Gớm Thật ---------------------- Tiền nhiều như thế này ko vượt 1500 mới lạ nhỉ !!!!!

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi BigDady1516, 12/10/2021.

1448 người đang online, trong đó có 579 thành viên. 21:04 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 7140 lượt đọc và 32 bài trả lời
  1. BigDady1516

    BigDady1516 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/01/2015
    Đã được thích:
    24.853
    Thanh khoản dồi dào, tiền vẫn liên tục được bơm ròng ra thị trường

    [​IMG]

    Trong tuần này, thanh khoản hệ thống ngân hàng sẽ dồi dào hơn nữa, lãi suất liên ngân hàng tiếp tục giảm thêm

    Ghi nhận trên thị trường tuần qua (4/10-8/10), Công ty Chứng khoán SSI cho biết, các hợp đồng bán ngoại tệ kỳ hạn đầu tháng 4/2021 bắt đầu được thực hiện. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng tiền, giúp bổ sung nguồn cung VND trên liên ngân hàng.

    Trước đó, trong giai đoạn tháng 7-8, nhà điều hành cũng đã bơm ròng gần 130.000 tỷ đồng vào hệ thống ngân hàng thông qua việc thực hiện thanh toán 5,5 tỷ USD ngoại tệ kỳ hạn mua từ tháng 1-2.

    Qua các diễn biến trên, thanh khoản hệ thống ngân hàng vốn dồi dào lại càng dồi dào hơn nữa. Thể hiện rõ nhất ở việc lãi suất thị trường liên ngân hàng tiếp tục giữ xu hướng giảm, kết thúc tuần trước ở 0,68% (giảm 0,02 điểm phần trăm) cho kỳ hạn qua đêm và 0,77% (giảm 0,06%) cho kỳ hạn 1 tuần.

    [​IMG]

    Không chỉ Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước cũng góp phần vào việc tăng thanh khoản cho hệ thống. Cụ thể, cơ quan này đã mua gọn 150 triệu USD từ các ngân hàng thương mại. Loại hình giao dịch là giao dịch giao ngay; ngày giao dịch là 08/10/2021; ngày thanh toán dự kiến là 11/10/2021.

    Với việc Kho bạc Nhà nước thực hiện thanh toán tiền mua ngoại tệ của tuần trước và các hợp đồng mua ngoại từ Ngân hàng Nhà nước tiếp tục đáo hạn, nhóm nghiên cứu tại SSI cho rằng, trong tuần này, thanh khoản hệ thống ngân hàng sẽ dồi dào hơn nữa, lãi suất liên ngân hàng tiếp tục giảm thêm.

    Tại diễn biến khác, kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các tổ chức tín dụng 3 tháng cuối năm do Ngân hàng Nhà nước thực hiện cho biết hầu hết ngân hàng đều giảm dự báo tăng trưởng tín dụng và huy động trong năm nay do tác động của dịch Covid-19.

    Trong đó, dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng được dự báo tăng 4% trong quý cuối năm và tăng 12,3% trong cả năm, thấp hơn so với mức 13,1% tại kỳ điều tra trước. Tương tự, huy động vốn toàn hệ thống được kỳ vọng tăng 4,6% trong quý 4/2021 và 10,4% trong cả năm, thấp hơn so với mức kỳ vọng trước đó là 11,9%.

    Thông qua các số liệu dự báo này, SSI nhận định: “Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng trong thời gian tới để hỗ trợ nền kinh tế hồi phục sau đại dịch. Cùng với đó, mặt bằng lãi suất huy động - cho vay dự báo được các ngân hàng tiếp tục giảm nhẹ trong quý cuối năm”.

    Quay lại với diễn biến tuần vừa qua, lợi suất trái phiếu chính phủ đi ngang trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp. Cụ thể, Kho bạc Nhà nước đã gọi thầu 8.000 tỷ đồng trái phiếu, tỷ lệ đăng ký và tỷ lệ trúng thầu duy trì ở mức thấp, tại 191% và 56%. Không có khối lượng trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm được phát hành thành công trong tuần qua khi mặt bằng lãi suất đăng ký thấp. Ở các kỳ hạn còn lại, lãi suất trúng thầu tăng 1-2 điểm cơ bản ở kỳ hạn 10 và 15 năm, không thay đổi ở kỳ hạn 30 năm.

    [​IMG]

    Lợi tức trái phiếu chính phủ trên thị trường thứ cấp hầu như đi ngang. Chốt tuần ở mức như sau: 1 năm (0,48%, tăng 0,01 điểm phần trăm); 3 năm (0,82%; không đổi); 5 năm (0,93%, không đổi); 10 năm (2,15%, tăng 0,02 điểm phần trăm); 15 năm (2,41%; tăng 0,03 điểm phần trăm); 20 năm (2,83%, không đổi); 30 năm (2,98%, không đổi). Giá trị giao dịch chỉ còn 37,7 nghìn tỷ đồng, giảm 48,5% so với tuần trước.

