Fukuzawa Yukichi - Từ đọc sách đến khai minh của người Nhật

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi iStockVn, 30/08/2017.

1303 người đang online, trong đó có 521 thành viên. 19:12 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 3974 lượt đọc và 17 bài trả lời
  1. iStockVn

    iStockVn Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/08/2010
    Đã được thích:
    5.248

    [​IMG]
    (năm 1876 khi xuất bản lần đầu cuốn Khuyến học đã bán được 3.4 triệu bản ở Nhật trong khi đó dân số của Nhật mới có 35tr người)

    Khoảng cách văn hóa đọc giữa Việt Nam và Nhật Bản ngày nay vẫn quá xa, đáng kinh hãi. Số lượng xuất bản một hai ngàn bản của Việt Nam bây giờ của những cuốn sách có tính chất khai sáng so với hàng triệu bản của Nhật Bản thời Minh Trị cho thấy tinh thần Việt Nam vẫn chưa tỉnh thức. Khoảng cách địa lý có thể rút ngắn trong vài giờ bay, nhưng khoảng cách văn hóa đọc và tri thức chỉ có thể đo bằng các thập kỷ, nếu Việt Nam biết dốc hết sức để lấp bằng. Nếu văn hóa đọc yếu ớt này vẫn tiếp tục tồn tại, khó tránh khỏi những hậu quả khôn lường cho Việt Nam mà không ai muốn thấy cả, kể cả bạn bè xung quanh.

    Fukuzawa Yukichi
    (1835-1901, âm Hán Việt: Phúc Trạch Dụ Cát) là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu và rộng nhất đến xã hội Nhật Bản cận đại. Những tư tưởng về chính trị, xã hội, kinh tế mà Fukuzawa truyền bá đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của Nhật Bản cận đại.
    [​IMG]
    Vài nét về Fukuzawa Yukichi
    Lịch sử biết đến Fukuzawa Yukichi (Phúc-Trạch Dụ-Cát) như một nhà cải cáchchính trị xã hội, nhà giáo dục tiên phong, nhà tư tưởng tiêu biểu của Nhật Bản từ cuối thời Edo, đầu thời kỳ Minh Trị, thời kỳ diễn ra những chuyển biến lớn lao trong lịch sử Nhật Bản. Tư tưởng của ông có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào Khai sáng ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tạo tiền đề cho Nhật Bản trở thành một cường quốc trên thế giới. Lòng biết ơn của người Nhật đối với Fukuzawa được thể hiện qua việc hình ông được in trên tờ tiền 10.000 yen (tờ tiền cómệnh giá lớn nhất của Nhật), dù ông không phải là một đấng quân vương hay võ tướng lỗi lạc của đất nước mặt trời mọc.
    [​IMG]
    Hình Fukuzawa Yukichi trên tờ bạc mệnh giá một vạn yen của Nhật Bản

    Ông sinh năm 1835, mất năm 1901, thọ 66 tuổi. Một điều thú vị ngẫu nhiên là cuộc cải cách Minh Trị duy tân được bắt đầu vào năm 1868, lúc Fukuzawa 33 tuổi. Tức là nếu lấy năm Minh Trị thứ nhất làm mốc có thể chia chính xác cuộc đời 66 năm của ông thành hai nửa. Qua đó sẽ thấy được những biến cố lớn lao không chỉ đối với bản thân cuộc đời Fukuzawa mà của cả xã hội Nhật Bản.

    Fukuzawa Yukichi sinh tại Ōsaka, khi cha ông đang làm cho phủ đại diện của lãnh địa Nakatsu ở đó. Cha ông vốn là một nhà Nho nhiệt tâm với kinh sử, nhưng suốt đời không thoát khỏi công việc tính toán tiền bạc và giằng co các khoản nợ cho lãnh địa. Ông luôn mang nặng mối bất bình với công việc nhuốm màu ô tục và chế độ đẳng cấp phong kiến kìm nén con người. Điều này đã có ảnh hưởng lớn đến Fukuzawa. Mặc dù cha mất sớm, nhưng như ông đã bộc bạch, từ nhỏ ông đã được hưởng một nền giáo dục Nho gia từ hình bóng của người cha nghiêm nghị. Bản thân ông từ năm 14 tuổi cũng là một học trò xuất sắc của đạo Khổng. Nhưng óc phê phán sâu sắc cùng sự nhạy cảm với những biến chuyển của thời đại đã sớm hình thành trong Fukuzawa tư tưởng nhìn nhận lại những giá trị cũ, những nếp nghĩ cổ hủ, cứng nhắc của các nhà Nho.

    Năm 1836, sau khi cha mất, gia đình Fukuzawa chuyển về ở dưới lãnh địa và theo như ông kể thì họ không hòa nhập được với phong tục ở đó. Ông ví chế độ phong kiến ở lãnh địa quê ông như chiếc hộp đồ chật cứng, ngàn đời bó buộc con người. Không thể chịu đựng không khí ngột ngạt trong đó thêm ngày nào, năm 21 tuổi Fukuzawa quyết định lên đường điNagasaki học các môn khoa học của người châu Âu thông qua sách vở và thầy dạy người Hà Lan. Việc tiếp xúc với Hà Lan học đã làm nảy sinh trong Fukuzawa mối quan tâm và lòng cảm phục đối với nền học thuật của người phương Tây, làm tiền đề cho sự khởi xướng phong trào học tập khoa học kỹ thuật tiến bộ của người châu Âu cùng những tư tưởng mang tính cách mạng như độc lập tự tôn, nam nữ bình quyền, con người bình đẳng...

    Sau đó, ông lên Osaka và tiếp tục học Hà Lan học ở trường tư thục của Ogata Kōan, đại gia Hà Lan học lúc bấy giờ. Trí thức uyên bác cùng tấm lòng nhân hậu của thầy Ogata Kōan đã tác động không nhỏ tới Fukuzawa. Đây có thể nói là thời kỳ định hình nhân cách cũng như tư tưởng của ông.

    Nhưng theo lệnh của lãnh chúa, năm 25 tuổi Fukuzawa lên Edo và mở một trường tư thục nhỏ, tiền thân của trường Đại học Keiō-gijuku ngày nay.

    Một năm sau đó, trong chuyến đi thăm cảng Yokohama, Fukuzawa nhận ra rằng Hà Lan học đã lỗi thời và quyết tâm chuyển sang học tiếng Anh. Trong bối cảnh việc học tập, nghiên cứu Hà Lan học vẫn còn đang ở giai đoạn thịnh hành thì phát hiện này của Fukuzawa chứng tỏ ông là người vô cùng nhạy cảm với những biến chuyển của thời đại. Vì không nhờ được thầy dạy và cũng không thuyết phục được bạn bè học cùng, ông đã nhờ những thương nhân ở cảng Yokohama mua từ điển về tự học. Khi nghe tin Mạc phủ phái đoàn sứ giả sangHoa Kỳ vào năm 1860, không đợi lời chiêu tập, ông đã tự mình đến gặp trưởng đoàn để xin đi. Vào thời mà kỹ thuật hàng hải Nhật Bản còn thấp, ra đi là đồng nghĩa với việc chấp nhận rủi ro, có thể phải đổi cả tính mạng thì quyết định của Fukuzawa là hết sức táo bạo, vượt qua thời đại mà ông đang sống. Lần đi Mỹ này cùng chuyến đi châu Âu và chuyến đi Mỹ lần hai đã mang lại cho Fukuzawa tầm nhìn rộng lớn, quyết định đến những ảnh hưởng sau này của ông đối với Nhật Bản.

    Với kinh nghiệm học được từ người phương Tây qua sách vở và những chuyến thị sát, ông đã nhiệt huyết truyền bá những tư tưởng tiến bộ bằng mọi cách có thể. Ông đã tách mình ra khỏi biến động chính trị cuối thời Mạc phủ Edo, thầm lặng dịch và viết sách. Tài năng văn chương trác việt cùng tầm nhìn sâu rộng, sự đánh giá sắc sảo thể hiện qua các trước tác của Fukuzawa đã cuốn hút mối quan tâm không chỉ của giới trí thức mà cả những người dân thường. Bản thân ông đã tiên phong nêu gương về tinh thần độc lập, đề cao thực học, thực hiện cải cách bằng việc mở trường Keiō-gijuku, trường đại học tư thục hiện đại đầu tiên và hiện nay vẫn là một trong những trường đại học tư lớn, có chất lượng giáo dục uy tín hàng đầu của Nhật Bản. Đây chính là nguồn cung cấp nhân tài về chính trị, khoa học, giáo dục với những tri thức tiên tiến khi Nhật Bản chuyển mình sang thời đại mới, thời kỳ Minh Trị.

    Tài năng và nhân cách Fukuzawa Yukichi thăng hoa cùng với những năm tháng của cuộc cải cách Minh Trị duy tân. Ông đã để lại trước tác với số lượng lên tới hàng vạn trang, trong đó tiêu biểu phải kể đến là "Khuyến học" (Gakumon no susume), "Khái lược luận thuyết về văn minh" (Bunmeiron no gairyaku), "Tình hình châu Âu" (Seiyō jijō), "Phúc ông tự truyện" (Fukuō Jiden), v.v.
    [​IMG]

    Tư tưởng Thoát Á của Fukuzawa
    Có dịp được tiếp xúc với văn minh phương Tây qua sách vở và những chuyến viếng thăm Mỹ và châu Âu vào cuối thế kỷ 19, Fukuzawa nhận định rằng văn minh phương Tây phát triển hơn châu Á về nhiều mặt, và các nước châu Á khó lòng duy trì được nền độc lập nếu cứ đóng cửa trước văn minh phương Tây. Theo ông, giành được quyền tự trị chưa phải đã là độc lập, mà nền độc lập thật sự chỉ có thể thành hiện thực thông qua việc trở thành một quốc gia tiên tiến và văn minh. Nếu không có sự khai sáng và văn minh, nền độc lập giành được sẽ mau chóng mất đi để rồi lại lệ thuộc vào các quốc gia tiên tiến khác.

    Nhận thức được các nước trong khu vực châu Á mới chỉ ở mức "bán văn minh", không thể là tấm gương cho Nhật Bản học hỏi, trong bài "Thoát Á Luận", Fukuzawa kêu gọi nước Nhật hãy "tách ra khỏi hàng ngũ các nước châu Á, đuổi kịp và đứng vào hàng ngũ các nước văn minh phương Tây". Ông chủ trương mở cửa giao thương với phương Tây, học hỏi kiến thức và kinh nghiệm quản lý xã hội của phương Tây để phát triển Nhật Bản. Quan điểm này của Fukuzawa đã được chứng minh bằng thực tế: Ở châu Á, chỉ có Nhật Bản và Thái Lan, hai nước chủ trương mở cửa, là tránh được sự xâm lược và thôn tính của các nước phương Tây. Chính sự du nhập của những giá trị dân chủ và nền giáo dục khoa học kiểu phương Tây đã khiến Nhật Bản không bị phương Tây xâm lược, mà ngược lại, trở thành cường quốc từ cuối thế kỷ 19 .

