FPT - mềm mãi mà không cứng

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi Dao_Duy_Anh, 30/08/2006.

861 người đang online, trong đó có 344 thành viên. 12:13 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 107529 lượt đọc và 855 bài trả lời
  1. Dao_Duy_Anh

    Dao_Duy_Anh Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/05/2005
    Đã được thích:
    1
    Phòng vé Việt nam Airlines

    Hợp đồng phần mềm thương mại đầu tiên của FPT là Hệ thống đặt vé giữ chỗ cho Phòng vé Hàng không Việt nam Hà nội, cuối năm 1990. Trước đó một chút, nhờ nỗ lực của anh Phan Quốc Việt (Việt tròn - nguyên chánh văn phòng PetroViệt nam), Trần Ngọc Trí cũng đã triển khai một cái gì giông giống như chương trình truyền tin cho Ngân hàng Công thương Hải Hưng. Tuy nhiên cũng mới chỉ dừng ở giai đoạn demo.

    [​IMG]

    Quá trình dẫn dắt đến hợp đồng, tôi không được rõ lắm, chi tiết xin hỏi anh Bùi Quang Ngọc (nay là NgocBQ@fpt).

    Phòng vé máy bay lúc đó có thể coi là một tụ điểm, bởi vì vé máy bay cực hiếm, nhất là những chuyến đi Nga. Phòng vé lúc nào cũng đông như hội. Trưởng phòng vé Hà nội lúc đó là chị Phan Hạnh Thỏa, thiếu tá quân đội. Cũng nhờ có công giúp đỡ lớn của chị Thỏa và chị Hòa phó phòng mà chúng tôi mới hoàn thành được chương trình. Nhóm đề án do anh Ngọc chủ trì có tôi, Đinh Thế Phong, Trần Ngọc Trí, Phan Minh Tâm và Cường. Tôi nhớ là làm việc rất bài bản, buổi họp đầu tiên là anh Ngọc trình bày về các tình huống xảy ra deadlock trong quản trị dữ liệu. Với công cụ FoxBase, Trần Ngọc Trí đã tạo ra cả một thư viện những hàm giúp cho chúng tôi có thể trình bày màn hình đẹp chẳng kém gì FoxPro bây giờ. Cũng cụp xòe, có Shadow, Windows, chữ trôi,...

    [​IMG]
    Chương trình được xây dựng trên mạng 10Net. Cũng phải nhắc đến lịch sử mạng này một chút vì dù sao nó cũng là cơ sở cho chương trình thương mại đầu tiên của FPT. Ngay từ khi mới thành lập ISC, anh Công đã khẳng định LAN là tất yếu và do đó chúng ta phải tìm cách xây dựng 1 mạng LAN, ít nhất là tại FPT. Thời gian đã chứng minh là anh rất có lý. Cho đến bây giờ, FPT vẫn chưa có gì cao hơn ngoài việc lắp các mạng LAN. Tôi luôn luôn kính trọng anh Công không phải vì kiến thức mà vì anh là người dám đưa ra các dự báo. Cũng ít người hiểu được vì sao anh lại rời FPT. Còn nhớ khi phân đất tại khu Thủ lệ, anh nói rất tự hào: "Bây giờ có cơ hội để cho con tao được ở gần bọn mày cho có trí thức". Chả là nhà anh ở làng Kim Liên, anh cho là rất nhà quê.

    Theo đề nghị của anh, giữa năm 1989, FPT đã đặt mua 5 card mạng Ethernet của hãng 10Net, được kèm luôn cả hệ điều hành mạng kiểu peer-to-peer, tốc độ 10M. Sau một hồi mày mò, cuối cùng Võ Mai cũng dựng lên được và đó là niềm tự hào về công nghệ đầu tiên của FPT. Đứng về khía cạnh người dùng, mạng này có một số tính năng lý thú như khả năng chating, mail, BBS included. Về khía cạnh quản lý, nó cho phép supervisor kiểm tra toàn bộ access vào mạng thậm chí cả các actions cụ thể như người dùng sử dụng interrupt nào,... rất tiện lợi cho việc bẫy lỗi chương trình. Bây giờ tôi vẫn ngạc nhiên là tại sao Novell Netware lại không có những utilitties như vậy.

    Lại quay về Phòng vé. Đúng ngày 1/1/1991, sau 3 tháng lập trình, Phòng vé chính thức khai trương sử dụng chương trình mới với một mạng 1 máy chủ Olivetti M300 và 6 máy con Olivetti PCS286 và PCS86. Lần đầu tiên, khách hàng được nhận những tờ hóa đơn và PNR do máy tính in ra. Anh Bình lúc đó sướng lắm đọc diễn văn khen ngợi luôn luôn.

    Như trên có nói, cùng tham gia vào đề án có Mr. Cường. Đó là một thanh niên khá bảnh trai nhanh nhẹn và thông minh. Tốt nghiệp Toán, Đại học Tổng hợp. Anh được nhận vào FPT rất đơn giản: anh đích thân gặp anh Bình và tuyên bố "Em là nhân tài, anh nên nhận em". Anh Bình đã choáng váng và không thể từ chối lời đề nghị đấy. Tiếc thay giờ đây ít người dám học Cường ở điểm này. Trong thời gian thực hiện hợp đồng, Cường đã có những quan hệ rất tốt với HKVN, khi đó mới bắt đầu xây dựng lại bộ máy tin học của mình. Tôi rất tiếc vì không giữ được anh ở lại FPT.

    Chúng tôi kịp đưa thêm nhiều dịch vụ mới. Đầu tiên là thay máy Telex bằng chương trình của Phan Minh Tâm, cho phép gửi/nhận các yêu cầu giữ chỗ qua SITA từ bất kỳ máy tính nào. Chương trình này của Tâm sau đó được giải nhất cuộc thi các công trình sinh viên ở Đại học Bách khoa Hà nội, Tâm đã tốt nghiệp với loại xuất sắc. Đó cũng là một kiểu như chương trình mail bây giờ, chạy 24/24, ban ngày thì nối vào mạng, tối lại tách ra chạy độc lập. Đối với Đức béo, mỗi khi phải bảo hành máy tính Telex là hắn lại kêu trời vì bàn phím toàn nước chè với vỏ hạt hướng dương. Chương trình này là tiền thân cho Telex Server của Nguyễn Khánh Văn sau này, hiện vẫn đang chạy ở hàng chục chi nhánh ngân hàng Việt nam và nước ngoài. Phan Minh Tâm, nhờ có những tài năng đột xuất trong việc bắt Virus cho UNDP đã được cất nhắc lên phụ trách kinh doanh của ISC. Cuối năm 1994, anh đột ngột rời FPT sang TOGI để lại niềm tiếc thương vô hạn cho bọn Tiến béo, Hải kều.
    [​IMG]
    - Hoàng Nam Tiến (Tiến béo) -

    Sau đó, theo yêu cầu của chị Hòa phó phòng, chúng tôi thiết kế một chương trình kiểu như Queue Management cho phép theo dõi tình trạng làm việc của từng máy để bảo đảm phân khách tối ưu. Hồi đó tôi có viết một chương trình thường trú nhỏ để capture màn hình một cách thường xuyên và gửi về máy theo dõi. Mr. Phong phục lắm, nói hồi xưa dùng các hệ thống kiểm tra chỉ biết được thông số chứ chưa bao giờ nhìn được màn hình cả. Lại nói về Mr. Phong, anh là phó tiến sĩ (chẳng biết môn gì) từ Tiệp về, lúc đó đang dạy ở Bách khoa. Đối với tôi, anh là thần tựơng vì đã phá lên cười ha hả khi có một cậu Tây xì xồ cái gì đó. (Tiếng Anh của tôi lúc đó không hơn gì trẻ con 1 tuổi). Phong cũng là một tay STico có hạng. Hồi đó anh có một bất mãn là khi lập trình thường bị anh Ngọc đứng đằng sau nhìn nên hay rủ tôi đi uống cafe cạnh bờ Hồ để chia sẻ. Sau này còn gặp anh làm cửa hàng trưởng cho anh Trần Xuân Thuận.