    Thời gian tới, nguồn cung trái phiếu chính phủ sẽ được cải thiện trong thời gian tới nhờ việc Chính phủ sẽ tích cực đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, trong bối cảnh dư địa tài khóa trong 2021 tương đối tích cực (Ngân sách thặng dư 58 nghìn tỷ trong 9 tháng đầu năm).

    Tuy nhiên, nhu cầu mua trái phiếu chính phủ sẽ không có nhiều bứt phá trong bối cảnh môi trường lợi suất thấp và nhu cầu cơ cấu lại danh mục không còn cao như giai đoạn đầu năm khi lượng trái phiếu đáo hạn trong Quý 4 chỉ bằng 5% tổng lượng trái phiếu đáo hạn năm 2021. Theo đó, mặt bằng lợi suất trúng thầu kỳ vọng sẽ duy trì đi ngang trong thời gian tới.
    alisson36Tinhledt đã loan bài này
  2. BigDady1516

    BigDady1516 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/01/2015
    Đã được thích:
    24.853
    Đến 7/10, tín dụng tăng 7,42%

    Tại buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng quý III, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố tín dụng tính đến 7/10 tăng 7,42% so với đầu năm, cao hơn so với cùng kỳ năm 2020 - tăng 3% và tương đương mức cuối tháng 8. Như vậy, dư nợ toàn nền kinh tế đi ngang trong tháng 9 và đầu tháng 10.

    NHNN tiếp tục thực hiện các giải pháp tín dụng nhằm kiểm soát quy mô tín dụng phù hợp với chỉ tiêu định hướng đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng và kiểm soát lạm phát, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín nguồn.

    Theo báo cáo từ các tổ chức tín dụng (TCTD), đến cuối tháng 9, các TCTD đã cho vay mới lãi suất thấp hơn so với trước dịch với doanh số lũy kế từ 23/01/2020 đạt trên 5,2 triệu tỷ đồng cho 800.000 khách hàng; miễn, giảm, hạ lãi suất cho khoảng 1,7 triệu khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch với dư nợ gần 2,5 triệu tỷ đồng.

    [​IMG]
    Phiên họp báo trao đổi thông tin của NHNN. Ảnh: L.H.

    Lũy kế từ 23/1/2020 cuối tháng 9, tổng số tiền lãi TCTD đã miễn, giảm, hạ cho khách hàng khoảng 27.000 tỷ đồng. Riêng 16 ngân hàng thương mại (chiếm 75% tổng dư nợ nền kinh tế) đã thực hiện có kết quả việc giảm lãi suất cho vay cho khách hàng theo cam kết với Hiệp hội ngân hàng. ổng số tiền lãi đã giảm lũy kể từ 15/7 đến cuối tháng 9 là 11.813 tỷ đồng lạt 57,31% so với cam kết.

    Cơ quan Nhà nước cũng tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng. phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu, duy trì ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối, hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần phục hồi kinh tế.

    Chính sách tiền tệ của NHNN vẫn được điều hành theo định hướng chủ đạo hỗ trợ đà phục hồi kinh tế trong bối cảnh dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, thực hiện mục tiêu kép của Chính phủ “vừa chống dịch, vừa đảm bảo phát triển kinh tế . Đến ngày 7/10, tổng phương tiện thanh toán M2 tăng 5,65% so với cuối năm 2020 và tăng 11,56% so với cùng kỳ 2020.

    Trong điều hành lãi suất, từ đầu năm NHNN đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo quyết liệt các TCTD chủ động cân đối khả năng tài chính để áp dụng lãi suất cho vay hợp lý, tiết giảm chi phí hoạt động để tập trung nguồn lực giảm lãi suất cho vay đối với dư nợ hiện hữu và các khoản cho vay mới, góp phần hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp vượt qua khó khăn. Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay cuối tháng 8 tiếp tục giảm so với tháng 12/2020.
    xgameno1, VuthanhnguyenTinhledt thích bài này.
    Tinhledt đã loan bài này
  3. BigDady1516

    BigDady1516 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/01/2015
    Đã được thích:
    24.853
    Thị trường chứng khoán ngày 12/10 - Vàng đen tỏa sáng, dòng tiền luân chuyển
    Chuyên mục[​IMG]
    Internet.

