HOT NEWS - Tin tức cập nhật liên tục hàng ngày!

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi hocCK, 13/11/2007.

97 người đang online, trong đó có 39 thành viên. 02:54 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 25129 lượt đọc và 415 bài trả lời
  1. hocCK

    hocCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2006
    Đã được thích:
    1
    VFC đã có dấu hiệu nào tốt đâu bác nhỉ?

    [​IMG]
  2. hocCK

    hocCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2006
    Đã được thích:
    1
    Vietcombank: các quỹ mới chưa giải ngân nhiều có thể bỏ giá cao
    Chủ nhật, 9/12/2007, 21:45 GMT+7
    Theo tham khảo từ ý kiến của nhiều nhà đầu tư cá nhân, mức giá đấu của Vietcombank sẽ khá cao. Có chuyên gia cho rằng, đối với các quỹ mới, tiền chưa giải ngân nhiều thì họ có thể bỏ một mức giá cao hơn.


    Thành viên Hội đồng quản trị một ngân hàng cổ phần lớn nhận định mức giá đấu bình quân sẽ khoảng 150.000 đồng/CP. Lý do là ở mức giá đó chỉ số P/E của Vietcombank đã lên tới 80; trong khi đó P/E của ACB và STB hiện thấp hơn nhiều mức này.

    Tuy nhiên, nếu tính cả tiềm năng phát triển của Vietcombank thì mức P/E là 80 của Vietcombank cũng là hợp lý khi so với ACB hoặc STB.

    Ông Phạm Khánh Lynh - Phó tổng giám đốc Công ty liên doanh quản lý quỹ Việt Nam - cũng có chung nhận định về mức giá đấu bình quân Vietcombank nhưng nhận xét thêm: ?oĐối với các quỹ mới, tiền chưa giải ngân nhiều thì họ có thể có thoáng hơn nhưng các tổ chức đã có kinh nghiệm sẽ không bỏ một mức giá quá cao trong lần này?.

    Phó giám đốc Khối dịch vụ chứng khoán của một công ty chứng khoán (CTCK) lớn thì cho biết: ?oTôi chỉ bỏ giá khoảng 12-13 ?ochấm? thôi, cùng lắm là 15 ?ochấm?, hơn là không chơi vì cũng mạo hiểm lắm?.

    Ông Nguyễn Đình Phong, Giám đốc Khối dịch vụ chứng khoán CTCK VNDirect, cũng dự đoán mức giá khoảng 15 ?ochấm? cho Vietcombank.

    Mặc dù có khá nhiều chuyên gia nhận định về mức giá khoảng 15 ?ochấm? cho Vietcombank nhưng các diễn biến trên thị trường lại nóng hơn mức đó rất nhiều.

    Một chuyên gia hàng đầu về chứng khoán đề nghị không nêu tên nhận xét: ?oChưa có một đợt IPO nào tại Việt Nam mà tất cả các tổ chức tài chính, ngân hàng lớn, nhỏ, CTCK... đều muốn tham gia như đợt IPO Vietcombank.

    Với một mối quan tâm lên tới mức cực điểm như vậy mà bảo mức giá sẽ ở mức hợp lý (khoảng 150.000 đồng/CP) sẽ là điều rất khó tin. Cung ít mà cầu nhiều thì giá sẽ bị đẩy lên cao. Đây là chưa kể đến việc các thông tin IPO của Vietcombank cũng có những điểm cần phân tích rõ hơn?.

    Theo vị chuyên gia này, mức lợi nhuận chỉ khoảng 1.854 tỉ năm 2007 của Vietcombank là thấp so với tiềm năng thực tế. Điều có thể thấy ngay là năm 2007 Vietcombank trích dự phòng rủi ro tới 1.100 tỉ đồng là một nhân tố làm giảm mạnh lợi nhuận, trong khi đó năm 2006 thì dự phòng rủi ro chỉ trích có 174 tỉ đồng. ?oĐây là chưa kể đến nhiều yếu tố tiềm năng khác chưa được phân tích rõ?, ông này nói.