    Fukuzawa tin rằng giáo dục là cách duy nhất để đạt tới văn minh, bởi bản chất của văn minh là sự phát triển kiến thức và đạo đức nội tại của dân tộc:

    "Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, [do đó] bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người."

    Fukuzawa cho rằng nền giáo dục Nho học truyền thống ở Nhật Bản chính là sự cản trở lớn nhất của nền văn minh: Nó vừa cổ hủ vừa chậm phát triển, hàng nghìn năm vẫn không thay đổi, chỉ coi trọng hình thức bên ngoài giả tạo mà coi thường chân lý và nguyên tắc. Số lượng người đi học đã ít ỏi, lại chỉ được dạy đọc/viết mà không được khuyến khích phát triển tư duy sáng tạo và độc lập. Chính vì vậy, Fukuzawa kêu gọi người dân hãy theo đuổi nền giáo dục thực học của phương Tây, dựa trên nền tảng khoa học và kỹ thuật. Mỗi người trong xã hội, từ các học giả uyên bác, những viên chức nhà nước địa vị cao đến những nông dân nghèo và những người buôn bán nhỏ đều có thể đi học để thực hiện tốt hơn chức năng riêng của mình, từ đó đóng góp sức mình vào phát triển xã hội, chứ không nhất thiết phải học để ra làm quan theo lối suy nghĩ truyền thống của Nho học hủ lậu. Fukuzawa phê phán lối học ấy trong xã hội Nhật đương thời:

    "Trong xã hội Nhật Bản, mười người thì cả mười, trăm người thì cả trăm, tất cả đều mưu cầu việc tiến thân, thăng quan tiến chức và trở thành công chức".

    Fukuzawa là người đưa ra nguyên tắc nổi tiếng: "Độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân", tức là một xã hội muốn phát triển phải dựa trên những cá nhân có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, chứ không phải dựa vào chính phủ. Ông kêu gọi các sĩ phu Nhật Bản làm việc theo phương châm "coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ", tự tin vào sức mạnh cá nhân mà không phụ thuộc vào sức mạnh của người khác (đây chính là tư tưởng Khai Sáng của Immanuel Kant).

    Để phổ biến kiến thức văn minh và tư tưởng tiến bộ phương Tây tới dân chúng, Fukuzawa đã viết trên 100 cuốn sách giải thích và biện minh cho thể chế chính quyền nghị viện, giáo dục phổ thông, cải cách ngôn ngữ và quyền của phụ nữ. Ông còn mở trường Đại học Keio (Trường Khánh Ứng Nghĩ Thục), nay trở thành một trong những trường đại học hàng đầu của Nhật Bản, để đào tạo những thế hệ thanh niên Nhật Bản theo phương thức mới. Cùng với một nhóm trí thức cùng tư tưởng, Fukuzawa cho ra mắt tờ báo Jiji Shimpo năm 1882, đây là một cơ quan tuyên truyền có tác động rất lớn đến công chúng Nhật Bản. Ông không coi mình là người làm chính trị, mà chỉ là "bác sĩ bắt mạch chính trị". Ông không tham gia chính quyền, dù được mời nhiều lần, nhờ đó có cơ hội phê phán chính quyền một cách mạnh mẽ và kiên quyết hơn.

    Tại sao người Nhật mê đọc sách?
    Nguyễn Xuân Xanh2Diễn đàn
    10:30' CH - Chủ nhật, 19/03/2017
    • Không có thú vui nào trên thế giới có thể so sánh được với thú vui đọc sách. Khi người ta cảm nhận được sự đàm thoại riêng tư với thế giới người hiền, thì đó là thú vui duy nhất không lệ thuộc vào người khác.. (Kaibara Ekken (1630-1714))
    • Chúng ta có thể nhân bản hơn bằng cách trở thành hoàn vũ hơn.
      (Okakura Tenshin (1862-1913))
    Tóm tắt

    Những lý do nào khiến dân tộc Nhật đã có một văn hoá đọc có thể nói vào bậc nhất thế giới? Văn hoá đọc này không phải chỉ bỗng dưng bùng nổ vào thời Minh Trị Duy Tân 1868 khi đất nước được mở cửa, hướng về phương Tây, mà có gốc rễ sâu xa từ thời Tokugawa 1600-1868, từ lúc dân tộc chỉ có văn hoá võ sĩ trên chiến trường, từ lúc thầy tu khoẻmạnh cũng muốn ra trận để thi thố tài năng đi tìm hạnh phúc. Cách đây 300 năm Nhật Bản đã có những con số "khủng" về giáo dục và văn hoá đọc. Những lý do nào khiến cho một dân tộc võ sĩ lại trở thành mê đọc sách như thế? Và đọc sách để làm gì? Tại sao không phải các dân tộc có truyền thống văn sâu đậm như Trung Hoa hay Việt Nam mà lại một dân tộc có truyền thống võ như Nhật Bản? Hai trăm sáu mươi năm tự đóng kín cửa như "hến" sau khi đuổi hết người truyền giáo phương Tây khỏi nước (cùng thời với Việt Nam), nhưng tại sao mảnh đất Nhật Bản lại "ngậm" được viên ngọc 'Tây học' (Western learning, thông qua 'Lan học', Rangaku) hình thành bên trong, từ chất "nọc độc của người man di", để rồi viên ngọc khai minh đó biến thành quốc sách thời Minh Trị? Một sự lặp lại kỳ thú của lịch sử: châu Âu đã từng có cuộc dịch thuật vĩ đạithế kỷ 11 và 12 lúc đại học châu Âu ra đời để làm nền tảng phát triển khoa học và văn hoá, thì tương tự, ở phương Đông, Nhật Bản cũng đã có cuộc dịch thuật vĩ đại của mình trong hai thế kỷ thời đóng cửa, giúp chuyển hệ hình tư duy kiểu phong kiến Trung Hoa sang hệ hình khoa học hiện đại phương Tây dù tầng lớp trí thức ở Nhật Bản chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của Khổng giáo, có thể sâu đậm hơn cả giới trí thức Việt Nam cùng thời. Cuộc dịch thuật là khó nhọc và không kém phần nguy hiểm, nhưng trí thức Nhật Bảnđã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao cả của mình đối với quốc gia, rằng họ không thể yêu nước trong sự vô minh.Đọc sách là việc làm của lòng yêu nước, không phải chỉ để thưởng ngoạn, mà để khai minh và khai sinh một thời đại mới cho đất nước.Đọc sách là thuộc tính của một dân tộc văn hoá có ý thức. Họ không sợ học của kẻ thù, chỉ sợngu muội vì không học. Và họ đã thành công.

    Người ta đã từng nghe nói vềsự đọc sách khủngcủa người Nhật thời Minh Trị Duy Tân, cách chúng ta hôm nay ngót một thế kỷ rưỡi. Thí dụ minh hoạ thường là quyển sách Bàn về Tự do, On Liberty, của John Stuart Mill. Sách được xuất bản ở Anh năm 1859, cùng năm với tác phẩm "Thuyết tiến hoá" của Charles Darwin. Bàn về Tự do là một quyển sách rất có ảnh hưởng ở phương Tây, và ngày nay vẫn còn tiếp tục được đọc. Khi được dịch sang tiếng Nhật quyển sách đã bán trên triệu bản.

    Một quyển sách khác, có lẽ ít được biết hơn đối với độc giả Việt Nam, là Tự lo, Self-Help của Samuel Smiles. Quyển sách này là best-seller ở phương Tây, đến cuối thế kỷ 19 bán được số lượng 250.000 ở Anh Mỹ, nhưng khi được Nakamura Masanao, một học giả Khổng giáo từng học bên Anh, dịch sang tiếng Nhật những năm đầu của thời Minh Trị thì quyển sách bán đến một triệu bản! (Nakamura cũng là người dịch quyển Bàn về Tự do) Một con số thật "khủng" nếu ta biết rằng thời đó dân số Nhật Bản chỉ khoảng trên 30 triệu thôi. Self-Help là một trong ba quyển sách được gọi là "Bộ kinh thánh Minh Trị" có sức hút mãnh liệt đối với người Nhật, nhất là giới trẻ, trong giai đoạn đất nước đổi mới của Nhật Bản. Cuốn sách Tự lo thể hiện tinh thần độc lập tự chủ của các cá nhân, và từ đó làm cho quốc gia độc lập và tự chủ. Cuốn sách mượn lời của J.S. Mill ngay trang đầu: "Giá trị của nhà nước, xét lâu dài, là giá trị của các cá nhân cấu thành." Đó là tín hiệu mà quyển sách muốn truyền đạt: Muốn có một đất nước mạnh, độc lập, phải có những cá nhân mạnh và độc lập, thông qua tự rèn luyện, tự lo. Đó là điều kiện tiên quyết.

    Nói chung vào thời mở cửa Minh Trị Duy Tân, dân tộc Nhật lên cơn sốt đọc sách nước ngoài để biết phương Tây đã làm gì và đang làm gì mà "nước giàu quân mạnh"như thế.Họ muốn biết và muốn học, để xây dựng đất nước hùng mạnh như các cường quốc phương Tây. Chỉ có được một nền văn hoá lớn, một xã hội phú cường, khi nào mọi người được học như nhau, khi mọi người có quyền ao ước và có điều kiện vươn lên khỏi chức phận cũ của mình. Tinh thần này, ethos, được diễn tả mạnh mẽ trong tác phẩm "Khuyến học", Gakumon no susume, của nhà khai minh Fukuzawa Yukichi (1835-1901): "Con người không sinh ra cao quý hay thấp hèn, giàu sang hay nghèo khó. Chính những ai lao động siêng năng ở những công việc tìm tòi của họ, và học nhiều, sẽ trở thành cao quý và giàu có, trong khi những ai biếng nhác sẽ trở thành nghèo khó, thấp hèn."

    Hai sự kiện sau đây ở thế kỷ 20 minh hoạ thêm óc tò mò học hỏi đặc biệt của người Nhật, điều mà các nhà truyền giáo phương Tây đã ghi nhận khi tiếp xúc với những dân tộc này, so sánh với các dân Trung Hoa hay Hàn Quốc mà họ biết trướcđó. Năm 1922 khi Einstein thực hiện lời mời sang thăm và diễn thuyết khoa học tại Nhật thì nước Nhật vừa có ngay một tuyển tập Einstein gồm bốn quyển. Lúc đó không đâu ở châu Âu hay ở Mỹ có tuyển tập này. Tương tự, ba năm trước đó, 1919, Nhật Bản cũng là nước đầu tiên xuất bản tuyển tập Các Mác, Ăng-Ghen. Cũng không đâu trên thế giới, kể cả Nga, Đức là những nơi có phong trào xã hội chủ nghĩa mạnh nhất thế giới có tuyển tập này. Người Nhật quả muốn biết hết những nghĩ gì thế giới trước đó.