    Kết thúc phiên giao dịch ngày 12/10, VN-Index tạo cây nến Doji giằng co tại vùng tham chiếu với thanh khoản duy trì ở mức tương đối cao, ngang bằng so với phiên giao dịch bùng nổ ngày hôm qua. Tổng giá trị giao dịch khớp lệnh trên 3 sàn đạt 24.700 tỷ đồng, riêng giá trị khớp lệnh trên HoSE đạt 20.300 tỷ đồng.
    VN - Index tăng 0,71 điểm (0,05%) lên 1.394,00 điểm. Toàn sàn có 175 mã tăng (9 mã trần), 58 mã tham chiếu, 228 mã giảm (3 mã sàn).
    HNX - Index tăng 1,34 điểm (0,36%) lên 375,68 điểm. Toàn sàn có 101 mã tăng (12 mã trần), 62 mã tham chiếu, 122 mã giảm (2 mã sàn).
    UPCOM – Index tăng 0,01 điểm (0,01%) lên 98,81 điểm. Toàn sàn có 157 mã tăng (13 mã trần), 77 mã tham chiếu, 141 mã giảm (4 mã sàn).
    [​IMG]
    Chỉ số VN-Index. (Nguồn: Fireant.vn)
    Thị trường chứng khoán mở cửa phiên giao dịch với dư địa tích cực từ phiên ngày hôm qua, tuy nhiên sự tích cực đó không được duy trì quá lâu khi lực bán gần như ngay lập tức xuất hiện khiến cho thị trường bị đẩy ngược trở lại vùng tham chiếu.
    Đầu phiên sáng nay thì sự phân hóa các cổ phiếu vốn hóa lớn lại quay trở lại, tạo ra thế giằng co khiến cho chỉ số không thể hồi phục sớm. Các cổ phiếu như GAS, NVL, VPB… thì đồng loạt giảm giá. Ở chiều ngược lại thì có HPG, MWG, VRE…
    Mặc dù vậy, thị trường hôm nay vẫn đón nhận lực cầu tương đối tốt khi rơi về khu vực 1.390 điểm. Tại đây lực đỡ xuất hiện, giúp thị trường, cũng như các cổ phiếu hồi phục, thu hẹp đà giảm và quay ngược trở lại vượt lên khỏi mốc tham chiếu và lấy lại sắc xanh.
    Trong đó có thể kể đến như dòng Dầu khí với các đại diện như BSR, PVD, GAS,… đều có mức tăng ấn tượng. Điều này đã giúp thị trường tạm dừng phiên sáng tăng gần 3 điểm, thanh khoản thị trường có sự gia tăng so với phiên sáng ngày hôm qua.
    Sau giờ nghỉ trưa, áp lực bán tiếp tục quay trở lại trên thị trường, tuy nhiên lần này đã không còn quá mạnh mẽ và không tác động quá tiêu cực lên thị trường. VN-Index sau đó vẫn tiếp tục hồi phục và giữ được sắc xanh cho đến kết thúc phiên giao dịch.
    Dòng cổ phiếu có đóng góp lớn trong phiên chiều là nhóm cổ phiếu Bất động sản, Khu công nghiệp với những HDC, DIG, NTL… đều tăng hơn 3%, đặc biệt là HDC có mức tăng gần trần.
    Khối ngoại hôm nay bán ròng nhẹ 41 tỷ đồng, mức bán có thể nói là thấp nhất trong một tháng trở lại đây của dòng vốn này. Khối ngoại bán HPG, GMD, VNM… và mua FMC, VRE, MBB…
    [​IMG]
    Giá trị khối ngoại mua ròng. (Nguồn: Fireant.vn)
    Một phiên chững lại sẽ tốt hơn một phiên tăng điểm cho VN-Index ở thời điểm hiện tại, thị trường đi lên cần phải có sự chắc chắn, nếu không sẽ không bền và đương nhiên điều đó không ai mong muốn.
    Vậy nên nếu như hôm nay NAV của nhà đầu tư chững lại hoặc giảm nhẹ, cũng đừng vội vàng nôn nóng. Cổ phiếu cần phải có thời gian để tăng, nếu nó tăng bền, sẽ tuyệt vời hơn rất nhiều tăng 2 ,3 phiên rồi giảm.
    xgameno1 thích bài này.
  4. BigDady1516

    BigDady1516 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/01/2015
    Đã được thích:
    24.853
    Trung Quốc tự do hóa giá nhiệt điện để giải bài toán khủng hoảng năng lượng

    Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung Quốc (NDRC) hôm nay cho biết Trung Quốc sẽ tự do hóa giá điện sản xuất từ than. Người sử dụng điện trong lĩnh vực thương mại, công nghiệp sẽ phải mua theo giá thị trường.