    Tuy nhiên cuộc đời không chỉ toàn hoa thơm. Chạy được quãng 1 tháng, chương trình giở chứng thỉnh thoảng lại treo cứng toàn mạng. Chỉ có cách boot tất cả lại mới thôi. Đó là một điều cực kỳ bất tiện cho các chị bán vé vốn đều tuổi cao lười học cả. Chúng tôi rình mò để bẫy được thời điểm treo. như trên đã nói, chúng tôi còn có khả năng in toàn bộ tình trạng data và các thanh ghi tại thời điểm đó. Vậy mà vẫn không phát hiện được tại sao. Đành đưa ra phương pháp cổ điển, cử Trần Ngọc Trí ngồi làm việc ngay tại 1A Quang Trung, có sự cố thì xử lý luôn. Nhưng tôi vẫn ức lắm, không chịu thua. Hôm 2 Tết Âm lịch năm 1991, phòng vé đóng cửa chưa tiếp khách, tôi buồn tình xông ra đó ngồi, bật mạng lên hy vọng kiếm được cái gì đó không bình thường. Đúng là gái có công, chồng chẳng phụ, tất cả các dòng config.sys đều specify IRQ=2 là default lúc cài đặt. Như trên đã nói 10Net đã có từ lâu và đặt default cho máy XT, mà các máy chúng tôi cài ở phòng vé lại là AT286. Tôi mừng quýnh, đặt lại IRQ=3 và gọi điện báo cho mọi người đều biết. Quả nhiên sau đó lỗi treo vô duyên đó biến mất.

    Hệ thống đặt chỗ cho hàng không là khá phức tạp theo số lượng, tần suất giao dịch cũng như sự đòi hỏi về tính ổn định tức là những vấn đề về khai thác sử dụng. Có lẽ đó là điểm mà chúng tôi đã bỏ qua trong giai đoạn thiết kế vì quá tập trung vào những vấn đề có tính kỹ thuật. Khi khối lượng giao dịch lớn đến một mức nào đấy, các vấn đề về tổ chức sử dụng và quản trị giao dịch trở nên quan trọng hơn nhiều bản thân các thuật toán xử lý giao dịch đó. Cùng thời gian chúng tôi thực hiện chương trình ở phía Bắc, các đồng nghiệp ở AppInfo cũng thực hiện chương trình tương tự ở Phòng vé Phía Nam. Đội AppInfo lúc đó có anh Khúc Trung Kiên (hiện ở FSS, tức kien@fpt), anh Trường, anh Tâm. So với phòng vé Hà nội, thì chương trình phía Nam có tính thực dụng hơn hẳn. Điều đó có được do nhiều nguyên nhân, nhưng lý do chính theo tôi là nhờ sự khảo sát chi tiết các phòng vé của các Hãng nước ngoài tại HCM, điều mà chúng tôi đã hoàn toàn bỏ qua. Có vô khối những vấn đề tưởng như là vụn vặt nhưng với một quy mô giao dịch lớn lại trở nên vô cùng quan trọng, chẳng hạn việc sử dụng menu hay dòng lệnh, việc chặt các chặng bay riêng rẽ hay lưu trữ thống nhất.

    Thực chất chúng tôi đã tự động hóa đúng quy trình bằng tay hiện có của các nhân viên bán vé cũ mà không phải đưa ra quy trình mới trên máy tính. Kinh nghiệm các đề án về sau cho thấy, phương pháp đó chỉ áp dụng được cho những bài toán có tính ngắn hạn mà thôi.
    Với tất cả những thành công và thiếu sót trên, trong suốt hơn 1 năm hoạt động, Phòng vé 1A Quang Trung đã là trường học lớn của chúng tôi về việc ứng dụng tin học vào cuộc sống. Nếu sự phát triển của phần mềm FPT có thể coi là thành công thì không thể không kể đến đề án này. Tôi muốn cám ơn tất cả các đồng nghiệp đã tham gia thực hiện đề án, các Mrs Thỏa, Hòa, Khanh, Trang, Mr. Hậu, Cường ở Hàng không Việt nam về sự kiện đó. Sau này HKVN đã thay chương trình bằng hệ giữ chỗ toàn cầu Gabriel-2.

    [​IMG]

    Nhờ kinh nghiệm thu được ở đây, năm 1992, chúng tôi đã giúp FPT-HCM thực hiện chương trình cho Pacific Airlines, một hãng hàng không cổ phần mới ra đời. Cùng làm với tôi có Nguyễn Tuấn Hùng (FPT.HCM hiện nay, tức hungnt@fpt.hcm) và Mr. Sơn béo (tức net.lab@fpt), hiện là trưởng phòng mật mã của Ban IT-2000. Chương trình đó còn chạy cho đến thời gian gần đây mới bị thay bằng Gabriel sau những cố gắng thuyết phục nâng cấp không thành công của Tuấn Hùng. Nhắc đến Pacific Airlines không thể nhắc đến em Thiên Nga, trợ lý đắc lực của chúng tôi lúc đó. Không biết bây giờ em làm gì, ở đâu?