    Công ty ra đời đầu tiên thời Minh Trị Duy Tân kinh doanh gì? Được sách sử ghi lại, đó là công ty nhập khẩu và kinh doanh sách Maruzencủa Hayashi Yuteki. Năm 1869 ông Hayashi Yuteki mở công ty đầu tiên tại Yokohama có tên Maruya, và năm sau mở thêm cửa hàng thứ hai tại Nihonbashi, khu phố cổ trung tâm sầm uất và thời trang nhất của Tokyo lúc bấy giờ! Năm 1880 Hayashi chuyển doanh nghiệp chính thức thành công ty TNHH Maruzen. Sách là mặt hàng đi đầu trong "cuộc chấn hưng dân khí".Phần lớn các học giả và nhà văn đều là khách hàng của Maruzen, trong đó có hai nhà văn lớn Akutagawa Ryunosuke và Natsume Sōseki. Hayashi Yuteki vốn là một thầy thuốc hành nghề rồi sau đó trở thành học trò của nhà khai minh Fukuzawa Yukichi. Ngoài các hiệu sách, Maruzen còn xuất bản một nguyệt san cho giới văn sĩ, học thuật có tên "Ánh sáng của Khoa học", Gakutō. Một thời gian dài Maruzen là cửa sổ duy nhất nhìn ra phương Tây. [Công ty sách này ngày nay vẫn còn tồn tại, hoạt động rộng rãi, có doanh số năm 1996 hơn một tỉ Euro với 2.100 nhân viên. Khách hàng của họ là nhiều đại học, cơ quan chính quyền và viện nghiên cứu.]

    Chúng ta tự hỏi Vì đâu mà người Nhật lại có cái đam mê đọc sách cuồng nhiệt và sự đánh giá cao sách vở như thế? Có phải dân tộc này chỉ mê đọc sách thời Minh Trị khi bừng tỉnh sau 'cơn ngủ đông' mấy trăm năm trước đó không? Dân tộc Trung Hoa cũng từng ngủ đông dài như thế, và một số dân tộc khác cùng dòng văn hoá Khổng Mạnh, nhưng tại sao không có cái đam mê đọc sách như dân Nhật?


    Một truyền thống lâu đời

    Thực ra người Nhật đã có truyền thống đọc sách khủng lâu đời, ít ra từ thời Tokugawa 1600-1686. Trong thời đầu của Tokugawa Ieyasu, người thống nhất đất nước và lập nên triều đại Tokugawa hoà bình 265 năm lâu dài nhất lịch sử, thì chuyện một samurai có thể diễn đạt được ý tưởng của mình một cách mạch lạc trên giấy trắng mực đen là điều hi hữu, và tình trạng mù chữ là bình thường. Văn hoá Nhật Bản trước 1600 là văn hoá võ sĩ. Nhưng vào cuối thế kỷ 18, có thể nói một samurai mù chữ là một điều hụt hẫng đáng buồn, và tới giữa thế kỷ 19, tình hình lại khác nhau một trời một vực.

    Trong thời Genroku(1688-1704), được xem là thời vàng son của Tokugawa với kinh tế ổn định, nghệ thuật và văn chương phát triển, Nhật Bản đã có một hệ thống xuất bản sách hiện đại đáng ngạc nhiên, đặc trưng bởi sự hiện hữu của nhiều nhà xuất bản lớn, nhiều nhà minh hoạ sách có tiếng và nhiều nhà văn tên tuổi. Sách thường được xuất bản với số lượng đến hơn 10.000 bản! Đây là một con số "khủng" thời đó; Nhật Bản lúc đó chỉ có chừng 20 triệu người, vì thời Minh Trị dân số Nhật Bản khoảng 30 triệu. Năm 1692 Nhật Bản cũng đã từng có những bộ danh mục hàng chục tập về các sách in dành cho công chúng sử dụng. (Hiện nay VN chưa có được những bộ danh mục như thế tại các nhà sách).

    Con số phát hành 10.000 bản là rất đáng ghen tị cho những nhà xuất bản và tác giả Việt Nam hiện nay, đất nước với gần 90 triệu dân. Trong gần mười năm qua từ khi loại sách khai trí bắt đầu xuất hiện, có mấy tác giả nào có số ấn bản tương đương như thế? Cho nên số ấn bản 10.000 của người Nhật thời Tokugawa cách đây 300 năm quả là con số "khủng"! [Việt Nam lúc bấy giờ đang trong giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh, không hiểu giáo dục và văn hoá đọc sách ra sao.]

    Thương mại sách ở Nhật bắt đầu phát triển mạnh từ đầu thế kỷ17. Giới đọc sách truyền thống như quý tộc, tu sĩ và thượng lưu trong thành phố được mở rộng sang các giới đại chúng. Mặc dù số lượng phát hành cao, nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu đọc sách của các tầng lớp dân chúng, văn hoá đọc sách thuê, ra đời trong thời Kan'ei (1624-44), trở nên phổ biến,đặc biệt tại các thành phốlớn như Edo, Kyoto và Nagoya. Các cửa hàng cho thuê sách, kashihonya, đóng vai trò quan trọng ở đây. Cuối thếkỷ18 các cửa hàng cho thuê sách có mặt khắp nơi ở Edo (tức Tokyo) và các tỉnh. Khách hàng được phục vụ bởi những người đi rong mang thùng sách trên lưng. Sách vở có thể đi đến tận các hải đảo xa xôi. Edo có 650 cửa hàng cho mượn sách năm 1808, nhưng đến 1832 đã có tới 800. Edo có dân số khoảng hơn triệu, và tỉ lệ biết chữ lên đến 70%. Một cửa hàng cho mượn sách ở Nagoya, tên Daisō của Sōhachi, như lịch sử còn ghi, được thành lập năm 1767 và hoạt động 132 năm liền, đến khi chấm dứt hoạt động có một danh mục đến 26.768 quyển sách cho mượn.

    Nhật Bản thế kỷ18 có những thành phố lớn phát triển với dân số tập trung cao như châu Âu. Edo có trên một triệu dân, nhất thế giới, hơn cả Paris. Các thành phố khác như Osaka có con số non một triệu. Nhật Bản có văn hoá thành thị, có cả văn hoá salon (zashiki), đời sống sung túc rõ nét như ởchâu Âu thời Trung cổ. Và đó cũng là điểm hấp dẫn đối với giới thương nhân nước ngoài khi họ kêu gọi Nhật Bản mở cửa. [Việt Nam lúc đó chưa được như thế về mặt phát triển kinh tế.]

    Chúng ta hỏi: Từ đâu người Nhật có sự đam mê đọc sách như thế? Động lực nào?


    Nguồn gốc đọc sách: văn đi trước võ

    Sự học tại Nhật Bản trước 1600 là độc quyền của giới quý tộc và tăng lữ, nhưng đến thời Tokugawa trở thành công việc của cả nước. Năm 1615 tướng quân Tokugawa Ieyasu, sau khi đã bình định được gần ba trăm phiên trấn (han), thiết lập nên một thể chế chính trị gần như liên bang, phát đi mệnh lệnh như một 'big bang' cho các đại danh, daimyō, chủ phiên trấn và các võ sĩ, samurai: Điều 1 của mệnh lệnh nói: "bun bên tay trái, bu bên tay phải". Bun là văn, sự học, là cây bút, trong khi bu là võ, nghệ thuật chiến tranh, từ đó chữ bushi là võ sĩ, bushido là võ sĩ đạo. Như thế Điều 1 nói "quyển sách bên tay trái, thanh gươm bên tay phải",và văn đi trước võ, để có thể trị nước lâu bền. Các võ sĩ Nhật dần dần trở thành giai cấp cầm quyền có học.Ở Nhật Bản, cầm quyền là việc của giai cấp của samurai, cha truyền con nối, không phải việc của các Khổng nho như ở Trung Hoa hay Việt Nam, Triều Tiên. Khổng nho cao lắm chỉ được làm tư vấn với đồng lương thấp. Nhật Bản cũng có xếp hạng "sĩ, nông, công, thương" (shi, nō, kō, shō) dưới ảnh hưởng của Khống giáo Trung Hoa, nhưng ở đây sĩ không phải là nho sĩ, mà là võ sĩ.

    Cácdaimyō giờ đây phải học văn hoá, các loại khoa học và nghệ thuật quản lý đất nước.Một daimyō có học phải đọc sách hằng ngày. Để phục vụ cho việc học tập của daimyō, và các gia thần, thư viện được thành lập, sách vở được sưu tầm một cách qui mô, và trở thành biểu tượng cho tri thức. Thư viện bao gồm các loại sách về lịch sửNhật Bản và Trung Hoa, các sách về Khổng giáo, Phật giáo và Thần giáo; sách về nghệ thuật quân sự, chiến lược quân sự, địa lý, thiên văn, kinh tế, toán học, y khoa và vô số sách về văn chương cổ điển. Bản thân tướng quân Ieyasu từng lập thư viện cho mình. Nhật Bản mỗi thời đều có những thư viện nổi tiếng, nhưng vào thời Tokugawa, Nhật Bản có nhiều thư viện nhất chưa bao giờ thấy trước đó. Fukuzawa Yukichi (1835-1901) đã ghi lại trong "Tây dương sự tình" sự quan sát đặc biệt của ông về các thư viện phương Tây khi ông có dịp đi tham quan:

    Trong những thành phố lớn của phương Tây đều có các sưu tập sách được gọi là "thư viện", ở đó tất cả được sưu tầm, từ sách cho nhu cầu hàng ngày đến những loại sách hiếm, và sách trong nước cũng như từ nước ngoài. Người dân đến và có thể đọc quyển sách mình muốn, dù không phải là mỗi ngày. Thư viện Anh có 800.000 quyển, của St. Peterburg 900.000, và của Paris 1,5 triệu. Người Pháp nói rằng, nếu đem tất cả sách xếp nối đuôi nhau, chúng ta sẽ có một chiều dài 7 dặm.

    [​IMG]
    Tướng quân Tokugawa Ieyasu, người tạo cú hích cho "big bang" văn hoá đọc sách của Nhật Bản.
    (Nguồn: Wikipedia)


    Phát triển giáo dục

    Văn hoá đọc sách gắn liền với giáo dục. Tokugawa là thời kỳ của sự bùng nổ giáo dục, hệ thống trường học, phục vụ cho nhiều đối tượng, nhiều đẳng cấp, trường trung ương của shogun, trường phiên của các daimyō, trường tư, cho dân thường và trường hỗn hợp cho cảs amurai và dân thường. Vài con số dưới đây sẽ làm chúng ta thêm ngạc nhiên để thấy mối tương quan giữa văn hoá đọc và giáo dục.

    Ngoài những trường chính thống dành cho giai cấp samurai của Mạc phủ,như "Hàn lâm Khổng giáo", Shōheikō, thành lập năm 1630, và trường của các phiên, còn có các loại trường như trường terakoyacho thường dân; trường gōgaku dành cho cả con em samurai lẫn thường dân học chung, được chính thức hỗ trợ từ nhà nước, báo trước loại giáo dục hiện đại phi đẳng cấp sẽ ra đời thời MinhTrị. Ngoài ra có loại trường tư thục,shijuku, privat academies, với khoảng 1.500 trường, từ qui mô nhỏ vài ba chục đến qui mô lớn cả ngàn sinh viên, cạnh tranh với các trường trung ương hay trường phiên, dành cho cả samurai và thường dân mọi tầng lớp.