    NDRC cho biết 100% điện sản xuất từ các nhà máy nhiệt điện sẽ được định giá theo thị trường, tăng khoảng 70% so với mức giá hiện nay. Tuy nhiên, NDRC chưa thông báo thời gian áp dụng giá điện mới.

    Người sử dụng điện trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại sẽ phải mua trực tiếp từ thị trường hoặc thông qua các đại lý "càng sớm càng tốt". Tỷ lệ mua điện trực tiếp từ thị trường ở Trung Quốc hiện là 44%. Những người khác mua theo giá cố định.

    Ông Peng Shaozong, quan chức của NDRC, cho biết cải cách về giá điện đáp ứng theo cung, cầu và giảm bớt khó khăn cho các công ty điện lực, khuyến khích các nhà máy tăng sản lượng điện. Đồng thời, quy định mới không ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng và ít tác động đến các chỉ số kinh tế khác.

    Động thái trên của nhà chức trách Trung Quốc diễn ra trong bối cảnh khủng hoảng điện tại quốc gia này ngày càng trầm trọng và dự kiến sẽ kéo dài đến cuối năm nay.

    Theo các chuyên gia, lượng điện sử dụng trong công nghiệp tại Trung Quốc sẽ giảm 12% vì thiếu than trong mùa đông năm nay.
    xgameno1 thích bài này.
  5. BigDady1516

    BigDady1516 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/01/2015
    Đã được thích:
    24.853
    PVS : - PTSC M&C gặt hái thành tựu quan trọng trong mảng dịch vụ năng lượng tái tạo
    15:11 | 12/10/2021

    - Cuối tháng 9/2021, Công ty Hai Long Offshore Wind Power đã ký kết Thỏa thuận ưu tiên (Preferred Supplier Agreement – PSA) cho liên danh nhà thầu Semco Maritime A/S (Đan Mạch) và Công ty TNHH 1TV Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC (PTSC M&C) để xây dựng hai trạm biến áp ngoài khơi (offshore substation) thuộc Dự án Điện gió Hai Long 2 và Hai Long 3 tại vùng biển Đài Loan. Đây là thành tựu vô cùng ấn tượng và là bước đột phá chiến lược của PTSC M&C trong mảng dịch vụ năng lượng tái tạo.
    Dự án điện gió Hai Long 2 & 3 do Công ty Hai Long Offshore Wind Power (trụ sở tại Đài Loan) làm chủ đầu tư và vận hành. Dự án nằm ở eo biển Đài Loan, một vùng biển được xếp hạng là một trong 20 khu vực có tiềm năng điện gió ngoài khơi lớn nhất trên thế giới. Theo kế hoạch hiện tại, Dự án dự kiến sẽ đưa vào vận hành vào năm 2025-2026 và sẽ cung cấp hơn 1 GW năng lượng sạch cho chủ đầu tư.

    [​IMG]
    Một dự án điện gió ngoài khơi. (Ảnh minh họa)
    Sau một thời gian dài theo đuổi, sàng lọc, đấu thầu và vượt qua nhiều nhà thầu tên tuổi khác, liên danh nhà thầu Semco Maritime – PTSC M&C (do Semco Maritime dẫn đầu) đã được Chủ đầu tư tin tưởng ký kết Thỏa thuận PSA, với phạm vi công việc bao gồm thiết kế, mua sắm, chế tạo, chạy thử cho 02 trạm biến áp ngoài khơi (offshore substation) với tổng khối lượng khoảng 18.000 tấn. Trong liên danh nhà thầu này, PTSC M&C sẽ chịu trách nhiệm phần thiết kế chân đế, mua sắm một số hạng mục vật tư, thi công cho toàn bộ các cấu kiện của dự án tại công trường PTSC M&C tại thành phố Vũng Tàu trong giai đoạn từ quý III/2022 đến quý I/2024.

    Dự án Hai Long 2 & 3 là dự án EPC đầu tiên của PTSC M&C trong mảng dịch vụ năng lượng tái tạo và sẽ là một tiền đề hết sức quan trọng để PTSC M&C tiếp tục xây dựng và phát triển năng lực tổng thầu EPC/EPCI cho lĩnh vực dịch vụ này, đón đầu cho xu thế chuyển đổi cơ cấu năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng sạch (nhất là các dự án điện gió ngoài khơi) đang diễn ra rộng khắp tại Việt Nam cũng như các nước trên thế giới./.
    xgameno1thetaurus thích bài này.
  6. Phuongnamkt4

    Phuongnamkt4 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    10/03/2017
    Đã được thích:
    12.560
    Thế nào tín dụng cứ tăng dc nhỉ.... lại múc bank hay sao bác
    xgameno1BigDady1516 thích bài này.
  7. BigDady1516