    Vị chuyên gia này phân tích thêm, nếu xét về tương quan trong ngành ngân hàng thì Vietcombank không thể kém ACB mà giá của ACB thì đã được các quỹ đầu tư nước ngoài trả giá tới 23 ?ochấm? trong lần phát hành gần đây nhất (ACB không bán cho quỹ này mà bán cho cổ đông nước ngoài với giá 20 ?ochấm? - cao hơn cả giá trên thị trường hiện nay).

    ?oLiệu giá của Vietcombank chỉ ở mức 15 ?ochấm? có phản ánh đúng thực tế mối quan tâm của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài hay không??, vị chuyên gia này nói.

    Chưa hết, chuyên gia này còn đưa ra một bằng chứng khác về mối quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đối với cổ phiếu của các ngân hàng hàng đầu Việt Nam: ?oSTB chỉ nhầm ?oroom? có vài phút mà lượng đặt mua STB của các nhà đầu tư nước ngoài đã lên tới hàng triệu cổ phiếu và làm ?oroom? của STB đã vượt mức 30% - mức tối đa được phép. Điều này cho thấy, nếu có cơ hội thì các nhà đầu tư nước ngoài thậm chí còn sẵn sàng mua CP của các ngân hàng hàng đầu với giá còn cao hơn cả các nhà đầu tư trong nước?.

    Khi được hỏi, ông Lê Đình Ngọc, Giám đốc CTCK Thăng Long, không đưa ra dự đoán cụ thể về mức giá của Vietcombank nhưng nói: ?oĐây là một cuộc đấu giá mà không ai trong giới đầu tư chứng khoán muốn mình đứng ngoài cuộc. Nói đơn giản thì đây là một cơ hội lớn để kiếm tiền và khi đó thì giá cả được quyết định bởi cung cầu trên thị trường. Mức dự đoán sát nhất sẽ có vào gần sát ngày hết hạn nộp phiếu đấu giá?.
    ( Nguồn: thanhnien).
  3. hocCK

    hocCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2006
    Đã được thích:
    1
    Vietcombank đang sử dụng tổng diện tích đất 185.337m2
    Thứ bảy, 8/12/2007, 00:24 GMT+7
    Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đã công bố thông tin về việc cổ phần hóa, trong đó cho biết vốn chủ sở hữu của nhà băng này đạt trên 11.000 tỷ đồng (680 triệu USD) và dự kiến nâng nguồn vốn này lên 2,5-3 tỷ USD vào năm 2015.

    Theo báo cáo đã được kiểm toán theo tiêu chuẩn của Việt Nam (VAS), tại thời điểm 31/12/2006, vốn chủ sở hữu của Vietcombank đạt 11.127 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ đạt 4.356 tỷ đồng và vốn Nhà nước tại ngân hàng này được xác định 10.978 tỷ đồng. Đến cuối 2006, tổng tài sản của Vietcombank đạt 171.862 tỷ đồng.


    Đặc biệt, Vietcombank cũng đang sử dụng tổng diện tích đất 185.337 m2, trong đó trên 71% đất ngân hàng này đang quản lý là đất thuê và xiết nợ, còn lại do Nhà nước giao hoặc chuyển nhượng.


    Về cơ cấu huy động vốn, hiện Vietcombank có tổng tiền gửi đạt 102.000 tỷ đồng, tiền vay đạt 5.520 tỷ đồng và phát hành giấy tờ có tổng giá trị 2.139 tỷ đồng. Ngân hàng này đang chiếm 18,2% thị phần huy động vốn toàn ngành.


    Dư nợ tín dụng của Vietcombank tăng trung bình 32,7% mỗi năm. Đến cuối năm 2006, tỷ lệ nợ xấu là 2,28% trong 67,742 tỷ đồng tổng dư nợ. Ngân hàng này cũng đang sở hữu mạng lưới ATM lớn nhất, chiếm gần 27% tổng số ATM trên thị trường, và khoảng 5.000 điểm chấp nhận thẻ (POS).