    Được Dao_Duy_Anh sửa chữa / chuyển vào 21:27 ngày 31/08/2006
  2. Dao_Duy_Anh

    Dao_Duy_Anh Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/05/2005
    Đã được thích:
    1
    MSB ​
    Có lẽ đề án Tin học hóa Ngân hàng Hàng hải là đề án lớn nhất về quy mô, nhanh nhất về thời gian triển khai và hiệu quả nhất cả về kinh tế, hiệu dụng cho Ngân hàng và đào tạo cán bộ của FPT.
    [​IMG]
    Lúc đó là vào khoảng đầu năm 1991. Không hiểu do xui khiến thế nào, anh Trương Gia Bình gặp được anh Chu Quang Thứ lúc đó đang là Phó Tổng Giám đốc Liên hiệp Hàng hải. Cả hai đều là những người quyết đoán và mộng mơ nên đã nhanh chóng thỏa thuận được về việc FPT sẽ giúp MSB (lúc đó mới chỉ tồn tại trên giấy tờ) tin học hóa toàn bộ các nghiệp vụ của mình. Đổi lại FPT sẽ có 5% cổ phần và được góp 5% cổ phần nữa trong tổng số X tỉ đồng vốn đăng ký của MSB. Cho đến tận bây giờ, đây vẫn là hợp đồng có một không hai của FPT. Quán cafe Emotion nếu thành công, cũng chỉ là một cái bóng mờ của thỏa thuận này. Tuy nhiên, về các khía cạnh kinh tế, xin nhường lời cho các anh Bình, Tiến, Hà. Chúng ta lại quay về kỹ thuật.
    [​IMG]
    Tháng 3/1991. Lúc đó chương trình ở Phòng vé Quốc tế mới tạm yên, anh em đang trong giai đoạn thư giãn. Anh Ngọc (Bùi Quang), gọi tôi ra ngoài hành lang trao đổi: "FPT đã đạt được thỏa thuận với Ngân hàng Hàng hải. Về mặt kỹ thuật nhóm Lộc-Đồng-Châu trong HCM sẽ đảm đương. Tuy nhiên với FPT, Ngân hàng là một hướng đi chiến lược, Công ty muốn em xông vào." Tất nhiên là chẳng có lý do gì để từ chối, tôi về nhà tắm rửa sạch sẽ, chay tịnh để vào trận chiến mới. Phải nói là cũng hồi hộp vì trước đó tôi hoàn toàn không có khái niệm i-tờ gì về ngân hàng cả. Đề án ở HKVN cho thấy việc thiếu hiểu biết cặn kẽ về nghiệp vụ có thể dẫn đến những hậu quả như thế nào. Đấy là đứng từ quan điểm bây giờ mà nói, chứ hồi đó chúng tôi cũng vẫn đang còn hào hứng lắm.
    Trước mắt là chuyến đi thụ giáo vào HCM để gặp nhóm các đàn anh Lộc-Đồng-Châu, chuyến công tác xa đầu tiên của tôi. Nếu không kể những chuyến xuống Hải phòng để áp tải sắt thép do đổi máy tính Olivetti mà có. Đó cũng là những kinh nghiệm hết sức thú vị, tiếc rằng các bạn lập trình trẻ bây giờ khó có hy vọng mà được trải qua cảm giác lo sợ, hoảng hốt khi đống thép trên xe vì quá nặng rơi béng hết xuống đường trong đêm tối.
    Lại nói về bộ ba: Lê Tấn Lộc (hiện là giám đốc FiBI), Hoàng Minh Châu (giám đốc FPT-HCM) và Ngô Vi Đồng (Giám đốc HiPT-HCM). Các anh chơi với nhau đã lâu. Lúc đó anh Lộc là trưởng phòng kỹ thuật của Trung tâm máy tính Ngân hàng Công thương HCM (ICB-HCM). Anh chính là người khởi xướng và điều hành việc vi tính hóa các hoạt động của ICB-HCM từ năm 1988. Thời gian đầu, anh đã mô phỏng các hoạt động của mạng bằng cách copy đĩa mềm chạy từ máy nhân viên sang máy giám đốc. Anh và anh Đồng cũng là những người đầu tiên đa mạng LAN chạy trên Netware 2.11 vào hoạt động năm 1989. Anh Châu lúc đó cũng đã nổi tiếng là một tay bán font chữ Việt và thầy dạy máy tính cho các học viên mà bây giờ đều đang ở chức vụ cao cả...
    [​IMG]
    Bộ Tam này có một tài uống bia hết sức đáng nể. Lần đầu tiên đi theo các anh từ 7h tối đến 11h00, thấy lục tục đứng lên tôi mừng quýnh. Ai ngờ các anh chuyển sang quán khác để thay đổi khung cảnh. Vì là đi thụ giáo, nên tôi cũng sẵn lòng đi theo. Buồn cười nhất là tự nhiên tôi trở thành ma bia rượu dưới con mắt của Mr.Lộc. Chẳng là anh không thể hiểu được có thằng không uống mà lại mất công đi khuya như vậy. Do đó anh kết luận là chắc tôi cũng uống như điên, có điều anh hơi xỉn nên không nhận thấy. Thậm chí anh còn thông báo với 1 số bạn bè: "Thằng Nam uống được lắm" làm tôi cũng có lúc lấy làm hãnh diện lắm.
    Để bắt đầu việc học tập, tôi được anh Lộc đưa cho một cuốn sách: "Kế toán Ngân hàng" cũ kỹ không thể tưởng tượng, xuất bản từ năm 1966 gì đó. Cuốn sách in Roneo trên giấy đen sì đó đã cho tôi những khái niệm cơ bản nhất về các hoạt động nghiệp vụ của một ngân hàng thương mại. Sau khi liếc qua chương trình thấy cũng chỉ gồm có một ít các menu, tôi yên tâm bay ra, thông báo với các sếp là có thể bắt đầu dự án.
    [​IMG]
    - Chu Quang Thứ -
    Nói đến Ngân hàng Hàng hải, không thể không nhắc đến anh Chu Quang Thứ, một người cuồng tín về máy tính. Lần đầu tiên được gặp anh, chúng tôi thấy anh đang chăm chú debug một chương trình. Tôi và anh Ngọc không tin vào mắt mình. Cũng nhờ có chỉ thị của anh "Tôi muốn tất cả những báo cáo của Ngân hàng đều được in ra bằng máy tính, ngay từ ngày đầu" mà cái thằng tôi, đang võ vẽ về Ngân hàng với Mr. Nguyễn Hữu Đức, thậm chí còn ậm ờ cả về máy tính giữ được cho toàn bộ hệ thống hoạt động. Khi đó văn phòng của anh cách Ngân hàng khoảng 500 mét. Anh chỉ thị phải thường xuyên có số liệu trên máy. Nhờ sự nỗ lực của Hùng xoăn, máy của anh được cài đặt remote workstation và hàng ngày download dữ liệu về. Anh thường xuyên ra quyết định dựa trên các thông tin có trong máy của mình. Vì thế, có lần chương trình lỗi cập nhật số dư không chính xác, bị chuyển tiền sai, khách hàng kiện, chúng tôi lo lắm. Gặp anh, anh chỉ cười: "Cái gì mới mà chẳng sai, các em cứ thế mà làm". Nhờ có lãnh đạo như vậy, hệ thống tin học của Ngân hàng Hàng hải đã phát triển khá nhanh trong một thời gian ngắn. Những bài toán mà các Ngân hàng khác hiện vẫn đang đau đầu như thanh toán tập trung, quản lý và điều hòa vốn, báo cáo toàn ngân hàng, đã được giải quyết tại NHHH từ lâu. Có người nói là tại Ngân hàng có quy mô nhỏ. Tôi thì tin chắc rằng vì họ có một người lãnh đạo như anh Thứ: quyết đoán, có yêu cầu rõ ràng và tôn trọng chất xám.
    Mr. Nguyễn Hữu Đức cũng là một tay gàn, Mặc dù tốt nghiệp về kinh tế, chẳng biết gì về máy tính, vậy mà anh cũng dám nhận chức trưởng phòng máy tính đảm đương việc triển khai chương trình trong toàn hệ thống. Tôi có với anh một kỷ niệm rất đáng yêu. Hồi đó tôi được coi là thượng khách của Ngân hàng, được bố trí ở Nhà khách Hàng hải, ăn theo chế độ cộng sản, hôm nào cũng cua, tôm, đặc sản. Một hôm anh Đức bất chợt đến thăm tôi, chắc là cũng hy vọng ăn ghé. Rủi thay, đúng hôm đó tôi đã quá chán đặc sản, nên đã gọi cô bé phục vụ lại để đổi lấy cặp lồng cơm với tép rang và rau muống luộc của cô bé đó. Vì lịch sự nên anh Đức không dám nói. Tôi thì vốn cũng hay vô tâm nên cũng chẳng để ý. Sau này mỗi khi gặp lại chúng tôi cũng thường nhắc đến việc này luôn.
    Một nhân vật nổi tiếng nữa của FPT là anh Khắc Thành cũng được rèn luyện trong lò Hàng hải. Khi đó mới chân ướt chân ráo về nước, máy tính còn đang ú ớ, anh đã được giới thiệu là chuyên gia hàng đầu và biệt phái về Ngân hàng 6 tháng làm việc cùng anh Đức. Sau đó quả nhiên anh thành chuyên gia hàng đầu thật. Có lẽ vì quá say mê với công việc hoặc vì Ngân hàng có quá nhiều em xinh đẹp mà cả anh Thành lẫn anh Hữu Đức đến bây giờ vẫn: "Phòng không, giờng trống tàn hoang". Chắc chắn anh Thành có nhiều kỷ niệm với chị em ở đó, không biết bao giờ anh mới kể ra thôi. Lại nói về Khắc Thành, nhân tiện đi Hải phòng, hắn liền bị phân công thực hiện hợp đồng cho Liên hiệp Hàng hải Việt nam. Một hợp đồng có thể coi là ăn theo hợp đồng Ngân hàng. Bên đội bạn lúc đó có anh Bình là một người rất ưa kỹ thuật. Thấy một thằng trông mặt mũi lơ ngơ đến, anh rất coi thường. FoxProLan lúc đó đang là môn mới. Anh Bình demo luôn một chương trình với các loại menu phức tạp kín màn hình. Khắc Thành bèn rủ Lâm Phương luyện chưởng lập ra một chương trình kiểu như Xtree trên Fox, gọi là báo cáo nhanh. Anh Bình có vẻ nể, từ đó hợp tác với ta. Với võ công luyện được, Khắc Thành còn viết vô khối chương trình trên Fox, trong đó có hẳn một trò chơi gọi là Dragon, xứng đáng được nhận danh hiệu chuyên gia lập trình Fox.
    Chương Hàng hải cũng là một chương quan trọng trong lịch sử phần mềm của FPT. Chúng tôi gồm có Nam, Thành, Phương, Tấn Vinh thường xuyên phải xuống. Riêng Thành ở lâu nhất, tổng cộng có đến 6 tháng. Hàng ngày ở Nhà khách Thương nghiệp 15000đ/phòng, ăn cơm quán em Thắm, theo lời kể khi cảm động thường bế bổng anh Thành lên lòng. Tôi rất khoái món bánh đa cua Hải phòng, 700đồng/bát.
    Trong lúc anh Thành chỉ biệt phái thì có một người FPT hiện vẫn đang làm cho MSB. Đó là chị Quyên. Chị là học sinh tốt nghiệp ĐHBK xuất sắc nhất năm 1989 và được anh Ngọc giữ làm nghiên cứu sinh. Chính chị là người lúc đó đã cùng xuống Hải phòng với tôi tháng 6/91 để trợ giảng cho khóa đào tạo về chương trình Ngân hàng mà cả thầy lẫn trò đều còn đang mù mờ. Kinh nghiệm chị Quyên và Tú Huyền cho thấy, một khi phụ nữ đã lập trình, họ có thể lì không kém gì anh em quanh chiếu bạc.
  3. anthonykhang