    BigDady1516 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/01/2015
    Đã được thích:
    24.853
    Last edited: 12/10/2021
    xgameno1, hoaloakentimTinhledt thích bài này.
  8. BigDady1516

    BigDady1516 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/01/2015
    Đã được thích:
    24.853
    PSI: Doanh nghiệp dầu khí sẽ hồi phục tích cực trở lại sau giai đoạn giãn cách

    [​IMG]

    Báo cáo chiến lược mới công bố của CTCK Dầu khí (PSI) nhận xét, giá dầu tiếp tục tăng mạnh và gần đạt mức cao nhất trong hơn 5 năm qua nhờ vào triển vọng nhu cầu tăng lên khi các nền kinh tế mở cửa trở lại sau khi chiến dịch tiêm Vaccine mang lại hiệu quả tốt.

    Cùng với đó là nguồn cung được kiểm soát khi nhóm OPEC khó có thể tăng mạnh trong giai đoạn cuối năm. Giá dầu quý 4 theo tổng hợp từ Bloomberg được dự báo đạt mức 77,01 USD/thùng với dầu Brent và 74,06 USD/thùng với dầu WTI, tăng mạnh 46% và 51% so với đầu năm.

    Với sự hỗ trợ này, nhóm cổ phiếu dầu khí đã giao dịch sôi động trong thời gian gần đây. Nhưng triển vọng tiếp theo của nhóm này và các DN trong chuỗi sản xuất sẽ ra sao?

    Từ thị trường giá dầu quốc tế

    PSI tổng hợp, theo OPEC, tổng nhu cầu dầu toàn cầu ước tính sẽ tăng khoảng 6,0 triệu thùng/ngày lên 96,6 triệu thùng/ngày trong cuối năm 2021. Vào năm 2022, nhu cầu dầu thế giới dự kiến sẽ tăng 3,3 triệu thùng/ngày so với cùng kỳ năm ngoái và Tổng nhu cầu dầu thế giới dự kiến sẽ vượt qua 100 triệu thùng/ngày trong 6 tháng đầu năm 2022, đạt mức trung bình 99,9 triệu thùng/ngày cho năm 2022. Tăng trưởng kinh tế được dự báo sẽ bắt đầu nhờ các gói kích thích kinh tế khổng lồ.

    Ngoài ra, đại dịch COVID-19 được dự báo sẽ nằm trong tầm kiểm soát, được hỗ trợ bởi các chương trình tiêm chủng và cải thiện việc điều trị, cho phép nhu cầu dầu tăng đều đặn ở cả OECD và ngoài OECD.

    Một số thành viên của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các đồng minh (gọi là OPEC ) sẽ gặp nhiều khó khăn để tăng sản lượng sau nhiều năm đầu tư thấp hoặc trì hoãn công việc bảo trì trong thời kỳ đại dịch. Theo ước tính của PSI, sản lượng của OPEC chỉ có thể tăng từ 27 triệu thùng/ngày lên 28 – 29 triệu thùng/ngày.

    Tại Việt Nam, các dự án như nhà máy hóa dầu Long Sơn, kho cảng LNG Thị Vải… vẫn đang được thực hiện đúng tiến độ. Kho cảng LNG Thị Vải có công suất của giai đoạn 1 là 1 triệu tấn/năm (1 MMTPA) ước tính đạt khoảng 79,6% tiến độ xây dựng (tính đến ngày 10/08/2021).

    Theo PSI, hoạt động của các doanh nghiệp ngành dầu khí niêm yết trên sàn chứng khoán hưởng lợi khi giá dầu tăng. Nhóm doanh nghiệp dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PVS, PVD) đang có triển vọng sáng khi các dự án đầu tư dầu khí được đẩy nhanh trở lại. Nhóm các doanh nghiệp trung và hạ nguồn (PVT, GAS, BSR, PLX...) được hưởng lợi từ việc giá dầu tăng.

    PSI dự báo triển vọng kinh doanh 3 tháng cuối năm 2021 của doanh nghiệp dầu khí cơ bản hồi phục tích cực trở lại sau giai đoạn giãn cách.
    xgameno1Tinhledt thích bài này.
  9. Tinhledt

    Tinhledt Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    18/07/2018
    Đã được thích:
    15.930
    Mai tới 3V làm việc ạ...15.10 Vinfast ra mắt xe điện! :drm
    xgameno1BigDady1516 thích bài này.
  10. BigDady1516

    BigDady1516 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/01/2015
    Đã được thích:
    24.853
    Ngành điện thế giới và Việt Nam năm đầu Covid-19 : Cơ cấu sản lượng điện
    12/10/2021

    - Qua những phân tích của chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam cho thấy: Cơ cấu sản lượng điện của các khu vực, nhóm nước, cũng như của các nước rất đa dạng, khác xa với cơ cấu bình quân của toàn thế giới và thường xuyên biến động, không có nước nào giống nước nào.
    Ngành điện thế giới và Việt Nam năm đầu Covid-19 [Kỳ 1]: Sản lượng điện sản xuất


    Cơ cấu sản lượng điện theo loại nhiên liệu phát điện năm 2020 của thế giới, khu vực, nhóm nước và các nước đại diện được nêu ở Hình dưới đây:

    [​IMG]

    Nguồn: [1] và tính toán, tổng hợp của tác giả.