    Tại phiên Chōshō, một trong những phiên quan trọng trong việc lật đổ Mạc phủ để phục hồi thiên hoàng, nhiều samurai nổi loạn và trở thành lãnh đạo của chính phủ Minh Trị đã từng là học trò của nhà yêu nước Yoshida Shōin (1830-1859) tại trường tư thục do ông thành lập. Shijuku thường phục vụ cho giáo dục cao cấp (advancededucation), đi vào nghiên cứu, là trường của những người muốn tiến thân vào học thuật. Đó là loại trường "vườn ươm nhân tài", bất kể từ đâu đến, samurai hay thương gia, thầy tu, tạo nguồn nhân lực quốc gia, jinzai (human resource), điều cũng được các giới chính quyền trung ương và địa phương ủng hộ. Theo tinh thần của jinzai, việc tuyển mộ nhân sự được dựa trên cơ sở tài năng hơn là nguồn gốc thân thế, và tài năng có thể đi từ phiên này sang phiên khác sống. Ngoài ra còn các trường dạy nghề và trường tôn giáo.

    [​IMG]
    Một trường terakoya (Nguồn: Wikipedia)

    Năm 1868 khi Nhật Bản Minh Trị bắt đầu cuộc duy tân, cả nước đã có 17.000 trường đủ mọi loại! Đây cũng là một con số 'khủng' nữa. Hàng triệu người đã được học hành. [Việt Nam có được bao nhiêu trường học và học sinh lúc đó? Nam Kỳ lúc đó vừa trở thành thuộcđịa Pháp.] Có một ước tính theo đó cuối thời Tokugawa Nhật Bản có khoảng trên 40% con trai và 10% con gái nhận được giáo dục ngoài gia đình. Nhà nước không sợ sự phát triển giáo dục trong nhân dân, và dân chúng cũng đồng tình để cải thiện vị trí xã hội của mình. Phát triển đất nước cần những người có học."Việc đầu tiên cần thiết cho sự trị vì một nhà nước là năng lực con người. Mà năng lực con người thì đến từ sự học"như học giả Khống giáo Dazai Jun(1686-1747) viết.

    Qui mô của trường Nhật cũng không kém phần ngạc nhiên. Trường Shōheikō được xây dựng lại năm 1799 thực tế không phải là một ngôi trường, mà là một campusto lớn, nhiều dãy nhà ngang dọc, nhiều đường phố trong đó, với một đền thờ Khổng tử lớn tại trung tâm, nó là một cái làng học thuật và đào tạo đúng hơn là một cái trường đơn giản theo quan niệm của chúng ta. Trường Nisshinkantuy có thể nhỏ hơn nhưng cũng rất lớn. Chúng ta biết rằng tại Hoa Kỳ, các đại học dạng campus hình thành chủ yếu từ Luật giao đất Morrill năm 1862 trước khi cuộc nội chiến chấm dứt. Phải chăng, xét về qui mô, các trường của Nhật Bản thời Tokugawa đã đi trước các đại học campus của Mỹ gần cả trăm năm?

    Nước Nhật bước vào hiện đại hoá không phải từ tro tàn của chế độ cũ, mà ngược lại, được xây dựng trên một nền móng văn hoá đã phát triển cao, đa dạng về nội dung học, và vững chắc. Năm 1872 (cũng là năm sinh của cụ Phan Châu Trinh), tức chỉ bốn năm sau khi vua Minh Trị được phục hồi, một chế độ giáo dục cưỡng bách toàn dân được thực hiện trên khắp nước Nhật, một kỳ công. Điều này sẽkhó có thể được nếu Nhật Bản Tokugawa không có gì cả. Năm 1900 Nhật Bản có tỉ lệ người biết chữcao hơn tỉ lệ của Anh. Đó là một môi trường văn hoá tốt và thiết yếu cho sự phát triển mạnh của khoa học và kỹ thuật.

    Nếuđầu thời kỳ Tokugawa lưỡi gươm là quan trọng, thì vào cuối thời Tokugawa thì quyển sách là quan trọng hơn.

    Trước áp lực của nguy cơ nước ngoài sự học cổ điển dần dần được hiện đại hoá bằng các môn học phương Tây. Các môn tri thức quân sự, luyện kim, vẽ bản đồ,y khoa, hoá học…, cũng như các môn học về các thể chế chính trị,kinh tế các quốc gia phương Tây có sức hút mạnh mẽ. Các daimyō biết nhìn xa gửi sinh viên tài năng đi học tại Nagasaki hay tại những trường Lan học tại Edo và Osaka. Và trong những năm 1850, 1860 họ thành lập các trung tâm Tây học tại các phiên của họ. Các nhà lãnh đạo của Minh Trị Duy Tân như Saigō của phiên Satsuma, Kido, Itō và Inoue của Chōshō, Soejima và Okuma của Saga, Gotō, Sakamoto và Sasaki của Tosa, Yuri của Fuki, Mutsu và Katsu của Mạc phủ, tất cả đều đã một lần học tại Nagasaki, trung tâm Lan học hiện đại của cả đất nước.

    Sự phát triển giáo dục thời Tokugawa gắn liền với sự phát triển văn hoá Edo. Edo là thời kỳ của nghệ thuật và học thuật. Tokugawa chọn con đường đóng kín không phải để suy tàn, mà ngược lại, để phát triển bản sắc Nhật Bản không bị phá rầy, đưa sức sống của dân tộc lên đỉnh cao văn hoá và nghệ thuật, vun xới đạo đức và bản sắc. Đó là thời kỳ của sự tự tôi luyện, sự quyết tâm tự khẳng định mình, biến đổi miếng đất hoang sơ thành một vườn hoa sặc sỡ, phát triển các hình thái nghệ thuật lên cao nhất, để bản sắc Nhật Bản trở thành nền tảng không lung lay được trong thời mở cửa xáo trộn sau, để tài năng Nhật Bản được tinh luyện làm niềm tin của dân tộc. Khi mở cửa, nghệ thuật Nhật Bản đã chinh phục được các quốc gia phương Tây và quốc gia được nể phục.

    [​IMG]
    Tấm bình phong sơn mài hoa Iris của Ogata Kōrin (1658-1716), bậc thầy tiên phong về hội hoạ thời Edo, là thời đại hưng thịnh của nghệ thuật, để lại dấu ấn mãi mãi trong lịch sử Nhật Bản. Otaga Kōrin là tấm gương lớn của những người trường phái ấn tượng đầu tiên của Pháp. Các cuộc triển lãm tranh nghệ thuật của nghệ sĩ Nhật Bản nửa cuối thế kỷ 19 trong thời mở cửa tại châu Âu cũng như tại Hoa Kỳ đã mang đến cho Nhật Bản một sự công nhận lớn trong lãnh vực nghệ thuật. Không phải chỉcó phương Tây chiếm lĩnh Nhật Bản qua các hiệp định thương mại, mà Nhật Bản đã chiếm lĩnh sân khấu nghệ thuật phương Tây qua nghệ thuật. Van Gogh cũng chịu ảnh hưởng của hội hoạ Nhật Bản. Nhiều người Mỹ thừa nhận tính ưu việt của nghệ thuật Nhật Bản. Một làn sóng lớn, "tsunami", du lịch từ phương Tây, nhất là từ Hoa Kỳ đã đổ sang Nhật Bản vì sự ngưỡng mộ dân tộc đặc biệt này. Người Nhật cảm thấy tự tin khi bước vào sân chơi của cộng đồng các cường quốc. (Ảnh: nguồn Wikipedia)

    Lan học, cuộc dịch thuật vĩ đại

    Còn một sự kiện 'khủng' khác cần được nói lên ở đây. Đó là cuộc dịch thuật vĩ đại hai thế kỷ của giới trí thức Nhật Bản trong thời Tokugawa tự đóng cửa. Sáu năm sau khi Copernicus qua đời (1543) và tác phẩm cách mạng Về chuyển động quay của các thiên thể xuất bản, Nhật Bản tiếp xúc với những người phương Tây đầu tiên. Nhưng năm mươi năm sau, Nhật Bản, như chúng ta biết, chọn con đường đóng kín cửa, "toả quốc", sokoku, từ 1640 (Việt Nam từ 1630), khi thấy sự phát triển của Kitô giáo là nguy hiểm cho tinh thần dân tộc và cho quyền lực. Nhật Bản chỉ chừa một cửa thông thương duy nhất với Hà Lan tại Dejima, Nagasaki. Sự đóng kín này kéo dài cho đến hết thời Tokugawa năm 1868. Vậy mà trong điều kiện đó, đây là điều Việt Nam không có, trí thức Nhật Bản đã làm một cuộc dịch thuật vĩ đại sách vở phương Tây. Tuy không quyển sách nào thoát khỏi bàn tay kiểm duyệt nghiêm ngặt của Mạc phủ, tuy giới học giả phải làm việc trong điều kiện khó khăn, đôi khi phải trả giá bằng tính mệnh, nhưng họ đã làm nên một cuộc dịch thuật vĩ đạ itừ cái được gọi là Lan học, rangaku, Dutch learning ("Lan" là gọi tắt của Hà Lan), bắt cầu cho khai trí, khoa học, kỹthuật để Minh Trị Duy Tân bước tới mạnh mẽ.

    [​IMG]
    Siguta Gempaku, người tạo cú hích mạnh mẽ
    cho Lan học (Nguồn: Wikipedia)


    Trí thức Nhật, nhất là giới bác sĩ, đặc biệt chú ý đến khoa học kỹ thuật từ châu Âu qua các tác phẩm dịch từ tiếng Hà Lan. Họ nhìn thấy trong đó một nền văn minh mới xuất hiện, và ý thức rằng, nếu một ngàn năm trước Nhật Bản đã từng gửi học giả và tăng lữ sang Trung Hoa để học văn hoá, thì nay, họ cũng đang đứng trước một nền văn minh mới đồ sộ cần phải học hỏi, và họ phải tựhọc trong sự dè chừng của Mạc phủ. Qua Lan học- hay Tây học qua tiếng Hà Lan - người Nhật học hầu như tất cả các môn khoa học và công nghệ phương Tây: y khoa, sinh học, thiên văn, toán học, vật lý, hoá học, điện, cơ học, máy bơm, đồng hồ, máy hơi nước, kính thiên văn, kính hiển vi, luyện kim, đúc súng, đóng tàu…Họ thường xuyên theo dõi sự tiến bộ khoa học công nghệ châu Âu. Các thương nhân Hà Lan ngay từ đầu được Mạc phủ yêu cầu hàng năm viết báo cáo (fōsetsugaki) cho chính phủ tướng quân về tình hình thế giới, và về cuộc cách mạng công nghệ và khoa học ở châu Âu.