    Hiện Vietcombank nắm giữ toàn bộ vốn trong 4 công ty, gồm Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Ngoại thương (VCBLeaCo), vốn vốn điều lệ 100 tỷ đồng, Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS) 200 tỷ đồng, Công ty quản lý nợ và Khai thác tài sản (VCB-AMC) 5,2 tỷ đồng và Công ty Tài chính Việt Nam - Hong Kong (Vinafico) 36 triệu đôla Hong Kong.


    Ngoài ra, ngân hàng này nắm giữ quyền kiểm soát và cổ phần chi phối của 3 doanh nghiệp khác, gồm Công ty TNHH Cao ốc Vietcombank 198 (70% trong 14,9 triệu USD vốn điều lệ), Công ty liên doanh THNN Vietcombank - Bonday - Bến Thành (52% trong 17,6 triệu USD vốn điều lệ) và Công ty liên doanh quản lý Quỹ đầu tư chứng khoán Vietcombank (VCBF) (51% trong 8 tỷ đồng vốn điều lệ).


    Vietcombank đặt mục tiêu sau cổ phần hóa trở thành tập đoàn đầu tư tài chính ngân hàng đa năng với tốc độ tăng trưởng 21% vào năm 2010, vốn chủ sở hữu đạt 2,5-3 tỷ USD vào năm 2015, tổng tài sản tăng trung bình 15-20% mỗi năm. Dự kiến sau khi cổ phần hóa, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam có vốn điều lệ 15.000 tỷ đồng.


    Theo kế hoạch, Vietcombank sẽ chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng tại Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM, theo hình thức đấu giá hai cấp. Cổ phiếu Vietcombank có mệnh giá 10.000 đồng, giá khởi điểm 100.000 đồng. Trong tổng số cổ phần được phát hành, Nhà nước chiếm 65-70%; cán bộ công nhân viên 3,5%; nhà đầu tư chiến lược nước ngoài 15-20%; nhà đầu tư chiến lược trong nước 5%; đấu giá cổ phần lần đầu trong nước 6,5%.


    Vietcombank cũng cho hay sẽ thực hiện niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM ngay sau khi hoán tất các thủ tục chuyển đổi.


    Trái phiếu Vietcombank phát hành vào năm 2005 sẽ được chuyển đổi sang cổ phiếu với giá đấu thành công bình quân thực tế tại cuộc đấu giá.


    Các trái chủ có tên trong danh sách được chốt lại trước phiên đấu giá một ngày đều được mua cổ phiếu với giá ưu đãi và sẽ phải đăng ký mua cổ phiếu theo hình thức chuyển đổi. Trong thời gian chuyển đổi, trái phiếu và quyền mua cổ phiếu ưu đãi không có giá trị chuyển nhượng.
    (Nguồn: VNE)
  4. hocCK

    hocCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2006
    Đã được thích:
    1
    ?oSẽ có chỉ tiêu năng suất một số ngành kinh tế mũi nhọn?



    Anh Quân


    Hỏi chuyện ông Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Năng suất Việt Nam (Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng).



    Thưa ông, Trung tâm Năng suất và Chương trình Thương hiệu Quốc gia mới ký biên bản ghi nhớ về việc hợp tác của hai bên. Vậy mục đích của việc hợp tác là gì và những hoạt động cụ thể trong năm tới?

    Trung tâm sẽ tham gia đánh giá năng suất các doanh nghiệp trong Chương trình Thương hiệu Quốc gia, giúp các doanh nghiệp tìm ra ?ođiểm yếu? và giải quyết các vấn đề doanh nghiệp gặp phải trong quản lý, điều hành. Qua đó nâng cao năng suất, chất lượng cho sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.

    Về tầm nhìn dài hạn, hai bên sẽ hợp tác thúc đẩy phong trào năng suất, chất lượng trong cộng đồng doanh nghiệp. Trong năm 2008, hai bên sẽ khởi động chương trình hợp tác bằng việc xây dựng chỉ tiêu năng suất của một số ngành kinh tế mũi nhọn (Vietnam Productivity Index), làm cơ sở để các doanh nghiệp đối chiếu và so sánh.

    Nhưng năng suất là sản xuất nhanh hơn, ra nhiều sản phẩm hơn, trong khi thương hiệu lại đề cao chất lượng và giá thành hạ. Liệu có sự đối chọi trong khi kết hợp với nhau?