    anthonykhang Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    14/09/2005
    Đã được thích:
    0
    Dài qué, but it doesn''t make sense to me.
  4. Dao_Duy_Anh

    Dao_Duy_Anh Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/05/2005
    Đã được thích:
    1
    Balance
    Nói đến Software ở FPT không thể không nhắc đến Balance. Một trong những cố gắng lớn nhất của FPT để xây dựng phần mềm đóng gói. Mọi sự bắt đầu từ xa xa, cuối năm 1991 khi anh Ngọc ký hợp đồng Tin học hóa khách sạn Thắng lợi. Bao gồm có 2 chương trình chính: phần lễ tân và phần kế toán. Phần lễ tân được giao cho Nguyễn Tấn Vinh chủ trì. Anh làm cũng khá công phu. Chương trình này sau cũng còn được triển khai ở khá nhiều khách sạn nữa, nhưng chủ yếu là do đội bạn tự copy, ta chẳng thu được gì. ở đây chỉ muốn nhắc đến phần kế toán. Để làm việc này, anh Ngọc mời anh Vũ Đức Vượng, cán bộ của Trung tâm máy tính Đại học Bách khoa làm cộng tác viên của FPT. Một phần vì anh Vượng đã giới thiệu hợp đồng, phần nữa là do anh Vượng cũng đã có một số kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Toàn bộ hợp đồng được nghiệm thu suôn sẻ. Thừa thắng, ta ký tiếp hợp đồng với Ngoại giao Đoàn và triển khai chương trình giống hệt. Tuy nhiên vẫn có cảm giác cái đó không phải là của mình. Vượng có vẻ không mặn mà với việc đi lâu dài với FPT.
    [​IMG]
    Thời điểm có ý nghĩa quyết định là sau khi Phan Quốc Khánh hủy hợp đồng với Generalexim, đơn giản vì lý do ta chưa nắm đầy đủ về nghiệp vụ kế toán. Khánh đề xuất lập nhóm Kế toán và đầu tư chiều sâu. Chúng tôi viết đơn đề nghị và được anh Phan Ngô Tống Hưng ký duyệt 1.000.000 đồng. Lúc đó là khoảng tháng 5/1992. Thực ra cũng chưa biết dùng tiền đó vào việc gì. Tôi quên mất nhờ đâu, chúng tôi may mắn gặp được một chị làm kế toán ở Nhà máy sợi Hà nội nhưng lại rất yêu thích máy tính, đã từng viết nhiều module tự động hóa tính toán. Đó là chị Hiền. Chị đã giúp chúng tôi rất nhiều lúc ban đầu, nhất là những khó khăn mà chị gặp phải chưa giải quyết được. Chẳng hiểu sao chị cũng có cảm tình với chúng tôi. Sau này khi đã chuyển sang VinaTex, chị vẫn thường xuyên giúp đỡ chúng tôi kiếm khách hàng. Hồi đó, nhờ chị Hiền giới thiệu, tôi và Khánh còn mò đến tận nhà chị kế toán trưởng 3C là chị Hoa vừa để học thêm nghiệp vụ vừa hy vọng kiếm được hợp đồng. Đứng trong danh sách những người đã bắt đầu sự sống cho Balance, không thể không kể đến anh Lợi Petrolimex. Nhờ nghiên cứu bản phân tích nghiệp vụ dày cộp của anh mà Khánh hói đã học thêm được bao nhiêu võ lạ. Anh cũng đã ký hợp đồng đầu tiên với nhóm kế toán FPT. Kinh nghiệm ở ta cho thấy, một chương trình ứng dụng mà không được phát triển dựa trên môi trường thực, có rất ít giá trị. Chỉ sau khi thực hiện hợp đồng với Petrolimex, chúng ta mới dám nói mình có chương trình kế toán. Cũng phải nói lời cảm ơn với phòng kế toán FPT, nơi đã cung cấp một môi trường kiểm nghiệm chương trình không thể chê được.
    Giữa năm 1993, Phan Quốc Khánh bắt đầu tìm kiếm một cái tên thích hợp cho chương trình để dễ bề quảng cáo. Tôi không nhớ chính xác, nhưng khi đó có một tờ tạp chí có đăng ở bìa 4 quảng cáo của một hãng tên là Data Control, với 1 cái cân và tiền rơi vung vãi. Hình vẽ đấy đã gợi cảm hứng cho Khánh đặt tên Balance và chọn luôn cái cân làm biểu tượng của chương trình. Có thể nói Balance là một tên rất thành công về mặt ngữ nghĩa.
    Sau khi có tên, bắt đầu có hợp đồng. Nhờ sự môi giới của TT&C, chúng tôi đặt chân được vào các nhà máy sản xuất. Đầu tiên là Super Lâm Thao, sau đó là Apatit Laocai, rồi Than Quảng ninh, Phân lân Ninh bình, rồi Kim khí Đông Anh, Kim khí Hà nội, Kim khí Hải phòng,... Khách hàng hơi nhiều, các bạn cứ chịu khó ngó vào tờ quảng cáo sẽ thấy. Về phát triển Balance, tôi nhớ 1 chuyện vui vui. Đó là vào năm 1994. Sau khi quyết định sát nhập QLVT vào Balance, Khánh tổ chức một cuộc họp dã ngoại để bàn về thiết kế chương trình. Chúng tôi mò lên khu Hồ tây để thuê phòng, nhưng rủi thay không chỗ nào họ muốn cho thuê cả. Hỏi ra mới biết họ thấy một hội bặm trợn kéo theo một cô gái (Vũ Mai Hương), nên họ nghi ngờ lý do thuê phòng. Đành phải quay về nhà tôi họp suông rồi đi ăn cơm bình dân.
    [​IMG]
    Quá trình hình thành và phát triển của Balance đã phơi bày tất cả những điểm mạnh và yếu của phần mềm FPT. Với một sự bắt đầu khôn ngoan, biết lợi dụng thiên thời và có những bước đi hợp lý, chúng ta vẫn không dựng lên được một sản phẩm xứng đáng với tầm vóc công ty. Doanh số Balance năm 1996 bắt đầu chựng lại, là hệ quả tất yếu của việc đầu tư không kiên quyết kiểu đánh trống bỏ dùi, cũng như việc không chú trọng xây dựng một đội ngũ đủ để nhân rộng chương trình khi cần thiết. Một bệnh kinh niên nữa của ta là không duy trì được sự nhạy bén kinh doanh một cách lâu dài, nhiều lúc bị lý trí chi phối làm phức tạp hóa vấn đề. Sự ra đi của Khánh khỏi FPT năm 1996, chắc chắn sẽ có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ sản phẩm này ở FPT. Tuy nhiên Balance đã giúp chúng ta khẳng định chắc chắn rằng, nếu chúng ta đi đúng hướng, chúng ta chắc chắn tồn tại được một cách đàng hoàng trong cuộc sống đầy biến động này. Sau này khi có dịp tiếp xúc với những người tâm huyết trong lĩnh vực tin học hóa kế toán như anh Nguyễn Văn Trứ, tác giả KTSys, anh Phan Đức Trung, tác giả Keyman, chúng tôi mới nhận thức đựơc sự khó khăn to lớn đang chặn đứng con đường phát triển của những chương trình đó. Đã đi hết đà của mình, các chương trình đòi hỏi một sự thay đổi cơ bản về chất. Ai thay đổi được người đó sẽ thắng.





