vụ logistics. Phát triển nguồn nhân lực logistics chất lượng cao và phong cách cung ứng dịch vụ chuyên nghiệp.

    Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương nhận định, khi được ban hành, Chiến lược này sẽ đưa ra mục tiêu phát triển ngành dịch vụ logistics Việt Nam bền vững, hiệu quả, chất lượng và có giá trị gia tăng cao, có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới, phát huy lợi thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

    Bộ Công Thương cũng sẽ phối hợp với Bộ Xây dựng, các Bộ ngành, địa phương, hiệp hội triển khai một kế hoạch tổng thể để đưa logistics vào cuộc sống, giúp doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn.

    [​IMG]

    Chiến lược đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030 dịch vụ logistics phát triển hiệu quả theo hướng giảm phát thải, chuyển đổi sang các nguồn năng lượng xanh.

    Đáng lưu ý, đề cập tới yêu cầu và xu hướng chuyển đổi xanh trong lĩnh vực logistics, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu cũng cho biết, dự thảo Chiến lược đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030 dịch vụ logistics phát triển hiệu quả theo hướng giảm phát thải, chuyển đổi sang các nguồn năng lượng xanh. Mục tiêu đến năm 2035 dịch vụ logistics tiếp tục phát triển hiệu quả theo hướng giảm phát thải, góp phần đưa phát thải ròng của quốc gia về 0.

    Được biết, dự thảo cũng đưa ra giải pháp đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức, tạo quyết tâm triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển logistics ở cả Trung ương và địa phương. Nâng cao vai trò của các hiệp hội và các doanh nghiệp hạt nhân trong lĩnh vực dịch vụ logistics, thúc đẩy hình thành các chuỗi cung ứng hiện đại, phát triển đa dạng các dịch vụ logistics giá trị gia tăng đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế...

    Cũng đề xuất cơ chế phát triển logistics bền vững, góp phần vào chuỗi cung ứng bền vững, ông Juergen Weber, Chủ tịch Tiểu ban vận tải và hậu cần, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) khuyến nghị, Việt Nam cần tăng tốc phát triển hạ tầng và hiện đại hóa ngành logistics thông qua cơ chế chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho dự án logistics thu hút đầu tư theo đa dạng hình thức và nhận chuyển giao công nghệ. Cơ chế chính sách phát triển và quản lý ngành logistics cũng cần đảm bảo quy hoạch phát triển đồng đều trên cả nước hoặc những vùng trọng điểm tiềm năng, mới có thể khơi thông chuỗi cung ứng logistics.

    Ông Juergen Weber cũng cho rằng trong quá trình thu hút nhà đầu tư nên có cơ chế chính sách ưu tiên những công nghệ mới có khả năng thích ứng và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu để kéo giảm chi phí cho ngành logistics.

    https://diendandoanhnghiep.vn/don-bay-moi-cho-logistics-xanh-10160169.html

    Cảng biển - lợi thế cạnh tranh mới của bất động sản công nghiệp Việt Nam

    https://fireant.vn/bai-viet/cang-bi...ua-bat-dong-san-cong-nghiep-viet-nam/35237467
    Last edited: 08/09/2025
  2. VNbroker88

    VNbroker88 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    22/04/2013
    Đã được thích:
    768
    Cảng biển - lợi thế cạnh tranh mới của bất động sản công nghiệp Việt Nam

    (TBTCO) - Việt Nam đang ngày càng khẳng định vị thế là trung tâm logistics và sản xuất của khu vực, được thúc đẩy bởi sự gia tăng khối lượng hàng hóa toàn cầu và sự dịch chuyển của các chuỗi cung ứng. Với việc các nhà đầu tư ngày càng đề cao yếu tố logistics, hệ thống cảng biển và hạ tầng được đầu tư mạnh mẽ của Việt Nam đang trở thành một điểm cộng lớn, tạo nên lợi thế cạnh tranh đáng kể cho thị trường bất động sản công nghiệp.
    Lợi thế cạnh tranh quốc gia
    Báo cáo Savills Global Occupier Insight – Industrial Focus 2025 (tạm dịch: Savills Toàn cầu – Tiêu điểm ngành Công nghiệp 2025) cho thấy khối lượng hàng hóa toàn cầu đã tăng mạnh vào năm 2024, được thúc đẩy bởi sự tăng trưởng mạnh mẽ trên tất cả các khu vực, tăng 7,3% lên 504,7 triệu TEUs vào năm 2024, dựa trên phân tích 50 cảng lớn nhất thế giới xét về khối lượng hàng hóa. Các cảng biển trên khắp các khu vực đều ghi nhận sự gia tăng hoạt động, mặc dù tốc độ tăng trưởng có sự khác biệt đáng kể.