    Qua bảng Hình trên cho thấy:

    Cơ cấu sản lượng điện năm 2020 toàn cầu (%): Điện dầu 2,8% (năm 2019: 3,0%); điện khí 23,4% (năm 2019: 23,4%); điện than 35,1% (năm 2019: 36,4%); điện hạt nhân 10,1% (năm 2019: 10,4%); thủy điện 16,0% (năm 2019: 15,7%); điện NLTT 11,7% (năm 2019: 10,3%); điện khác 0,8% (năm 2019: 0,8%).

    Như vậy, cơ cấu năm 2020 có sự chuyển dịch nhất định so với 2019: Giảm tỷ trọng điện dầu (hơn -0,2%), điện than (-1,3%), điện hạt nhân (-0,3%) và tăng tỷ trọng thủy điện (0,3%), điện năng lượng tái tạo - NLTT (1,4%) và điện khác (0,1%). Còn điện khí giữ nguyên tỷ trọng. Tuy nhiên, điện than vẫn giữ vài trò chính, chiếm tỷ trọng cao nhất 35,2%, vượt xa điện khí đứng thứ 2 là 23,4% và thủy điện đứng thứ 3 là 16%.

    Cơ cấu của các khu vực: 3 vị trí đứng đầu của Bắc Mỹ là điện khí 38,0%, điện hạt nhân 17,9%, điện than 17,1%; của Nam và Trung Mỹ là: Thủy điện 51,5%, điện khí 18,2% và điện NLTT 15,0%; của châu Âu: Điện NLTT 23,8%, điện hạt nhân 21,6% và điện khí 19,6% (thủy điện và điện than bám sát sau đó, tuần tự là 17,0% và 14,8%); của CIS: Điện khí 47,1%, thủy điện 19,0%, điện than 16,4% (điện hạt nhân bám sát sau đó 15,6%); của Trung Đông chỉ có 2 vị trí: Điện khí 66,1% và điện dầu 28,2%; của châu Phi: Điện khí 39,4%, điện than 28,0% và thủy điện 16,8%; của châu Á - TBD: Điện than 57,2%, vượt xa 3 vị trí tiếp theo là thủy điện 14,3%, điện khí 11,3% và điện NLTT 10,2%.

    Cơ cấu của nhóm nước: 3 vị trí top đầu của OECD là điện khí 30,9%, vượt xa điện than 19,0% và điện hạt nhân 17,3%; bám sát sau đó là điện NLTT 16,4% và thủy điện 13,6%; của ngoài OECD: Điện than 46,1%, vượt xa 2 vị trí tiếp theo là: Điện khí 18,3% và thủy điện 17,7%; của EU: Điện NLTT 31,3%, điện hạt nhân 30,3% và điện khí 24,4%, thứ tư điện than 16,4% và thủy điện 15,1%.

    Cơ cấu của từng nước:

    So với khu vực và nhóm nước, cơ cấu sản lượng điện của từng nước có sự tản mạn, phân tán hơn do tiềm năng trữ lượng và khả năng xuất, nhập khẩu năng lượng của từng nước khác nhau lớn hơn.

    Điện khí đứng đầu ở các nước:

    - Mexico 58,5% (vượt xa điện NLTT 12,5% và điện dầu 10,8%).

    - Mỹ 40,6% (vượt xa điện than đứng thứ hai 19,7% và điện hạt nhân 19,4%).

    - Ác-hen-ti-na 56,0% (vượt xa thủy điện đứng thứ hai 21,4%).

    - Ý 48,2% (vượt xa so với điện NLTT đứng thứ hai 24,9% và thủy điện thứ ba 16,5%).

    - Hà Lan 58,9% (vượt xa so với điện NLTT đứng thứ hai 26,2% và điện than thứ ba 7,2%).

    - Nga 44,7% (vượt xa 2 vị trí tiếp theo là điện hạt nhân 19,9%, thủy điện 19,6%).

    - I ran 66,4% (vượt xa điện dầu đứng thứ hai 24,8%).