    Theo quan niệm cũ, năng suất lao động được tính bằng hiện vật, bằng tổng giá trị sản phẩm, hoặc tổng doanh thu. Nếu như vậy, doanh nghiệp theo đuổi chất lượng sản phẩm có thể làm giảm năng suất. Tuy nhiên, theo cách tiếp cận hiện nay, năng suất là thước đo hiệu quả cuối cùng của doanh nghiệp.

    Ví dụ, mô hình 50 triệu đồng/ha mà phải chi phí tới 40 triệu đồng/ha thì không còn nhiều ý nghĩa. Quan trọng là làm cách nào để thu về giá trị lớn nhất, trong khi sử dụng những nguồn lực có sẵn.

    Giá trị hiệu quả mới là điều các ?oông chủ? doanh nghiệp hướng tới. Không thể nói đến năng suất khi sản phẩm làm ra có tỷ lệ sai hỏng cao, hoặc bị khách hàng trả lại. Với cách hiểu như vậy, chất lượng là yếu tố góp phần nâng cao năng suất.

    Khi doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, cũng đồng nghĩa phải tiếp cận với vấn đề năng suất. Nếu doanh nghiệp đầu tư cho thương hiệu mà năng suất chất lượng không tương xứng thì không thể đảm bảo phát triển bền vững.

    Xin ông nói rõ hơn về chỉ tiêu năng suất (Vietnam Productivity Index) đã nêu ở trên?

    Chỉ tiêu năng suất đã được một số nước trên thế giới sử dụng để so sánh, đánh giá năng suất của nền kinh tế, của ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp với chỉ số tương ứng của các nước khác. Chỉ số này giúp Chính phủ, lãnh đạo ngành, doanh nghiệp thấy được các hạn chế của quá trình sản xuất, từ đó đi tìm các biện pháp điều chỉnh phù hợp.

    Ở Việt Nam, chúng ta mới chỉ có con số so sánh năng suất lao động trong nước với một số nước khác. Báo cáo nghiên cứu các chỉ tiêu năng suất giai đoạn 2001-2005 cho thấy, năng suất lao động tại Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước phát triển như Hoa Kỳ, Singapore và cả các nước trong khu vực.

    Theo báo cáo này, năng suất lao động của Việt Nam bằng 1,6% của Hoa Kỳ, so với Singapore bằng 2,35%, với Thái Lan bằng 28,73% và so với Indonesia cũng chỉ bằng 63,37%.

    Với Vietnam Productivity Index, chúng ta sẽ biết được thực chất vấn đề năng suất và có chiến lược nâng cao năng suất, chất lượng. Sự quan tâm đến vấn đề này tăng lên sẽ tạo ra phong trào hướng đến năng suất, chất lượng trong cộng đồng doanh nghiệp.

    Việt Nam có chi phí lao động thấp, nhưng một số ngành thường lấy giá thế giới để so sánh và đề nghị Chính phủ cho tăng giá bán sản phẩm. Liệu chỉ tiêu này có thể làm ?olộ mặt? những ngành quản lý kém?

    Việc tính toán các chỉ tiêu này căn cứ vào số liệu được Tổng cục Thống kê công bố. Báo cáo sẽ không kết luận ngành nào, doanh nghiệp nào năng suất thấp hay quản lý kém. Bản thân số liệu sẽ cho biết điều đó.

    (Nguồn: TBKT) [​IMG]
  5. hocCK

    hocCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2006
    Đã được thích:
    1
    WB nhận định những thách thức của kinh tế Việt Nam



    n Thùy Trang


    Chúng tôi xin giới thiệu tóm tắt báo cáo cập nhật tình hình cải cách và phát triển kinh tế của Việt Nam do Ngân hàng Thế giới (WB) thực hiện, được công bố ngày 7/12.

    Báo cáo đã dành một phần khá lớn để nói về những mặt được của kinh tế Việt Nam trong năm qua như mức tăng GDP, xuất khẩu, vốn đầu tư nước ngoài, đầu tư trong nước hay thành công trong xoá đói giảm nghèo... Tuy nhiên, điều mà nhiều người muốn biết là những nhận định của WB về các thách thức của nền kinh tế vì chúng có thể giúp chúng ta có một cái nhìn khách quan hơn, nhằm xác định hướng phát triển cho những năm tới.