    Từ thế kỷ 18, tức khoảng một thế kỷ sau tác phẩm Principia của Newton, các học giả Lan học đã nắm bắt được vật lý Newton, họ đã dịch được các khái niệm như "trọng lực" (jōryoku), "lực hút" (inryoku), "lực ly tâm" (enshinryoku), "khối tâm" (jōten, centre of mass) vẫn còn được sử dụng ngày nay. Các học giả Lan học đã hiểu các hiện tượng điện, tĩnh điện, hiểu nguyên lý ắc-quy của Volta đầu thế kỷ 19, chỉ mấy năm sau khi Volta phát minh ở châu Âu. Họ hiểu hoá học của Lavoisier, có thể chế tạo kính thiên văn không lâu sau Hans Lippershey và Galilei đầu thế kỷ 17; chế tạo đồng hồ, máy bơm, súng hơi, chế tạo những con búp bê cơ khí tự động phục vụ trà. Đặc biệt máy hơi nước được Nhật Bản chế tạo lần đầu tiên năm 1853. Người Nhật đã đóng được tàu chiến chạy hơi nước chỉ hai năm sau cuộc gặp gỡ lịch sử với Commodore Perry 1853. Tất cả cũng chỉ dựa trên bản vẽ. Một quan chức Hà Lan bình luận rằng "Tuy có những sự không hoàn chỉnh về chi tiết, nhưng tôi phải ngã mũ trước dân tộc thiên tài có khả năng chế tạo những thứ này mà họ không hề thấy một chiếc máy thực ngoài đời, chỉ dựa trên các bản vẽ đơn thuần."

    Cuộc dịch thuật diễn ra trong hai thế kỷ với hàng ngàn cuốn sách được xuất bản và truyền bá trong giới học thuật, làm cho người ta nhớ đến cuộc dịch thuật vĩ đại văn minh Hy Lạp cổ đại và Ả rập vào châu Âu hai thế kỷ 11 và 12 đúng lúc đại học châu Âu đang hình thành, làm cho đại học và khoa học châu Âu phát triển mạnh mẽ. Chỉ có khác một điều: trong khi cuộc dịch thuật ở châu Âu được phần lớn các học giả Ả rập thực hiện thì ở Nhật Bản cuộc dịch thuật được do chính người Nhật thực hiện, những người được đào tạo từ một nền văn hoá rất khác. Phương Đông chưa có cuộc dịch thuật nào như cuộc dịch thuật Nhật Bản phản ảnh trung thực nền khoa học kỹ thuật phương Tây. (Cuộc dịch thuật ở Trung Hoa bởi các nhà truyền giáo bóp méo một phần khoa học vì mục tiêu truyền giáo, và gặp sức ỳ mãnh liệt của sự tự mãn văn hoá Trung Hoa). Đây là một sự lặp lại kỳ thú của lịch sử giữa Tây và Đông. Hai trăm năm dịch thuật ở Nhật Bản Tokugawa cũng là thời gian tại châu Âu diễn ra các cuộc cách mạng khoa học, công nghiệp dữ dội, tạo nên sự mất cân bằng lực lượng nghiêm trọng trên thếgiới dẫn tới thay đổi lớn lao chưa từng có trong lịch sử loài người. Người Nhật đã biết tiếp cận các cuộc cách mạng đó từ xa để chuẩn bị mình.

    Người Nhật không thể yêu nước trong sự mê muội, vô minh, lại càng không yêu nước bằng những nội dung khuôn sáo không thực chất."Chúng ta cảm thấy xấu hổ làm sao khi khám phá ra sự ngu dốt của mình" với tư cách là người phục vụ đại danh và đất nước, như một lời tự thú của Siguta Gempaku (1733-1817), một bác sĩ tên tuổi và là người đã tạo cú hích quan trọng cho Lan học cuối thế kỷ 18, sau khi ông chứng kiến rằng cấu trúc của cơ thể con người không giống như sách vở của Trung Hoa hay Nhật Bản bấy lâu nay, mà giống chính xác các bản vẽ cơ thể học của một quyển sách từ phương Tây (Tafel Anatomia), sau đó được Gempaku và các đồng nghiệp dịch ngay sang tiếng Nhật, tạo cú hích mạnh mẽ cho phong trào Lan học.

    Kết luận

    Nói tóm lại, Nhật Bản là một dân tộc có óc tò mò không bao giờ nguôi, tinh thần khao khát học hỏi cái mới mãnh liệt không bao giờ tắt, và khả năng hiểu biết nhanh chóng, để hoàn thiện mình, để bảo vệ đất nước,để "kiểm soát những người man di bằng tri thức của họ", và vì thế họ đọc sách dữ dội, và đã thành công dữ dội.

    Thế kỷ thứ bảy và tám họ đã từng vượt biển trong hiểm nguy để học văn hoá Trung Hoa đem về xây dựng nền tảng văn hoá riêng của họ. Rồi một ngàn năm sau, cũng trong khó khăn và nguy hiểm, giới trí thức đã tiến hành cuộc dịch thuật văn hoá phương Tây hai thế kỷ liền, và từ 1868 trở đi một cách bùng nổ, để có thể nhanh chóng hiện đại hoá đất nước với mục tiêu trở thành ngang bằng với các cường quốc phương Tây. Đó là hai sựkiện trọng đại nhất trong lịch sử văn hoá nước Nhật. Và họ đã thành công. Họ bỏ lại Trung Hoa từng là trung tâm văn hoá đối với họ,để rồi chính Trung Hoa sau đó phải học lại họ. Nhật Bản đã từng trở thành trung tâm văn hoá mới và niềm hy vọng ở phương Đông, thay thế cho cái trung tâm Trung Hoa cũ đang rệu rã.

    Nhật Bản là tấm gương "tổng hợp văn hoá Đông Tây" của thế giới mà không mất đi bản sắc sâu đậm của mình. Họ là một tấm gương tuyệt vời của sự tự-khai trí vươn lên. Họ đóng cửa mà không hư hỏng hay hỗn độn. Ngược lại, họ đóng cửa để phát triển các tố chất dân tộc thành tinh hoa, làm bước chuẩn bị cho giai đoạn phát triển tiếp vững chắc, không chao đảo khi mở cửa ồ ạt thời Minh Trị.Họ là một dân tộc văn hoá đáng kính phục.

    Charles Darwin nói đâu đó trong lá thư gửi cho một người bạn, rằng đối với ông Nhật Bản là một kỳ quan trong những những kỳ quan của thế giới, nếu không muốn nói là kỳ quan lớn nhất.

    Chúng ta người Việt Nam nên học văn hoá đọc sách độc đáo của người Nhật, óc tò mò của họ, học để sáng tạo cho đất nước. Nếu chỉ học với mục đích có được một nghề để sống, điều đó quý cho bản thân, gia đình, nhưng dễ dẫn đến sự tự mãn làm cho người ta không đọc sách nữa khi đã đạt được mục đích. Với tinh thần đó, Việt Nam chỉ có cá nhân chứ không có quốc gia. Chỉ có đọc sách với tinh thần người Nhật là muốn hiểu biết thế giới đã, đang nghĩ gì, làm gì để tái tạo tinh hoa thế giới và sáng tạo cái mới làm giàu đất nước Việt Nam, điều đó mới giúp cho chúng ta đọc sách mãi mãi không thôi, đọc cuồng nhiệt trong thế giới tri thức vô tận. Và chỉ trên cơ sở đó, văn hoá đọc mới có thể thăng hoa. Không phải chỉ vài ngàn, mà hàng triệu các bản sách hay mới có thể được đọc giả hâm mộ và háo hức đón nhận. Và cũng chỉ trên cơ sở đó, nhân dân mới nhanh chóng ấm no, đất nước mới phú cường, giang san mới bền vững.

    Mùa Hội sách Thành phố, tháng Ba, 2012
    Nguyễn Xuân Xanh
    Last edited: 30/08/2017
    hunhit646Fibiz đã loan bài này
  2. iStockVn

    iStockVn Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/08/2010
    Đã được thích:
    5.248
    Từ đọc sách đến khai minh của người Nhật
    TS. Nguyễn Xuân Xanh
    07:18' SA - Thứ năm, 10/04/2014
    Các cộng đồng dân tộc trong cơn lâm nguy không nhất thiết tìm kiếm sự an toàn cho mình bằng sự đổi mới; thông thường họ tái khẳng định truyền thống và càng bám chặt nó một cách cương quyết hơn. (Thomas C. Smith)

    Trình độ văn minh của một đất nước có thể được đo lường bằng tri thức và đức hạnh của cả dân tộc đó. (Fukuzawa Yukichi)

    Người Nhật nổi tiếng trong lịch sử là dân tộc đọc sách vào bật nhất thế giới. Quyển “Tự lo”, Self-Help của Samuel Smiles từng là best-seller tại Anh, Mỹ, bán được 250.000 quyển cuối thế kỳ XIX, nhưng khi được dịch sang tiếng Nhật đầu thời Minh Trị (1868) bán đến một triệu bản! Một con số thật “khủng”, dân số Nhật Bản lúc đó chỉ khoảng 30 triệu. Nhiều quyển sách khác cũng được bán với con số tương tự. Rồi đầu thế kỷ XX, tuyển tập Einstein, tuyển tập Mác-Ăng Ghen đã ra đời đầu tiên tại Nhật Bản, không phải ở phương Tây. Sự tò mò của người Nhật có thể nói là vô hạn. Thời Minh Trị, Công ty TNHH ra đời đầu tiên là Công ty nhập khẩu và kinh doanh sách Maruzen. Sách là nền tảng tri thức để chấn hưng đất nước.

    Nhưng tác giả phương Tây có ảnh hưởng bậc nhất ở Nhật Bản thời Minh Trị có lẽ là Herbert Spencer (1820-1903), hơn cả John Stuart Mill và các tác giả kinh điển khác của phương Tây. Ông được biết với khái niệm survival of the fittest, tức “khôn sống mống chết”, hay thuyết tiến hóa xã hội Darwin áp dụng cho các quốc gia; các dân tộc sống chung cũng theo qui luật sàn lọc của tiến hóa: mạnh, thích nghi nhất để tồn tại, để hạnh phúc. Spencer cũng nổi tiếng về những vấn đề dân quyền. Cuối thế kỷ XIX nhiều phần đất thế giới lần lược rơi vào tay các cường quốc phương Tây, trong đó có Burma và Indochina. Trong thời gian 1877-1900 có ba mươi hai bản dịch và một bài nghiên cứu các bài viết của Spencer vào Nhật Bản. Riêng quyển Social Statics (Tĩnh học xã hội) nói về dân quyền của ông nổi tiếng đến độ dịch giả Matsushima Takeshi được nxb thưởng ¥2.500, tức 100 lần hơn so với tiền công dịch chính thức là ¥25.

    Văn hóa đọc của Nhật Bản không phải bỗng dưng bùng nổ vào thời Minh Trị khi đất nước được mở cửa, hướng về phương Tây, mà có gốc rễ sâu xa từ thời Tokugawa 1600-1868, từ lúc dân tộc chỉ có văn hóa võ sĩ trên chiến trường, từ lúc thầy tu khỏe mạnh cũng muốn ra trận để thi thố tài năng đi tìm hạnh phúc. Cách đây 300 năm Nhật Bản đã có những con số “khủng” về giáo dục và văn hóa đọc, hai cái gắn liền nhau.

    Trong thời vàng son Genroku (1688-1704), Nhật Bản đã có một hệ thống xuất bản sách hiện đại đáng ngạc nhiên, với nhiều nhà xuất bản lớn, nhà minh họa và nhà văn tên tuổi. Sách thường được xuất bản với số lượng đến hơn 10.000 bản! Một con số “khủng” cách đây 300 năm. Năm 1692 Nhật Bản cũng đã từng có những bộ danh mục hằng chục tập về các sách in dành cho công chúng sử dụng (Việt Nam hiện nay chưa có).