    Được Dao_Duy_Anh sửa chữa / chuyển vào 17:31 ngày 31/08/2006
  5. Dao_Duy_Anh

    Dao_Duy_Anh Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/05/2005
    Đã được thích:
    1
    TTVN - Trí tuệ Việt nam
    Không ai ở FPT không biết đến TTVN. Năm 1996 là năm đăng quang của TTVN. Nhưng nguồn gốc của nó đã bắt đầu từ rất xa xa. Ngay từ hồi đầu mới thành lập, truyền thông đã là một lĩnh vực mà FPT thường xuyên quan tâm

    Từ năm 1989-1990, dưới sự chỉ đạo của anh Công, Võ Mai đã bắt tay vào viết chương trình truyền tin trên UNIX. Sau khi anh Trần Xuân Thuận đi khỏi FPT, không ai quan tâm đến việc đó dưới khía cạnh thương mại cũng như kỹ thuật. Cho đến năm 1992. Khi FiBI triển khai chương trình liên hàng cho Ngân hàng Công thương Việt nam, tôi với Lợi con có bàn với anh Lộc về việc làm một chương trình truyền tin để gắn với các chương trình ứng dụng. Nhưng việc chưa thành vì thời gian thực hiện quá gấp. Tuy nhiên mong muốn vẫn còn quanh quẩn đâu đó trong lòng.

    [​IMG]
    Ngày 16/12/1993. Chúng tôi gồm anh Lộc, anh Sơn (ICB) và tôi phải quyết định một việc khẩn cấp. Ngân hàng công thương dự định triển khai chương trình tiết kiệm gửi rút nhiều nơi. Một công ty phọt phẹt của Việt kiều ở Australia tên là VANACO đã trực tiếp tiếp xúc và ký được biên bản ghi nhớ với Ngân hàng về việc công ty này sẽ cho ngân hàng vay để cung cấp thiết bị và phần mềm cho dự án, tổng cộng đến 2 triệu USD. Chúng tôi phải chặn bằng được. Và ngày hôm đó, FiBI đã ký với Ngân hàng Công thương hợp đồng trị giá 16000 USD (giá chuẩn hồi đó) để viết chương trình cho phép quản lý tài khoản tiết kiệm của khách hàng tập trung và triển khai tại 20 chi nhánh của Hà nội và HCM trong tháng 1/1994! Một hợp đồng kỷ lục ngắn về thời hạn thực hiện. Tôi và anh Lộc chỉ có vẻn vẹn 3 ngày để thiết kế. Client bằng VB, Host trên Fox. Tâm đắc nhất là hai anh em thống nhất được cách chuyển/nhận số liệu từ/đến các chi nhánh lên cuối ngày bằng xe máy hon-da và đĩa mềm. Vừa an toàn vừa tạo công ăn việc làm thêm cho nhân viên. Việc đồng bộ hóa số liệu giữa Hà nội và HCM thống nhất sẽ dùng SmartCom III. Bí nhất vẫn chưa nghĩ được cách để tra cứu số dư tức thời. Tạm thời chúng tôi thiết kế có mã tra cứu để trong trường hợp bí, giao dịch viên có thể gọi lên nhờ Trung tâm duyệt hộ và ghi lại mã, giao dịch vẫn được coi là hợp lệ. Lúc đó đang có phong trào lập trình bằng Visual Basic sau chương trình cho Hội sở Ngân hàng đầu tư. Sau khi liếc thấy một Control có chữ Modem và biểu tượng điện thoại, tôi bàn với Đình Anh: thế, thế,.... có làm được trước ngày 1/1 không. Chơi luôn! Thế là hắn xông vào cật lực. Cù Tuấn thì vẽ màn hình giao dịch, Lâm Phương viết báo cáo. FiBI viết chương trình Host bằng Fox. Cả bọn làm việc như điên. Nhờ vậy mà tôi cũng học được VB trong nửa ngày. Ngày 25/12 Cù Tuấn bay vào HCM để ghép chương trình. Ngày 28, đội HCM lại bay ra thử tiếp. Đúng ngày 2/1 khai trương dịch vụ mới, tôi ngồi tại Hội sở 10 Lê Lai, bọn Đình Anh, Cù Tuấn mỗi đứa 1 chi nhánh. Thật là kỳ diệu khách hàng có thể gửi được tiền thật. Đó là chương trình truyền tin đầu tiên áp dụng vào thương mại của FPT. Đáng nhớ nhất trong vụ này là Cù Tuấn vì chạy đôn đáo lo chương trình đánh mất mất xe đạp. Sau được anh Sơn tài trợ một xe mới.

    [​IMG]
    Cuối năm 1994, chúng tôi quyết định phát triển theo hai hướng. Một thiên về thư tín điện tử do Khánh Văn chủ trì với server trên Windows. Một là giải pháp tích hợp vào các chương trình ứng dụng trên Fox/Netware do Đình Anh chủ trì.
  6. samurai77

    samurai77 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    23/03/2006
    Đã được thích:
    0
    Trong lĩnh vực phần mềm,nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định.Khi các DN phần mềm nước ngoài để mắt tới VN,sẽ xảy ra 1 cuộc chiến giành giật nguồn nhân lực này.Vậy FPT đã chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc đấu này chưa?
  7. newbie123456

    newbie123456 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    09/06/2006
    Đã được thích:
    0
    Chẳng biết các bác thế nào chứ em thì rất ghét thằng cha Nguyễn Thành Nam, nó cứ tưởng nó là ai chứ? Cái cách hắn ta nói chuyện rất trịch thượng, tinh tướng mà thấy ghét. *********!
  8. Dao_Duy_Anh

    Dao_Duy_Anh Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/05/2005
    Đã được thích:
    1
    Chương 4: Diệt phát xít​
    Việt nam bao năm ròng rên xiết lầm than
    Dưới ách quân tham tàn đế quốc sài lang


    Bây giờ tôi nghĩ chúng ta vẫn chưa qua được cái hạn "rên xiết lầm than" dưới sự bóc lột ngày càng tinh vi hơn của các cường quốc ngoại bang. Bởi thế tôi muốn dành một ít tâm sự cho chương "Diệt phát xít" nói về các hợp đồng mà chúng ta đã làm với các khách hàng là đối tác nước ngoài. Trong chuyến đi gần đây nhất sang Singapore, tôi được nói chuyện với Giám đốc của hãng ISIS, một hãng phần mềm nhỏ nhưng rất chuyên về communication trên AS/400 của Singapore. Thật tình cờ nhưng con đường ông ta đã đi từ đầu năm 80 khá gần với cái chúng ta đang làm. Một trong những bài học của ông là "lấy Tây đánh Ta". Ông ta nói, ban đầu không ngân hàng Singapore nào chịu chấp nhận công nghệ của ông cả. Ông ta bèn quay sang dùng mọi cách để cưa đổ Standard Chatered Bank tại Singapore, và dùng họ như một điểm reference, sau đó là các Ngân hàng địa phương mới chịu lần lượt quy phục.