    - Ả rập Xê-ud 60,7% (vượt xa điện dầu đứng thứ hai 39,0%).

    - UAE 94,8% (chiếm gần độc tôn).

    - Ai Cập 75,5% (gần như độc tôn, vượt xa điện dầu đứng thứ hai 13,0%).

    - Nhật Bản 35,2% (cao hơn điện than đứng thứ hai 29,7% và vượt xa điện NLTT thứ ba 12,5%).

    - Thái Lan 64,6% (vượt xa điện than đứng thứ hai 20,9% và điện NLTT thứ ba 11,6%).

    Trong số các nước trên, một số nước có trữ lượng khí lớn (chiếm ≥ 1% trữ lượng khí thế giới) như: Mỹ 6,7%, Nga 19,9%, I ran 17,1%, Ả rập Xê-ud 3,2%, UAE 3,2%; hoặc vừa và nhỏ (chiếm ≥ 0,1% trữ lượng khí thế giới) như: Mexico 0,1%, Ác-hen-ti-na 0,2%, Hà Lan 0,1%, Thái Lan 0,1%. Một số nước có trữ lượng không đáng kể hoặc không có như Ý, Nhật Bản.

    Ngược lại, nhiều nước có trữ lượng khí lớn, nhưng điện khí chiếm tỷ trọng không cao như: Quata (13,1% trữ lượng khí thế giới), Turkmennistan (chiếm 7,2%), Nigeria (2,9%), Iraq (1,9%), Canada, Azerbaijan, Úc (chiếm 1,3%), Kazakhstan (chiếm 1,2%), Ai Cập (1,1%), v.v...

    Điện than đứng đầu ở các nước:

    - Ba Lan 70,3% (vượt xa so với điện NLTT đứng thứ hai 16,2%).

    - Thổ Nhĩ Kỳ 34,8% (cao hơn đáng kể so với thủy điện đứng thứ hai 25,6% và điện khí thứ ba 22,9%).

    - Kazakhstan 66,8% (vượt xa điện khí đứng thứ hai 19,5%).

    - Nam Phi 84,5% (chiếm gần như độc tôn).

    - Úc 53,9% (vượt xa điện khí đứng thứ hai 20,0% và điện NLTT thứ ba 18,8% ).

    - Trung Quốc 63,2% (vượt xa thủy điện đứng thứ hai 17,0% và điện NLTT thứ ba 11,1%).

    - Ấn Độ 72,1% (vượt xa thủy điện đứng thứ hai 10,5% và điện NLTT thứ ba 9,7%).

    - Indonesia 65,7% (vượt xa điện khí đứng thứ hai 18,6%).

    - Malaysia 56,1% (cao hơn nhiều so với điện khí đứng thứ hai 28,6%).

    - Hàn Quốc 36,3% (cao hơn điện hạt nhân đứng thứ hai 27,9% và điện khí thứ ba 26,7%).

    - Đài Loan 45,0% (cao hơn điện khí đứng thứ hai 35,7% và điện hạt nhân thứ ba 11,2%).

    - Việt Nam 50,6% (vượt xa thủy điện đứng thứ hai 29,3% và điện khí thứ ba 15,0%).

    Trong số các nước trên, những nước có trữ lượng than lớn, hoặc tương đối lớn (chiếm tỉ trọng ≥ 1% trữ lượng than thế giới): Ba Lan 2,6%, Thổ Nhĩ Kỳ 1,1%, Kazakhstan 2,4%, Nam Phi 0,9%, Úc 14,0%, Trung Quốc 13,3%, Ấn Độ 10,3%, Indonesia 3,2%. Một số nước có trữ lượng nhỏ như Việt Nam (chiếm 0,3% trữ lượng than thế giới) hoặc có không đáng kể (phải nhập khẩu than) như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, v.v... Một số nước có trữ lượng than lớn nhưng tỷ trọng nhiệt điện than thấp do có trữ lượng khí dồi dào nên ưu tiên sử dụng khí, hoặc nguồn năng lượng khác có lợi thế hơn như Mỹ (chiếm 23,2% trữ lượng than thế giới), Ukraina (chiếm 3,2%), Nga (chiếm 15,1%). Đức có trữ lượng than chiếm 3,3% trữ lượng than thế giới nên nhiệt điện than tuy không đứng đầu song vẫn chiếm tỷ trọng cao thứ hai (từ năm 2018 về trước luôn có tỷ trọng cao nhất).