    Mặc dù số phát hành cao, nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu đọc sách của các tầng lớp dân chúng, văn hóa đọc sách thuê trở nên phổ biến, đặc biệt tại các thành phố lớn như Edo (Tokyo), Kyoto và Nagoya, với những cửa hàng cho thuê sách, kashihonya. Cuối thế kỷ XVIII các cửa hàng này có mặt khắp nơi ở Edo (tức Tokyo) và các tỉnh. Khách hàng được phục vụ bởi những người đi rong mang thùng sách trên lưng. Edo có 650 cửa hàng cho mượn sách năm 1808, nhưng đến 1832 đã có tới 800. Edo có dân số khoảng hơn triệu, và tỉ lệ biết chữ lên đến 70%. Một cửa hàng cho thuê sách ở Nagoya, tên Daisō, được thành lập năm 1767 và hoạt động 132 năm liền, đến khi chấm dứt có một danh mục đến 26.768 quyển sách cho thuê.

    Thời Tokugawa giáo dục bùng nổ, với hệ thống trường học phục vụ nhiều đối tượng, đẳng cấp: trường trung ương của Mạc phủ, trường bang của các daimyō (như Shōheikō Hàn lâm Khổng giáo nổi tiếng), trường terakoya cho thường dân, trường tư shijuku cho samurai lẫn dân thường, một loại trường phi đẳng cấp (sẽ được thực hiện trong thời Minh Trị khắp cả nước, giống như cải cách trường học của Humboldt đầu thế kỷ XIX). Vài con số dưới đây sẽ làm chúng ta thêm ngạc nhiên để thấy mối tương quan giữa văn hóa đọc và giáo dục. Trường tư thục thời Tokugawa đã có đến 1.500 trường, đủ mọi qui mô, đến cả ngàn sinh viên.

    Một trong những trường tư thục nổi tiếng có tênTekijuku tại Ōsaka được thành lập năm 1835 bởi Ogata Kōan (1810-1863), một học trò y khoa của bác sĩ Đức Siebold ở Nagasaki, và là một trong những học giả Lan học tên tuổi bấy giờ. Trường có nhiều sinh viên nổi tiếng, trong đó có nhà khai sáng Nhật Bản Fukuzawa Yukichi (1835-1901). Ông đã theo học tại trường này từ năm 1855 lúc ông hai mươi tuổi. Trường phát triển nhanh chóng, thu hút đủ mọi thành phần, từ nhà nông, bác sĩ đến samurai. Mục đích của trường là dạy tiếng Hà Lan, trước đó phải có căn bản tiếng Trung Hoa, sau khi học tiếng Hà Lan xong sinh viên chọn một trong những ngành khoa học để học tiếp như khoa học quân sự, ngành đúc súng, thực vật học, hóa học v.v... [Hơn hẳn các trường tư Việt Nam chỉ dạy các ngành kinh doanh chủ yếu.]

    Khi Nhật Bản Minh Trị bắt đầu cuộc duy tân, cả nước đã có 17.000 trường đủ mọi loại! Hàng triệu người đã được học hành. Theo ước tính, cuối thời Tokugawa Nhật Bản có khoảng trên 40 phần trăm con trai và 10 phần trăm con gái nhận được giáo dục ngoài gia đình. Nhà nước không sợ sự phát triển giáo dục trong nhân dân, và dân chúng cũng đồng tình để cải thiện vị trí xã hội của mình. Phát triển đất nước cần những người có học. “Việc đầu tiên cần thiết cho sự trị vì một nhà nước là năng lực con người. Mà năng lực con người thì đến từ sự học” như học giả Khổng giáo Dazai Jun (1686-1747) viết.

    Qui mô của trường Nhật cũng không kém phần ngạc nhiên. Trường Shōheikō thực tế không phải là một ngôi trường, mà là một campus lớn, với nhiều dãy nhà ngang dọc, nhiều đường phố trong đó, với một đền thờ Khổng tử lớn tại trung tâm, nó là một cái làng học thuật và đào tạo đúng hơn. Chúng ta biết các đại học dạng campus của Hoa Kỳ hình thành từ Luật giao đất Morrill năm 1862 trước khi cuộc nội chiến chấm dứt. Phải chăng, xét về qui mô, các trường của Nhật Bản thời Tokugawa đã đi trước các đại học campus của Mỹ gần cả trăm năm?


    Vì sao có những con số khủng về giáo dục và văn hóa đọc của một dân tộc võ sĩ? Sự học tại Nhật Bản trước 1600 là độc quyền của giới quý tộc và tăng lữ, nhưng đến thời Tokugawa trở thành công việc của cả nước. Đến năm 1615 tướng quân Tokugawa Ieyasu, sau khi bình định được gần ba trăm bang (han), thiết lập nên một thể chế chính trị gần như liên bang, đã truyền lệnh cho tất cả các đại danh đứng đầu các bang, daimyō, và cho võ sĩ, samurai rằng (Điều 1): “bun bên tay trái, bu bên tay phải”. Bun là văn, còn bu là võ, từ đó bushi là võ sĩ, bushido là võ sĩ đạo. Tức “quyển sách bên tay trái, thanh gươm bên tay phải”. Và văn đi trước võ để có thể trị nước lâu bền. Võ sĩ là giai cấp cầm quyền ở Nhật Bản, trở thành giai cấp có học, và rất thấm nhuần văn hóa Khổng giáo, khác hơn Trung Hoa hay Việt Nam. Ở Nhật, Khổng nho cao lắm chỉ được làm tư vấn. Nhật Bản cũng có bậc thang “sĩ, nông, công, thương” dưới ảnh hưởng của Khổng giáo Trung Hoa, nhưng ở đây sĩ không phải là nho sĩ, mà là võ sĩ.

    Mệnh lệnh trên có tác dụng của một “big bang” của văn hóa học và đọc sách. Các daimyō phải học văn hóa, các loại khoa học và nghệ thuật quản lý. Một daimyō có học phải đọc sách hằng ngày. Để học, họ lập ra các thư viện, khắp các bang. Nhật Bản mỗi thời đều có những thư viện nổi tiếng, nhưng vào thời Tokugawa, Nhật Bản có nhiều thư viện nhất trước thời Minh Trị.

    Thêm một cái “khủng” nữa, rất lớn và rất có ý nghĩa cho sự vươn lên của Nhật Bản. Tokugawa là chế độ tự đóng kín, ‘tỏa quốc’ (sakoku) suốt 260 năm, sau khi họ đuổi hết người truyền giáo phương Tây 1640 (Việt Nam 1630), chỉ chừa một cảng nhỏ Dejima duy nhất ở Nagasaki thông thương với Hà Lan, và họ kiểm soát nghiêm ngặt việc nhập khẩu sách, để tránh sự xâm nhập của Kitô giáo. Nhưng trong hai thế kỷ, giới trí thức Nhật Bản đã làm được một cuộc dịch thuật vĩ đại, gọi là ‘Lan học’, Rangaku, để biết rõ khoa học, công nghệ phương Tây. Đó là bình minh của nhận thức, giúp cho Minh Trị nhanh chóng thành công. Chính quyền Mạc phủ từng bước cũng nới rộng sự kiểm soát và nhìn nhận những sự ưu việt phương Tây, nhất là sau cuộc Chiến tranh Nha phiến ở Trung Hoa 1840.

    Một sự lặp lại kỳ thú của lịch sử: châu Âu đã từng có cuộc dịch thuật vĩ đại thế kỷ XI và XII lúc đại học châu Âu ra đời để làm nền tảng phát triển khoa học và văn hóa, thì tương tự ở phương Đông, Nhật Bản cũng đã có cuộc dịch thuật vĩ đại của mình trong hai thế kỷ thời đóng cửa, giúp chuyển hệ hình tư duy kiểu phong kiến Trung Hoa sang hệ hình khoa học hiện đại phương Tây dù tầng lớp trí thức ở Nhật Bản chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của Khổng giáo, có thể sâu đậm hơn cả giới trí thức Việt Nam cùng thời. Cuộc dịch thuật là khó nhọc và không kém phần nguy hiểm, nhưng trí thức Nhật Bản đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao cả của mình đối với quốc gia, rằng họ không thể yêu nước trong sự vô minh, như bác sĩ nổi tiếng Sugita Gempaku (1733-1817) nói, người tạo cú hích cho Lan học thành công.

    Nếu đối với người trí thức không thể yêu nước trong sự vô minh thì đối với các nhà lãnh đạo trong chính quyền cũng không thể trị vì đất nước trong sự vô minh. Năm 1882, tức 14 năm sau Phục hồi Minh Trị, người ta đã thống kê thấy có tất cả là 2.170 quyển sách tiếng nước ngoài tại các văn phòng chính phủ, đủ loại tiếng Anh, Pháp và Đức. Nhiều nhất là Đại học Hoàng đế Tokyo, kế đến là bộ tài chánh. Từ đầu thế kỷ XIX Mạc Phủ Tokugawa cũng thành lập văn phòng dịch thuật sách nước ngoài sau đó được gọi là “Viện nghiên cứu sách người man di”, Bansho Shirabesho, rồi được đổi tên thành “Viện nghiên cứu sách phương Tây”, Yōsho shirabesho, sau này trở thành một trong những cơ sở của Đại học Tokyo thời Minh Trị. Đó là nơi tập trung nhiều sách nhất, từ y khoa, toán học, vật lý, địa lý đến quân sự và những đề tài khác về thế giới. Katō Hiroyuki, sau này chủ tịch của Đại học Tokyo, nhớ lại khi ông bước vào Bansho shirabesho: “Tôi tìm thấy những cuốn sách không ai có ở ngoài đời. Khi nhìn vào những quyển sách đó tôi thấy chúng rất thú vị: lần đầu tiên tôi thấy các sách về những đề tài như triết học, xã hội học, đạo đức học, chính trị, luật pháp… đứng trước chúng, những suy nghĩ tôi bắt đầu thay đổi.” Nhiều học giả trẻ sau khi đi qua thư viện này trong vài năm đã hoàn toàn thay đổi quan điểm của mình.


    Một cái “khủng” nữa tôi không thể không kể ra đây về tính xã hội mà chắc chỉ có dân tộc Nhật Bản mới có thôi. Đó là tính hy sinh của xã hội cho việc học của thanh nhiên. Điều này đã được Lafcadio Hearn (1850-1904) người sống và dạy văn học Anh lâu năm tại Đại học Hoàng đế Tokyo đã ghi lại. Xã hội Khổng giáo Nhật Bản có sức kết dính mãnh liệt, không như nó mang tính cá nhân nhiều hơn ở Trung Hoa. Không chỉ những người thầy hy sinh cho người trò, mà hầu như cả xã hội đều ra tay giúp đỡ học sinh, sinh viên. Hoàng gia Nhật dành phần lớn thu nhập cá nhân cho giáo dục công đã đành, các đại danh, những người chủ đất giàu có tranh đua nhau hỗ trợ giáo dục đã đành. Mà xuyên suốt mọi tầng lớp xã hội, các thương gia, nhà ngân hàng, sản xuất - tất cả những người giàu có của các giới thương mại và công nghiệp - đều hỗ trợ việc giáo dục sinh viên; các sĩ quan quân đội, các công chức hành chánh, bác sĩ, luật gia, các giới nghề nghiệp, tóm lại, đều làm như thế.