    [​IMG]

    Công lớn trong công cuộc diệt phát xít này là anh Lê Tấn Lộc, lúc đang chức tại Ngân hàng Công thương. Năm 1990, nhờ có liên doanh giữa Ngân hàng Công thương và Indonexia, anh đã học được đôi chút kinh nghiệm đánh Tây. Giữa năm 1992, từ HCM anh gọi ra cho tôi, thông báo với giọng cực kỳ sung sướng: "Nam ơi, thắng đậm rồi". Đó là anh nói đến việc thuyết phục được chi nhánh Ngân hàng BNP (Banque National de Paris) tại HCM sử dụng chương trình của Việt nam. Cái giá 16.000 USD lúc đó có một ý nghĩa khác xa bây giờ. Theo lời mời của anh Lộc và anh Châu, chúng tôi gồm có Nam, Thành, Phương bay vào HCM để trực tiếp tham gia vào đề án. Thành và Phương còn tiện thể tham gia thực hiện hợp đồng cho EximBank và VietsoPetro.
    Lại quay về đánh Tây. Đội bạn cử một đoàn từ Singapore sang để thẩm định và đặt yêu cầu, có cả Tàu, Pháp. Phải nói rằng tiếng Anh của tôi lúc đó phọt phẹt kinh khủng. Không ngờ gặp bác Lộc cũng chẳng hơn gì. Thế nhưng có vẻ như anh hiểu hết bọn nó và luôn mồm "No problem", bọn kia khoái lắm, chắc là lần đầu tiên gặp phải thằng bán hàng mà cái gì cũng làm được. Chúng gọi luôn anh Lộc là Mr. No Problem. Lần đó, nhân một lần đội bạn mời đi ăn, tôi còn phát hiện ra Mr. Lộc có biệt tài nói tiếng Anh suốt buổi mà chỉ cần khoảng 20 từ. Phải nói là lần nào cùng làm việc với anh tôi cũng học thêm được nhiều thứ.
    Đội ta ngoài tôi làm thiết kế và tài liệu và Phương làm về security, còn có anh Lộc, Bùi Văn Dũng, Tuấn, Lợi và Mrs Trâm. Sau khi thực hiện HĐ xong, Mrs Trâm được tổ chức phân sang hẳn bên BNP làm việc để bảo hành chương trình luôn. Bùi Dũng bây giờ ở IndoVina, vẫn hợp tác với FSS thường xuyên, Tuấn là cán bộ lập trình chủ chốt của Ngân hàng Công thương lúc đó, hiện là phụ trách máy tính của Ngân hàng Công thương Khu vực II. Lợi con đang là giám đốc BitCo, một công ty chuyên về mạng ở HCM. Tay này trước đi thi Lý quốc tế, rất thích làm về các vấn đề mạng. Chính hắn đã dựng nên mạng diện rộng không dây đầu tiên, nối tất cả 14 chi nhánh của Ngân hàng Công thương thành phố Hồ Chí Minh. Mạng đã hoạt động được một thời gian, sau phải ngưng vì bên cung cấp là một công ty củ chuối không có khả năng cung cấp các thiết bị thay thế. Năm 1992, khi thiết kế chương trình liên hàng cho Ngân hàng Công thương, sau khi khảo sát một số chi nhánh, tôi với Lợi đã ấp ủ ý định làm lấy một chương trình truyền tin của mình. Thậm chí đã viết một số thiết kế. Có thể nói đó là những ý đồ đầu tiên của TTVN bây giờ. Lúc đó Đình Anh vẫn còn đang thực tập và vật lộn với những số dư và tài khoản. Nếu quyết tâm biết đâu TTVN bây giờ đã trở thành CompuVietnam rồi?
    Sau gần 1 tháng cọ xát với đội bạn, chúng tôi đã thực sự hấp thụ được một cách làm việc bài bản. Nhất là tài liệu. Niềm tự hào nhất của anh Lộc lúc đó và FIBI sau này là 4 tập hồ sơ dày cộp về chương trình SIBA cho BNP. Trong đó có tập Data Dictionary là tập đáng quý nhất, mô tả toàn bộ các trường dữ liệu của chương trình.
    Một bài học nữa là khả năng tìm lỗi. Đội bạn cử hẳn một mẹ Tàu để test chương trình của ta. Lúc đó tôi và Dũng Bùi cũng đã làm việc rất cẩn thận thế mà mẹ đó cứ ngồi vào là đỏ lòm màn hình. Chúng tôi rất lấy làm khâm phục. Võ này sau tôi cũng dùng được nhân một lần Tú Huyền thách tìm lỗi chương trình 5000 đồng/lỗi. Trong có 5 phút tôi đã tìm được 3, 4 lỗi. Tú Huyền phải tuyên bố sập tiệm. Test chương trình cũng là một nghệ thuật đáng phải học không kém gì lập trình nếu bạn làm chương trình thương mại chứ không phải đồ án tốt nghiệp. Người test bắt buộc phải là người có cái nhìn xuyên suốt toàn chương trình chứ không locate ở từng menu nhỏ.
    Thời điểm này cũng có thể coi là thời điểm ra đời của chương trình SIBA, có lẽ là một trong những chương trình phần mềm thành công nhất về mặt thương mại ở Việt nam. Chính xác hơn là quãng tháng 4/1992. FIBI đang ở trong giai đoạn thành lập. Do có mật báo của Ngân hàng, chúng tôi được biết Văn phòng cộng đồng châu Âu EC tại Việt nam đang gọi thầu một chương trình quản lý tín dụng nhằm quản lý việc cho vay từ quỹ EC cho các thuyền nhân Việt nam hồi hương. Tôi phải bay vào HCM để bàn. Không biết anh Lộc moi từ đâu ra được bộ tài liệu chào thầu của một Hãng phần mềm Thái lan. In ấn rất đẹp và chuyên nghiệp. Nhờ nó mà chúng tôi biết được rằng muốn có một bộ hồ sơ chào thầu, chương trình chúng tôi phải có một cái tên. Như trên đã nói, tôi mới tìm hiểu về Ngân hàng từ năm 1991 nên có thể coi là còn non. Nhưng không hiểu sao, anh Lộc tỏ ra rất tin cậy, có lẽ vì thấy tôi một mình xoay xở được với Ngân hàng Hàng hải mà không phải gọi hắn. Hôm đó hai anh em quyết định phải nghĩ cho bằng được một cái tên. Trên tầng 2, trụ sở Ngân hàng Công thương HCM, Mr. Lộc đi đi lại lại mồm tuôn ra những chữ tiếng Anh còn tôi thì ghi lại và ghép các chữ xem chữ nào hay nhất. Sau một lúc chỉ còn vài chữ Banking, Integrated, Software, Solution, Application, System. Các chữ cái lơ lửng. Bất giác tôi nhớ đến bộ phim mới xem trên truyền hình "Nữ hoàng Siba" nói về thời văn minh Ai cập. Chữ SIBA được anh Lộc nhất trí tức thời vì rất hợp với những chữ đã được lựa chọn. Sau này tôi có kể lại cho anh Lộc chữ SIBA từ đâu ra, anh có vẻ hơi bất mãn vì lại là tên đàn bà. Tuy nhiên cũng chẳng sao, vẫn bán được.
    (còn nữa)