    Sự tăng trưởng này phản ánh một xu hướng rộng hơn, các công ty trên khắp các châu lục đang đánh giá lại chiến lược chuỗi cung ứng, đa dạng hóa cơ sở sản xuất và tái định vị các trung tâm logistics trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị, sự bất ổn về thuế quan và sự thay đổi của nhu cầu tiêu dùng.

    Trong bối cảnh thay đổi này, Việt Nam đã nổi lên như một cường quốc logistics đang lên, tận dụng một cách chiến lược đường bờ biển dài, thị trường lao động cạnh tranh và các sản phẩm bất động sản công nghiệp ngày càng hiện đại.

    [​IMG]
    Mạng lưới cảng biển của Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nền kinh tế định hướng xuất khẩu. Ảnh: T.L
    Mạng lưới cảng biển của Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nền kinh tế định hướng xuất khẩu. Ở miền Bắc, cảng nước sâu Lạch Huyện đóng vai trò là cửa ngõ thương mại quan trọng cho các tỉnh công nghiệp thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Ở miền Nam, các cảng Cát Lái và Cái Mép – Thị Vải hoạt động như những trung tâm logistics thiết yếu cho Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, kết nối Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu với các tuyến vận tải biển toàn cầu.

    Theo Hiệp hội Cảng biển Việt Nam, các cảng biển của cả nước đã xử lý hơn 22 triệu TEUs vào năm 2024 và con số này được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng đều đặn. Điều khiến mạng lưới cảng biển này đặc biệt có giá trị là sự kết nối chặt chẽ với các khu công nghiệp và khu xuất khẩu lớn, tạo điều kiện cho việc vận chuyển hàng hóa ra thị trường quốc tế một cách nhanh chóng và tiết kiệm chi phí.

    Để thúc đẩy hơn nữa ngành này, vào đầu năm 2025, Thủ tướng đã phê duyệt chủ trương đầu tư dự án cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ với tổng vốn đầu tư tối thiểu 50 nghìn tỷ đồng (1,96 tỷ USD) cho cảng Sài Gòn và Terminal Investment Limited Holding S.A – một công ty con của MSC.
    Gần đây, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc đồng bộ hóa mở rộng cảng biển với phát triển hạ tầng logistics và công nghiệp phụ trợ. Nhờ đó, các cảng nước sâu như Cái Mép – Thị Vải hiện được bao quanh bởi hệ thống logistics hoàn chỉnh, bao gồm các khu công viên logistics, kho ngoại quan và kho lạnh hiện đại, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.

    Tương tự, cảng nước sâu Liên Chiểu, dự kiến hoàn thành vào năm 2025, là cơ sở hạ tầng quan trọng để dịch chuyển logistics vận tải hàng hóa của Đà Nẵng ra khỏi khu vực Tây Nguyên, Lào và Đông Bắc Thái Lan, cho phép kết nối đa phương thức với hành lang logistics.

    Tuy nhiên, tiến độ này không đồng đều. Ông Thomas Rooney, Phó Giám đốc, Dịch vụ Bất động sản Công nghiệp, Savills Hà Nội cho biết, tại một số tỉnh thứ cấp, mặc dù có đất công nghiệp dồi dào và giá cả phải chăng, chất lượng và sự sẵn có của cơ sở hạ tầng logistics hỗ trợ vẫn còn hạn chế. Những thách thức chính bao gồm không gian kho bãi chất lượng cao không đủ, năng lực kho lạnh còn hạn chế và thiếu các liên kết đa phương thức như đường sắt hoặc đường thủy nội địa. Ngoài ra, việc kết nối chặng cuối giữa các cảng biển và các trung tâm sản xuất vẫn cần đầu tư lớn, đặc biệt là ở các khu vực miền Trung và Tây Nguyên.