    Những cá nhân nghèo hơn thì sẽ giúp bằng cách thuê các sinh viên làm người giữ cổng, đưa tin, dạy kèm, họ cho sinh viên chỗ ở hay nội trú, và luôn luôn một ít tiền túi, đổi lấy những dịch vụ nhẹ nhàng. Tại Tokyo và đa số các thành phố lớn, hầu hết các căn nhà lớn đều được bảo vệ bởi sinh viên đề bù lại họ được giúp đỡ. Về phần đóng góp của các thầy giáo cần có một sự đề cập đặc biệt.

    Các giảng viên, giáo sư đại học là những người rất hy sinh, xem việc giúp đỡ sinh viên là một điều tự nhiên. Đa số các thầy ở các trường công đều có đồng lương không dư dả để hỗ trợ tài chánh cho sinh viên, nhưng tất cả những ai có thu nhập cao hơn nhu cầu sống của họ đều có sự giúp đỡ dưới hình thức nào đó… Nhưng không có sự bắt buộc nào của thói quen có thể giải thích được niềm vui của sự hy sinh và sự tồn tại lạ lùng của lý tưởng thời phong kiến được minh họa bởi một số sự kiện đặc biệt. Chẳng hạn: một giáo sư đại học nọ được biết tiếng là hỗ trợ và giáo dục một số sinh viên bằng cách chia gần hết tiền lương của ông cho sinh viên, kéo dài nhiều năm như thế. Ông nhận sinh viên ở nhà, cho nội trú, dạy sinh viên và mua sách cho họ, và trả học phí - chỉ giữ lại cho ông chi phí sống, và giảm cả chi phí sống bằng cách sống bằng những củ khoai lang nóng…

    Một người già hơn bảy mươi tuổi, vẫn dành hết phương tiện, thời gian và tri thức cho lý thưởng trách nhiệm truyền thống của ông. Có bao nhiêu loại hy sinh lạ thường như thế đã được thực hiện bởi những ngưới ít khả năng hơn, điều đó sẽ không bao giờ được biết. Lafcadio kết luận: Hầu như tất cả các công trình giáo dục bậc đại học được thực hiện ở Nhật Bản, dù có sự giúp đỡ của chính phủ, đều là những kết quả của sự hy sinh cá nhân.


    Sự chuyển đổi xã hội Nhật Bản từ xã hội phong kiến sang xã hội công nghiệp là công trình của giới trí thức Nhật Bản, hạt nhân của xã hội mới. Họ là những người “khai mông”, keimō. Thứ nhất, họ khơi dậy tinh thần “văn minh và khai hóa”, bummei-kaika. Việc này được thực hiện bởi nhóm Meirokusha (“Minh lục xã”, Meiji Six Society), xung quanh các nhà khai sáng Fukuzawa, Nishi, Katō, Mori, Tsuda, Nakamura, Kanda và Nishimura. Họ là chuyên gia hàng đầu về văn minh phương Tây, đặc biệt họ thông thạo tiếng Hà Lan, tiếng Anh và tiếng Đức. Những tác phẩm của họ báo trước hừng đông của một thời kỳ mới cho Nhật Bản, gây ra cơn sốt học hỏi văn minh phương Tây.

    Thứ hai, để tạo sự đồng thuận xã hội, họ phải tìm cách bắt chiếc cầu sống chung giữa Khổng giáo và chủ nghĩa tư bản, giữa Khổng giáo với chủ nghĩa thực chứng khoa học phương Tây, giữa Khổng giáo và thương mại, như đã được nước Anh đại diện là sức mạnh tổng hợp của cách mạng công nghiệp, thể chế chính trị, và đội thương thuyền, tàu chiến. Thương mại, vốn đứng hàng cuối trong bậc thang sĩ, nông, công, thương của xã hội Khổng giáo phương Đông, nay được bốc lên vị trí hàng đầu như một đức hạnh của thời đại mới. Giới trí thức phải biện minh được sự đổi mới về mặt đạo đức, phải chứng minh rằng thương mại chỉ là công cụ của sức mạnh nhà nước để lo cho dân, thực hiện trách nhiệm đạo đức của Khổng giáo, rằng Khổng giáo có những lổ hổng to lớn khi chỉ nhấn mạnh phần đạo đức trong xã hội mà quên lãng quyền con người (minken) và quyền tư hữu (bukken), cũng như thiếu vắng một phương pháp khoa học và một ý tưởng về tiến bộ, do đó cần được bổ sung tri thức từ phương Tây.

    Giới khai mông phải học rất nhiều để am tường những tư tưởng, các đặc thù của các xã hội phương Tây, nguồn gốc sức mạnh và quy luật phát triển. Họ không những am hiểu Adam Smith mà còn am hiểu Friderich List, người phê phán Adam Smith làm ngơ trước sự thật là các giai đoạn phát triển khác nhau cần những chính sách khác nhau, bản thân nước Anh cũng đã từng bảo hộ mậu dịch (từ Navigation Acts, 1651) cho đến khi kinh tế Anh mạnh lên chứ không phải chỉ có tự do mậu dịch.

    Trong những năm sau 1850 giới trí thức đi tới kết luận rằng những giá trị của nhà nước và phong kiến không thể được bảo vệ được nữa bằng “súng to tàu chiến lớn”. Một dân tộc có mạnh, phồn vinh hay không, không tùy thuộc vào một vị minh quân, mà tùy thuộc vào vị trí của dân tộc đó trên bậc thang của tiến bộ, tùy thuộc vào hiện trạng tri thức và đức hạnh của cả dân tộc: nghĩa là tùy thuộc vào “tinh thần thời đại”, jisei (“thời thế”), khuynh hướng phát triển của thời đại (Fukuzawa). Chế độ phong kiến với giáo dục Khổng giáo vô tình đã ngăn cản dân tộc tiến lên jisei. Đó là cái nhược điểm của xã hội cũ. Nước Phổ không phải đã thắng Pháp vì Bismarck tài giỏi hơn Napoleon III, mà vì ‘tinh thần thời đại’ của dân Phổ cao hơn tinh thần thời đại của dân Pháp.

    Nhưng súng to tàu chiến, quân đội, công nghiệp không phải khó để tạo ra. Chỉ cần có đủ tiền thì có thể mua. Đó chỉ là những ‘ngoại dạng’ (external forms) của văn minh. “Nhưng còn có một cái gì phi vật chất, cái gì không thể nghe hay thấy, mua hay bán, cho vay hay mượn. Nó tràn ngập khắp quốc gia và ảnh hưởng của nó mạnh đến nổi không có nó không có trường nào, hay các ‘ngoại dạng’ khác trở nên hữu ích. Vật quan trọng tột cùng này chúng ta phải gọi tinh thần của văn minh.” (Fukuzawa)


    Tôi đã nhắc đến thuyết tiến hóa xã hội của Herbert Spencer, giờ tôi xin kết thúc cũng với ý đó, nhưng từ lời nói của một nhân vật lịch sử khác. Trong buổi chiêu đãi Đoàn Iwakura ngày 15 tháng 3 năm 1873 tại Berlin, Thủ tướng Otto von Bismarck của Đức đã có những lời phát biểu sau đây gây ấn tượng mạnh mẽ nhất đối với các nhà lãnh đạo Nhật Bản:

    Giờ đây các quốc gia trên thế giới tất cả đều tỏ ra thân thiện và lễ phép khi họ giao tiếp nhau, nhưng đó chỉ là bề ngoài. Thực tế đằng sau là ngấm ngầm sự mưu hại lẫn nhau và cuộc đấu tranh giành ưu thế…, Nếu có cuộc tranh chấp, các quốc gia lớn sẽ viện dẫn luật quốc tế khi biết họ có lợi; nhưng nếu thấy bất lợi, họ sẽ thay đổi đường lối và sẽ sử dụng quân sự. Còn chúng ta, các quốc gia nhỏ, chỉ biết siêng năng bám vào câu chữ của luật pháp và tuân thủ các nguyên tắc quốc tế, không dám vượt quá.

    Tức thực tế kẻ lớn ức hiếp người bé, kẻ mạnh bắt nạt người yếu. Bismarck cho rằng một dân tộc chỉ chăm sóc tình yêu quê hương thôi không đủ. Nếu không xây dựng được sức mạnh thì đất nước sẽ không giành được sự tôn trọng trên trường quốc tế, độc lập chỉ là niềm hy vọng thôi. Bismarck kết thúc bài diễn văn với những lời sau đây:

    Nhật Bản có nhiều quốc gia đi tìm quan hệ thân thiện với mình, nhưng một quốc gia như nước Đức, quốc gia đánh giá cao các giá trị của sự tự chủ, sẽ là quốc gia thân thiện nhất trong số các quốc gia thân thiện.

    Mori Arinori (1847-1889), Bộ trưởng giáo dục đầu tiên của Nhật thời Minh Trị, người có công lớn như Humboldt của Đức, cũng là người bạn của Spencer, đã thấy trước cuộc đấu tranh sinh tồn của thuyết tiến hóa xã hội đang diễn ra trên thế giới, đã diễn tả sâu sắc ý nghĩa của giáo dục như sau: “Chiến tranh (sensō) không phải chỉ là đánh nhau bằng súng đạn và giết nhau, mà tất cả mọi người Nhật phải được tham gia ngay bây giờ vào cuộc chiến tranh của kỹ năng, kỹ năng của cuộc sống, của công nghiệp, thương mại, tri thức. Và đào tạo thầy giáo phải dựa trên sự chuẩn bị cuộc chiến tranh này. Thua cuộc chiến tranh này là sẽ thua cuộc chiến tranh bằng súng đạn”. Ông nói thêm: “Đất nước chúng ta phải chuyển dịch từ vị trí hạng ba lên vị trí hạng hai, rồi hạng hai lên hạng nhất; và sau cùng lên đến vị trí hàng đầu trong cộng đồng các quốc gia thế giới. Con đường tốt nhất để thực hiện điều này là đặt nền móng cho giáo dục cơ bản”. Đó là sự tiến hóa xã hội của Nhật Bản mà các nhà lãnh đạo Minh Trị đang kỳ vọng.

    Đối với người Nhật, đọc sách là để khai minh, vươn lên bằng thiên hạ, không thua kém bất cứ quốc gia nào. Đọc sách còn là thuộc tính của một dân tộc văn hóa có ý thức để không ngừng phát triển và hoàn thiện mình. Một ngàn năm trước họ đã học Trung Hoa. Một ngàn năm sau họ học phương Tây. Họ không sợ học của kẻ thù, chỉ sợ vô minh vì không học. “Hãy biết kẻ thù” (Tôn Tử). Họ học sớm và học nhiều hơn Trung Hoa là quốc gia đã tiếp xúc với phương Tây trăm năm trước trước họ mà không học được gì, nhưng họ vẫn giữ được bản sắc, “tổng hợp được văn hóa Đông Tây”, trong khi Trung Hoa mới là nước vứt bỏ truyền thống của mình. Nhật Bản đã mang lửa văn minh của thần Prometheus về châu Á để thắp sáng cả vùng. Họ đã thành công, và được thế giới nể phục.