    -------------------------------------------------------------------------------------------
    Đến thời điểm này (9/9/2006), giá cổ phiếu FPT đã tăng mạnh mẽ và tiến sát tới cái mốc 14.x bất chấp nỗ lực ghìm giá của các tổ chức, đại gia trong và ngoài nước. Nguyên nhân chính do có một số tin nội bộ đã bị rò rỉ ra bên ngoài làm các tổ chức, đại gia đứng ngồi không yên nếu chưa mua được cổ phiếu FPT (có ai đó trong diễn đàn này nhận ra chiến dịch đại phá FPT ngay từ khi tôi bắt đầu post bài này, thật là tinh ý).
    Tuy nhiên, các nhà đầu tư vẫn nên hết sức cảnh giác !!!
    Cuộc đua vẫn còn ở phía trước và con đường còn rất dài.

    -------------------------------------------------------------------------------------------




    Được Dao_Duy_Anh sửa chữa / chuyển vào 11:01 ngày 09/09/2006
  9. Dao_Duy_Anh

    Dao_Duy_Anh Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/05/2005
    Đã được thích:
    1
    Lại nói về chương trình của EC. Hẳn mọi người còn nhớ, vấn đề thuyền nhân Hong Kong là vấn đề nóng bỏng của Việt nam trên trường quốc tế trong những năm đầu 1990. Cộng đồng châu Âu quyết định viện trợ cho Việt nam một số tiền lớn để hỗ trợ những người hồi hương và những cơ sở tạo công ăn việc làm cho họ. Hình thức thực hiện là cho vay lãi suất nhẹ thông qua các ngân hàng Công thương và Nông nghiệp Việt nam. Tại thời điểm đó, các Ngân hàng Việt nam hầu như chưa triển khai bất cứ một chương trình phần mềm quản lý tín dụng nào. Cách thức theo dõi tín dụng của ta cũng chưa bài bản, chủ yếu dựa trên quan hệ, do đó mấy ông Tây không thoả mãn. Dẫn đến việc đấu thầu như đã nói ở trên. Chương trình dự kiến triển khai trong toàn quốc tại gần 200 chi nhánh ngân hàng.

    Sau khi bất ngờ nhận được hồ sơ đấu thầu của Trung tâm Tính toán Ngân hàng Công thương HCM, văn phòng EC rất ngạc nhiên và tìm cách tiếp xúc. Để tiện giao dịch, anh Lộc lập ra hồ sơ một nhóm gọi là VinaSoft (một vài chi tiết về nhóm này các bạn có thể xem ở chương sau) trong đó kể ra tất cả những người nào mà chúng tôi biết về phần mềm ở Việt nam. EC rất khâm phục. Có thể đó cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc họ ký với ICB HCM một hợp đồng trị giá 23.000 USD (sau đó được mở rộng thành 28.000 USD) để mua một chương trình mà chúng đặt một cái tên rất hay là LAMIS. Sau này anh Lộc bắt chước cũng đặt tên các module của SIBA là SAMIS, TAMIS,... Tuy nhiên chúng (những cái tên) đều không sống được. Hợp đồng do anh Lộc ký, tôi đứng tên là Contact Person. Tất nhiên là chẳng cần dấu má gì. Luật Tây cũng vui. Mỗi khi đến hạn đòi tiền, tôi xông đến phòng tài vụ của chúng. Câu đầu tiên chúng hỏi sau khi xem hợp đồng là:
    - Anh có phải là anh Lộc không?

    Tôi trả lời:
    - Không, tôi là Nam.

    Chúng xem lại hợp đồng và gật gù:
    - Đúng là Nam rồi.

    Thế là đếm tiền cho tôi, chẳng cần chứng minh thư, phiếu thu,... lằng nhằng. Vậy mà vẫn suôn sẻ, chẳng ai lừa bịp ai cả.

    Thực tế sau này cho thấy hợp đồng quản lý tín dụng EC là hợp đồng được tiến hành có bài bản nhất và được triển khai rộng rãi nhất ở Việt nam. Công lớn trong việc này là do nhóm triển khai hợp đồng của Nguyễn Khắc Thành với sự hỗ trợ đắc lực của Lê Thái Thường Quân (FiBI). Ngoài ra còn có Nguyễn Khắc Tâm (FPT), Mai Thanh Long (FiBI, nay là acb.longmt@fpt) hiện đều đang làm tại ACB. Thực ra ban đầu còn có nhóm Ngân hàng Nông nghiệp HCM gồm Thành và Thảo tham gia. Sau chừng một tháng, thấy phong cách làm việc có vẻ không hợp, mới quyết định Khắc Thành thay thế.

    Bài học lớn nhất của anh em trong vụ này là tiếng Anh. Cả tôi, Thành, Quân trước đó đều chưa dùng tiếng Anh trong công việc hàng ngày bao giờ. Giai đoạn khảo sát và thiết kế chúng tôi phải làm việc với 2 ông Tây người Anh và một tay chỉ huy người Xcotlen. Tiếng Anh của lão Xcotlen có tên là Francis thật là khó mê. Của chúng tôi cũng vậy. Làm việc cứ như một buổi cãi lộn. Phải thừa nhận là các ông Tây đã thể hiện một tinh thần chịu đựng đáng nể. Trong quá trình làm việc họ tỏ ra rất ủng hộ chúng tôi và mọi việc có vẻ đều thuận buồm xuôi gió. Tôi còn nhớ ông già tên là Ross rất phúc hậu còn mời chúng tôi có dịp sang nghỉ tại trang trại của ông tại Anh.




    ----------------------------------------------------------------------------------
    Thông báo

    (V/v dời thời gian phát hành CP lần đầu ra công chúng)

    Kính gửi: Cổ đông Công ty Cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT



    Theo biên bản ĐHĐCĐ công ty FPT ngày 13/05/2006, ĐHĐCĐ ủy quyền cho HĐQT Công ty thực hiện chi tiết phương án phát hành 10% cổ phần ra công chúng thời hạn không muộn hơn 13/09/2006. Tuy nhiên do tình hình thị trường chứng khoán không khả quan cũng như một số lý do chủ quan khác, HĐQT công ty FPT đã tiến hành gửi thư xin ý kiến các Đại cổ đông dời thời gian phát hành cổ phiếu sang thời hạn mới là trong năm 2006:



    Chi tiết kết quả hỏi ý kiến các Đại cổ đông như sau:

    - Tổng số Đại cổ đông được lấy ý kiến: 45 cổ đông

    - Tỷ lệ sở hữu cổ phần của các Đại cổ đông/tổng cổ phần: 71,7%

    - Số lượng cổ đông đồng ý với phương án trên: 45/45, chiếm 100%



    Như vậy, việc phát hành 10% cổ phần ra công chúng của Công ty FPT sẽ được thực hiện trong năm 2006.



    Hội đồng quản trị công ty xin trân trọng thông báo để các cổ đông được biết.