    Điện hạt nhân đứng đầu ở Ukraina 51,1% (vượt xa điện than đứng thứ hai 27,7% và điện khí thứ ba 9,3%). Tuy nhiên, theo tài liệu [2] Pháp là quốc gia có số lượng lò phản ứng điện hạt nhân nhiều thứ 2 thế giới (sau Mỹ) đã, đang sử dụng điện hạt nhân là nguồn cung cấp điện chủ yếu, chiếm tới 70,6% tổng sản lượng điện quốc gia và theo [1] năng lượng nguyên tử chiếm tới 36,1% tổng NLSC năm 2020.

    Thủy điện đứng đầu ở các nước: Canada 59,7% (vượt xa điện hạt nhân đứng thứ hai 15,2%), Brazil 64,0% (vượt xa điện NLTT đứng thứ hai 19,3%).

    Điện NLTT đứng đầu ở VQ Anh 40,9%, Đức 40,6% và Tây Ban Nha 31,5%.

    Điện dầu chỉ chiếm tỷ trọng cao ở một vài nước Trung Đông có tiềm năng trữ lượng dầu mỏ như Ả rập Xê-ud 39,0% (đứng sau điện khí 60,7%) và Iran 24,8% (đứng sau điện khí 66,4%).

    Như vậy, trong số các nước đại diện, 12 nước có điện khí chiếm tỷ trọng cao nhất, trong đó có một số nước điện khí chiếm vị trí độc tôn (UAE 94,8%) hoặc gần như độc tôn (Ai Cập 75,5%, Iran 66,4%, Thái Lan 64,6% và Ả rập Xê-ud 60,7%). 12 nước có điện than chiếm tỷ trọng cao nhất, trong đó có một số nước điện than chiếm tỷ trọng gần như độc tôn (Ba Lan 70,3%, Kazakstan 66,8%, Nam Phi 84,5%, Ấn Độ 72,1%, Trung Quốc 63,2%, Indonesia 65,7%). 2 nước có điện hạt nhân chiếm tỷ trọng cao nhất (Pháp 70,6% và Ukraina 51,1%). 2 nước có thủy điện chiếm tỷ trọng cao nhất (Canada 59,7% và Brzil 64,0%) và đặc biệt có 3 nước có điện NLTT đứng đầu, gồm VQ Anh 40,9%, Đức 40,6% và Tây Ban Nha 31,5%.

    Qua những phân tích nêu trên cho thấy, cơ cấu sản lượng điện của các khu vực, nhóm nước và của các nước rất đa dạng, khác xa với cơ cấu bình quân của toàn thế giới và thường xuyên biến động, không có nước nào giống nước nào. Nói chung, cơ cấu sản lượng điện phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố:

    1/ Tiềm năng và lợi thế các nguồn tài nguyên năng lượng sẵn có trong nước. Ví dụ như nước có nhiều nguồn tài nguyên năng lượng dồi dào thì cơ cấu sản lượng điện tương đối dàn trải theo hướng đa dạng hóa và ưu tiên hơn cho nguồn năng lượng có lợi thế cao, nhất là khí tự nhiên, thủy điện, còn nước chỉ có một nguồn tài nguyên năng lượng dồi dào thì cơ cấu điện tương đối tập trung mang tính độc tôn tương ứng với nguồn tài nguyên năng lượng sẵn có.

    2/ Khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên năng lượng nước ngoài cho sản xuất điện, nhất là than và khí tự nhiên (có tính thương mại cao và giá phù hợp), trong trường hợp đó thông thường điện than, điện khí chiếm giữ tỷ lệ quan trọng đóng vai trò nền tảng.

    3/ Trình độ phát triển kinh tế - xã hội, ví dụ nước giàu có GDP bình quân đầu người cao, theo đó có khả năng chấp nhận giá điện cao thì tăng cường phát triển nguồn điện sạch hơn như điện NLTT, điện khí (sạch so với điện than) theo đúng tinh thần “của nào tiền nấy”.

    Tuy nhiên, năm 2020 là năm đại dịch Covid-19 tác động mạnh đến nền kinh tế toàn cầu nói chung, trong đó có ngành năng lượng và điện năng nói riêng, hậu quả là có sự suy giảm mạnh về kinh tế và kéo theo suy giảm về sử dụng năng lượng và điện năng. Trong bối cảnh đó, các dạng năng lượng sạch, nhất là NLTT vẫn tăng trưởng, nhất là cho sản xuất điện, điều đó thể hiện xu thế phát triển tất yếu theo hướng sạch hơn.
    --- Gộp bài viết, 12/10/2021, Bài cũ: 12/10/2021 ---
    VRE bắt từ 27.x đẹp quá @};-@};-@};-
    3V Anh Vượng sẽ giúp VNindex vượt khó, lần nào cũng vậy :drm1@};-@};-@};-
    xgameno1Tinhledt thích bài này.

Chia sẻ trang này