    Một xã hội mà văn hóa đọc kém cõi là một xã hội tự đóng kín, một cách ý thức hay không ý thức, vì lý do này hay lý do kia, và vì thế sẽ bị tước đi các năng lực nhận thức thế giới để cải tạo mình cho phù hợp với “thời thế”, jisei. Không thể cải tạo xã hội phù hợp với đà tiến hóa nhân loại nếu giới tinh hoa không hiểu được thế giới. Nhật Bản sẽ không là Nhật Bản hôm nay nếu giới tinh hoa hôm qua của họ không am hiểu thế giới, không đọc sách của thiên hạ về các diễn trình lịch sử đã dẫn đến sức mạnh đang đe dọa họ, không nhìn thấy tận mắt mô hình các quốc gia phát triển tiên tiến, và không có bản lãnh, quyết tâm cũng như phẩm chất đạo đức của sự lãnh đạo. Mọi sự tự mãn, tự cao, hay sợ mất “bản sắc” vì bất cứ lý do gì, đều mang trong mình nguy cơ tụt hậu và suy yếu nguy hại lâu dài. Trung Hoa, một vương quốc lớn mạnh biết bao, đã phải sụp đổ trong trận chiến tranh nha phiến 1839-42, cũng chỉ vì tự cao, tự mãn và chỉ muốn ôm giữ khư khư bản sắc nghìn năm của mình, không thấy thời thế đã đổi khác xưa một trời một vực, không tiếp thu được gì quan trọng của phương Tây đang nắm giữ chìa khóa của phồn vinh và sức mạnh. Sự khước từ thông thương của vua Càn Long với phái đoàn Macartney của Anh quốc năm 1793 là sự đánh mất cơ hội cuối cùng cho một cuộc đổi mới. Càn Long không hiểu rằng cuộc cách mạng khoa học và công nghiệp châu Âu đang lên đến đỉnh cao, cuộc toàn cầu hóa bằng bạo lực bắt đầu tràn tới, nước Anh đã kiểm soát một phần tư dân số thế giới.

    Khoảng cách văn hóa đọc giữa Việt Nam và Nhật Bản ngày nay vẫn quá xa, đáng kinh hãi. Số lượng xuất bản một hai ngàn bản của Việt Nam bây giờ của những cuốn sách có tính chất khai sáng so với hàng triệu bản của Nhật Bản thời Minh Trị cho thấy tinh thần Việt Nam vẫn chưa tỉnh thức. Khoảng cách địa lý có thể rút ngắn trong vài giờ bay, nhưng khoảng cách văn hóa đọc và tri thức chỉ có thể đo bằng các thập kỷ, nếu Việt Nam biết dốc hết sức để lấp bằng. Nếu văn hóa đọc yếu ớt này vẫn tiếp tục tồn tại, khó tránh khỏi những hậu quả khôn lường cho Việt Nam mà không ai muốn thấy cả, kể cả bạn bè xung quanh. Nỗi lo của Phan Châu Trinh chưa vơi chút nào, xét về phương diện “chấn dân khí, khai dân trí”, nếu không muốn nói còn tăng thêm nữa. Cần phải gấp rút có cuộc chấn hưng văn hóa đọc và hiểu biết thế giới trong đó nghiên cứu và dịch thuật là việc nền tảng. Đó là mệnh lệnh của tất cả mọi người Việt Nam. Không có nghiên cứu, dịch thuật dồi dào, và nếu những việc này không được thể chế hóa, thì người Việt Nam thiếu hiểu biết về thế giới một cách nghiêm trọng, chỉ có tình yêu quê hương và hy vọng thuần túy, nhưng khó đạt đến sự phồn vinh và sức mạnh cần thiết để bảo vệ độc lập của mình. Mọi sự phát triển bên ngoài lôgíc hoàn vũ của lịch sử đều là sự kìm hãm và không đưa đất nước vào quỹ đạo phát triển của các quốc gia tiên tiến thế giới, bao nhiêu tiềm năng của con người Việt Nam sẽ bị tiêu tan, trí tuệ Việt Nam mai một, đất nước vẫn bị suy yếu, nguy cơ lệ thuộc hay làm miếng mồi cho bá quyền vẫn còn ở trước cửa./.​
    tcdtcd, Hung2Mgreatnamexyz thích bài này.
  3. HungNc5

    HungNc5 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    08/04/2017
    Đã được thích:
    36
    Rất tâm đắc câu của bác trả lời một nick hỏi tại sao ko mua cp đang tăng mà ngồi đây chờ vcs mãi mới nhích chút => đại ý là dòng vốn lớn thì càng phải tìm nơi an toàn cẩn thận
  4. greatnamexyz

    greatnamexyz Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    24/02/2003
    Đã được thích:
    1.573
    Rất thú vị - Em cũng vừa đọc hết cả hai bản bác chia sẻ!

    Cá nhân em nhận xét nhé, có những người không nhìn ra được giá trị của sách thì đương nhiên không nói tới. Nhưng những người nhìn ra phần nào giá trị thì em cảm thấy là họ đang tự cho rằng mình đang quá bận bịu với cuộc sống mà không có thời gian cho đọc sách, để tự trau dồi thêm kiến thức, tinh hoa tri thức, nghệ thuật...

    Hoặc là có nhiều người lại cho rằng kiến thức và tin tức giờ ở đâu chả có, dễ dàng tiếp cận lúc nào cũng được bằng máy tính, điện thoại hay thiết bị di động... Thế nhưng đó chỉ là công cụ, con thực tế là vẫn cần phải có tâm huyết và dành thời gian cho việc đọc và suy ngẫm.

    Và có một điều em thấy viết rất thực tế (có thể là với cá nhân em) là đọc sách chỉ giúp ích hoặc để phục vụ cho một nghề nào đó của bản thân...

    Vậy làm sao chúng ta ở Việt Nam có thể có thêm nhiều người nhận thức và bắt tay vào đọc sách hơn?

    Hoặc lý tưởng hơn là có những nhà cải cách về văn hoá đọc sách có ảnh hưởng như Fukuzawa, Togukawa... bên Nhật?

    Cảm ơn bác!!
    Fibiz thích bài này.
  5. iStockVn

    iStockVn Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/08/2010
    Đã được thích:
    5.248
    Nhiều khi là thích nhưng đâu phải ai cũng biết sách nào hay để đọc đâu bác vì giờ thông tin quá nhiều. Sách nào cũng ghi Best seller
    Sách hay thì lại kén người đọc còn sách thị trường fast food thì lại được lăng xê hết mức.
    Loài người sở dĩ có thể chiếm ưu thế và thành công như bây h có 1 lý do quan trọng là có khả năng lưu giữ và truyền lại thông tin, văn hoá, kiến thức cho thế hệ sau. Và thế hệ sau k phải mày mò lại từ đầu (các loài vật khác k loài nào có khả năng này)
    Fibizgreatnamexyz thích bài này.
  6. CCIE2008

    CCIE2008 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    09/12/2007
    Đã được thích:
    1.428
    Tôi cũng có cuốn này, cả cuốn "Cách sống" tác giả cũng là người Nhật.
    Fibiz thích bài này.
  7. lephamvuchinhndc

    lephamvuchinhndc Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    19/08/2015
    Đã được thích:
    6.500
    Thời Tokugawa 1600-1868 nước Nhật thái bình không có chiến tranh, võ sĩ không có việc làm nên rảnh quá đọc sách, sáng tác văn thơ chứ sao. Thời kì này thương nghiệp phát triển, thương gia trở nên giàu có đẳng cấp ngang với võ sĩ. Người dân không phải lo chiến tranh, lo cơm áo gạo tiền thì học vấn mới phát triển. Chính vì vậy văn hóa đọc xưa được lưu giữ đến ngày nay.

    Còn ở VN từ 1400 đến cuối thế kỉ 20 ,thế kỉ nào cũng có chiến tranh, từ ngoại xâm chống nhà Minh, Thanh, Pháp, cho đến nội chiến như Lê Mạc, Trịnh Nguyễn, Nguyễn Ánh vs Nguyễn Huệ, chiến tranh VN. Chỉ có ai tham gia chiến đấu thì mới có tiếng nói, miếng ăn thời kì binh đao, còn tầng lớp học thức học có nghĩa lí gì ? Làm thương nhân hay làm kinh tế thì cũng bị lấy hết thôi, gần nhất là "đánh tư sản 1977", người dân sống trong nghèo khổ đói ăn thì sách đâu mà đọc. Mới có 20 năm kinh tế VN khấm khá như bây giờ thì cũng cần 1 thời gian để văn hóa đọc phát triển như trồng cây xanh.

    Còn TQ thì trí thức và sách vở bốc hơi từ thời cách mạng v ăn hóa rồi, M** có câu :" Trí thức không bằng cục ***". :)) Hồi phục chắc lâu.

    Em mà sinh ra thời chiến thì cũng ra mặt trận thôi chứ đọc sách, nghiên cứu cổ phiếu làm gì.
    Last edited: 30/08/2017
    greatnamexyz, FibiziStockVn thích bài này.
  8. iStockVn

    iStockVn Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    28/08/2010
    Đã được thích:
    5.248
    Lại tâm lý đổ lỗi mất mùa thì tại thiên tai, được mùa thì tại thiên tài đảng ta
    Israel nó còn k mảnh đất cắm dùi kìa em
  9. lephamvuchinhndc

    lephamvuchinhndc Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    19/08/2015
    Đã được thích:
    6.500
    Thời kì hòa bình như hiện tại là đỡ rồi, người dân được đi học và có sách đọc là may mắn rồi. Còn muốn được voi đòi tiên thì nhìn tấm gương của Syria thì biết nên "đảng ta thiên tài" là đúng chứ không sai. :D...Vị thánh nhân giúp dân tộc được khai minh như nước Nhật là không thể nào xuất hiện nhé. :))

    Dân tộc Israel không có đất sống từ xưa nên phiêu bạc khắp đất Châu Âu, khi hoàn cảnh khó khăn thì ý chị nghị lực cao nên chịu khó học hỏi, ham đọc sách nên thông minh, biết tiết kiệm, chỉ lo kinh doanh chứ không lo chính trị nên giàu có. Sau này chạy nạn qua Mỹ do Hitler diệt chủng. Chính vì ở Mỹ toàn đại gia gốc do Thái nên Mỹ mới giúp cho mảnh đất cắm dùi = cách cung cấp vũ khí, dầu mỏ cho Israel chống đạo Hồi chứ nếu là dân tộc khác dù thương đến mấy cũng bỏ chạy như VN, không dám ở lại nữa. :)
  10. Fibiz

    Fibiz Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    15/02/2014
    Đã được thích:
    1.144
    Vậy đấy. Ta vốn đã yếu mà ta lại cứ hay đánh lẫn nhau (nội chiến)... Cái họa này là do ta tự rước.
    Phải làm sao để người Việt yêu người Việt?
    lephamvuchinhndc thích bài này.

Chia sẻ trang này