    Tập trung vào khả năng sẵn sàng về logistics
    Khi các nhà sản xuất toàn cầu dịch chuyển hoạt động, nhiều công ty đang điều chỉnh lại chiến lược lựa chọn địa điểm dựa trên sự gần gũi với các cảng nước sâu và hành lang logistics hiệu quả. Việt Nam đang chứng kiến xu hướng này diễn ra một cách rõ ràng.

    Chẳng hạn, Bà Rịa – Vũng Tàu đang thu hút các khách thuê quy mô lớn là nhờ khả năng tiếp cận trực tiếp với năng lực nước sâu của Cái Mép và các tuyến vận tải biển quốc tế. Ở miền Bắc, Hải Phòng và các khu vực lân cận đang ngày càng được ưa chuộng hơn so với Hà Nội do cơ sở hạ tầng cảng biển và hiệu quả thông quan được cải thiện.

    [​IMG]
    Các cảng biển cần được kết nối chặt chẽ trong một hệ sinh thái logistics đồng bộ. Ảnh: T.L
    Trong khi đó, các cụm công nghiệp mới nổi như Quảng Ninh, Thanh Hóa và Đà Nẵng đang được công nhận không chỉ vì lợi thế về chi phí mà còn vì các dịch vụ logistics ngày càng mở rộng. Các nhà đầu tư đang đánh giá các tỉnh này không chỉ về giá đất và lao động mà còn về khả năng kết nối logistics với các cảng biển và hành lang xuyên biên giới.

    Sự thay đổi trong các ưu tiên của khách thuê hiện nay cho thấy một xu hướng lớn hơn: phát triển công nghiệp tại Việt Nam không chỉ còn xoay quanh đất đai, mà đã chuyển sang tập trung vào khả năng sẵn sàng về logistics và tạo thuận lợi cho thương mại.

    Ông Rooney cũng đề cập rằng một trong những diễn biến mang tính chuyển đổi nhất trong giai đoạn 2024–2025 là việc tái tổ chức hành chính, với một số tỉnh nội địa sáp nhập hoặc tích hợp vào các khu vực ven biển lân cận. Điều này đã giúp các trung tâm công nghiệp trước đây bị kẹp trong đất liền có được quyền tiếp cận trực tiếp với cơ sở hạ tầng thương mại hàng hải.

    Những vụ sáp nhập này không chỉ là về hiệu quả quản lý. Chúng mang lại những lợi ích thực tế cho các nhà sản xuất và nhà đầu tư: chuỗi cung ứng ngắn hơn, chi phí vận chuyển thấp hơn và quy trình xuất khẩu được sắp xếp hợp lý. Một nhà máy trước đây phải phụ thuộc vào các tuyến đường vận tải đường bộ dài nay có thể kết nối nhanh chóng hơn với các cảng biển, khu logistics ngoại quan hoặc các cảng xuất khẩu.

    Đổi lại, điều này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy các hành lang công nghiệp mới, thu hút FDI chất lượng cao hơn và giúp cân bằng sự phát triển khu vực trên toàn quốc. Đối với Việt Nam, những điều này thể hiện cơ hội để phân tán sự tăng trưởng ra khỏi các điểm nóng truyền thống và tạo ra các điểm đến đầu tư mới với khả năng tiếp cận đáng tin cậy đến các dòng chảy thương mại toàn cầu.

    Ông Rooney nhận định: “Sự chuyển đổi công nghiệp và logistics của Việt Nam không diễn ra một cách riêng lẻ; nó liên kết chặt chẽ với những thay đổi toàn cầu trong thương mại, sản xuất và tiêu dùng. Khi các công ty ngày càng ưu tiên khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng, tính trung lập về địa chính trị và sự gần gũi với các thị trường tiêu dùng đang tăng trưởng nhanh, Việt Nam có một vị trí hoàn hảo để hưởng lợi"./.

    Chuyên gia cho rằng cơ hội này không đến một cách tự nhiên. Muốn tận dụng thời cơ, Việt Nam phải đảm bảo các cảng biển của mình không chỉ hiệu quả mà còn được kết nối chặt chẽ trong một hệ sinh thái logistics đồng bộ. Cùng với đó, các khu công nghiệp phải được cung cấp đầy đủ dịch vụ, hạ tầng kết nối và sẵn sàng trở thành địa điểm chiến lược cho các nhà sản xuất quốc tế trong tương lai.


    https://fireant.vn/bai-viet/cang-bi...ua-bat-dong-san-cong-nghiep-viet-nam/35237467

Chia sẻ trang này