    T/M HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

    PHÓ CHỦ TỊCH

    (đã ký)



    LÊ QUANG TIẾN





    Được Dao_Duy_Anh sửa chữa / chuyển vào 15:02 ngày 09/09/2006
  10. Dao_Duy_Anh

    Dao_Duy_Anh Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/05/2005
    Đã được thích:
    1
    [​IMG]
    Sau chừng 3 tháng chúng tôi đã nghiệm thu chương trình giai đoạn 1 và triển khai thí điểm tại 2 chi nhánh dưới Hải phòng. Sau đó 2 ông Tây nghiệm thu và cắp đít về nước. Anh em yên trí rút về Hà nội, bụng thầm nghĩ "Moi tiền Tây cũng dễ thật". Nào dè, bẵng đi một thời gian, tôi được văn phòng EC thông báo là sẽ có chuyên viên của hãng Earns & Young, một hãng kiểm toán hàng đầu thế giới đến kiểm tra chương trình. Không hiểu gì, tôi dò hỏi mới biết việc của bọn này là kiểm tra tính tương thích giữa quy trình và chương trình. Bọn chúng nhận mỗi ngày ít nhất 1000 USD. Tên tôi gặp là một tay trẻ măng. Bằng những võ in ấn học được trong vụ BNP, tôi in cho hắn mấy tập tài liệu. Hắn cười nhạt rồi phi ô-tô xuống Hải phòng. Hai hôm sau, cả văn phòng EC nhốn nháo vì tin tay Financial Controller, một tay cực kỳ quyền thế, bị bọn Việt nam sỉ nhục. Mấy hôm sau Khắc Thành về mới rõ sự tình. Số là, tay kiểm toán đại bợm nọ mò xuống, không chịu làm việc theo chỉ đạo của ta mà xông thẳng đến hỏi mấy cô kế toán. Gặp mấy cô thật thà khai hết, nào là cả tháng này chúng em bận quá chưa vào số liệu gì cả, nào là máy tính để trong lồng kính nhiều khi không có khoá không mở được, nào là các anh Thành, Quân gọi có lúc được lúc không,... Hắn cứ thế ghi lại và báo cho tay controller kia. Tay kia xông xuống chi nhánh gặp trần Thành, chửi bới lung tung. Không ngờ trần Thành quắc mắt mắng lại "You, you ... " tên kia cụp đuôi bỏ về, quát tháo quân sĩ loạn xạ, gây nên scandal như đã kể. Sau vụ đó, quân ta cũng khá vất vả. Nhưng lợi bất cập hại. Văn phòng EC trước đây chỉ loăng quăng không chú ý lắm, nay cũng phải dồn sức để cho việc triển khai chương trình được hiệu quả. Do nắm được cái chính là tiền, nên những yêu cầu, quyết định của EC cho các chi nhánh ngân hàng có khi còn được thực thi nhanh chóng hơn bản thân những quyết định của ngân hàng. Việc đó đã giúp đội triển khai khá nhiều.

    Kết thúc giai đoạn 1, quân ta triển khai chương trình xong tại gần 40 chi nhánh của 3 tỉnh Hải phòng, Quảng ninh và Hồ Chí Minh. Thu được toàn bộ tiền, kết thúc một trong những hợp đồng hợp tác thành công nhất giữa FPT và FiBI. Sau đó văn phòng EC vì tiếc 56000 USD mà chúng tôi đòi để triển khai trong toàn quốc, đã chuyển sang phương án thuê người thực hiện, chúng tôi cũng không quan tâm nữa.

    Đóng một vai trò đắc lực trong hợp đồng này là Lê Thái Thường Quân. Tốt nghiệp Đại học kinh tế HCM, anh lại rất có duyên và yêu Hà nội. Anh đại diện cho trường phái đào tạo của HCM làm việc rất bài bản, một tay viết tài liệu kiểu như Phan Văn Hưng bây giờ. Với Quân tôi có một số kỷ niệm vui vui. Khi đó trụ sở của đội lập trình ngân hàng nằm ở 25 Phan Đình Phùng. Một hôm cả bọn kéo nhau lên Phủ Tây Hồ ăn bún ốc. Lúc về tôi mới rủ Quân và Vũ (hiện là giám đốc kinh doanh của FiBI-HCM) đi bộ về. Bọn chúng nhất trí ngay. Chúng tôi đi vòng ra bờ đê, men theo các lò gạch của bãi sông. Nhìn dòng sông Hồng đỏ quạch phù sa, tôi thốt lên: "Giá mà được bơi qua sông nhỉ". Không ngờ hai tay nọ tụt quần áo lội ra bơi thật. Lúc đó là quãng đầu tháng 4, trời còn khá lạnh. Bơi một lúc, quay lại thấy tôi vẫn đứng trên bờ, bọn chúng mới quay lại.

    Quân và Vũ cũng đã tham gia tích cực vào việc đặt nền móng cho phiên bản SIBA hiện nay ở FSS cùng với Thành, Huyền, Hồng Sơn, Đình Anh, Phương. Hồi đó, quãng tháng 8/1993, chẳng hiểu vì sao chúng tôi quyết định là phải thiết kế lại chương trình. Thế là cả bọn kéo nhau lên Tam đảo. Gồm có tôi, Khắc Thành, Lâm Phương, Quân, Vũ. Gần cuối tuần có Hồng Sơn phi xe máy lên tham gia. Chúng tôi phân nhau thiết kế và trình bày, có ghi âm lại hẳn hoi. Ăn uống có một chị rất xinh giúp, gọi là chị nhà. Suốt ngày, chúng tôi loay hoay trong sương mù Tam đảo và cãi nhau về các thuật toán cập nhật dữ liệu và xử lý giao diện. Ý tưởng ngông cuồng nhất là thiết kế một kiểu Client/Server trong một môi trường hoàn toàn monotask là DOS/Foxpro. Do toàn bộ hệ thống được thiết kế thành nhiều module độc lập, chúng tôi quy định việc cập nhật vào file dữ liệu thuộc module khác được thực hiện thông qua các hàm do module đó export ra. Phải nói đó là bước tiến bộ đáng kể trong việc abstraction data ra khỏi chương trình, nhất là trong môi trường một chương trình do nhiều người thực hiện. Tuy nhiên điều đó cũng gây giảm tốc độ đáng kể và tạo thêm một số khó khăn trong việc lưu giữ và phục hồi môi trường trước và sau khi gọi hàm. Lần đầu tiên Lâm Phương cũng đưa ra một thiết kế chi tiết cho module quản trị các tài nguyên của chương trình: các file dữ liệu và index, các chương trình ứng dụng, các báo cáo và màn hình, hệ thống menu và người sử dụng, data dictionary. Module này còn có khả năng kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu, đặc biệt là các lỗi "Not a database file".

    Ngoài giờ làm việc, mỗi đứa một ý thích. Riêng Vũ thì tha thẩn ngoài rừng để kiếm quà tặng chị Tú Huyền. Cuối cùng hắn cũng bắt được 1 con chuồn chuồn rất đẹp ướp trong chiếc hộp đĩa mềm bằng nhựa trong. Rất thẩm mỹ. Phải nói là Tú Huyền lúc đó là thần tượng của Hồng Sơn và Vũ. Có lẽ cũng hợp lý, mới chân ướt chân ráo vào FPT, chị đã bị giao cho toàn bộ đề án bảo hiểm Hà nội và đã thành công. Theo chỗ tôi được biết đến bây giờ chương trình vẫn đang hoạt động.

    Làm việc căng thẳng, hôm nào chúng tôi cũng được chị nhà chiêu đãi thịt lợn, nai rừng với rau bí xào. Tuy tiêu chuẩn có 10.000đ/người, nhưng thức ăn khá tươm tất. Chúng tôi cứ cho rằng vì thịt rừng rẻ hơn thịt nhà. Mãi đến hôm chia tay, anh nhà mới gọi vào nói nhỏ: "Thịt lợn nhà đấy, móc đâu ra cho các chú thịt rừng với giá đấy" cả bọn mới ngã ngửa. Dù sao cũng rất ngon miệng.

Chia sẻ trang này