    Những quan ngại về tỷ lệ lạm phát

    Một trong những vấn đề nóng hiện nay là tình hình lạm phát gia tăng. Tính đến tháng 11, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái, tức là đã tăng 9,5% kể từ đầu năm, vượt xa mục tiêu của Chính phủ giữ tỉ lệ này thấp hơn tỷ lệ tăng trưởng GDP. Nguyên nhân chính, theo WB, là do chính sách tỷ giá của Việt Nam gắn chặt với đồng USD nên việc tăng giá một số mặt hàng trao đổi được trên thị trường thế giới đã có ảnh hưởng rất lớn đến một nền kinh tế mở như Việt Nam.

    Thêm vào đó, những biến động do cung đẩy lạm phát tăng nhanh vẫn chưa lắng xuống. Trong đó phải kể đến những cú sốc như các đợt dịch bệnh gia súc gia cầm, lũ lụt ở miền Trung, và giá các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu như sắt thép, xi măng và các sản phẩm xăng dầu...

    Báo cáo của WB cho biết: Chính phủ Việt Nam đã dành một khoản ngân sách khoảng 500 triệu USD để trợ giá xăng dầu, trong đó khoảng 140 triệu USD được chi tính đến cuối tháng 10/2007. Tuy nhiên, giá bán lẻ xăng dầu đã tăng 15% (từ 11.300 đồng lên 13.000 đồng/lít) vào ngày 22/11, khi giá dầu thế giới đạt ngưỡng gần 100 USD/thùng. Giá bán lẻ dầu diesel cũng tăng từ 8.600 đồng lên 10.200 đồng/lít.

    Về mặt tín dụng, báo cáo cho rằng quan ngại chủ yếu là mức tăng trưởng tín dụng quá nhanh sẽ không đảm bảo chất lượng tín dụng. Mặc dù mức tăng trưởng tín dụng đã được kiềm chế và giảm xuống còn 25% trong năm 2006 nhưng đã lại tăng quá nhanh lên đến 40% tính tới tháng 8/2007. Những tháng gần đây, Ngân hàng Nhà nước đã tỏ ra lo ngại về những rủi ro liên quan tới kế hoạch tăng vốn của các ngân hàng thương mại.

    Với sự sôi động của thị trường chứng khoán, nhiều ngân hàng đã lợi dụng cơ hội này để tăng vốn mà thiếu những kế hoạch kinh doanh thích hợp. Do vậy, một quy định mới ra gần đây đã yêu cầu các ngân hàng muốn tăng vốn thì phải cung cấp kế hoạch kinh doanh chi tiết, trong đó nêu rõ mức lợi nhuận trên vốn cổ phần và tỷ lệ cổ tức dự kiến sau khi tăng vốn.

    Thất vọng về cổ phần hóa các ngân hàng thương mại Nhà nước

    WB cũng nhắc đến sự thất vọng của các nhà đầu tư nước ngoài muốn tham gia vào quá trình cổ phần hoá một số ngân hàng thương mại Nhà nước. Các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài mong đợi mức trần quy định sẽ tăng từ 10% lên 20%, song cuối cùng lại được chốt lại ở mức 15%. Trong một số trường hợp cụ thể, Thủ tướng có thể cho phép áp dụng mức 20%.

    Dẫn trường hợp cụ thể, 6,5% vốn của Vietcombank sẽ được chào bán tại Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (HOSE) trước khi kết thúc năm 2007, báo cáo viết và nhận định: ?oTrình tự này có ưu điểm là cho phép xác định giá một cách minh bạch trước khi bắt đầu đàm phán trực tiếp với các nhà đầu tư chiến lược. Thế nhưng kinh nghiệm từ trường hợp cổ phần hoá Bảo Minh, một công ty bảo hiểm lớn của Việt Nam, cho thấy rằng phương pháp này mang tính rủi ro và sau đó có thể không tìm được nhà đầu tư chiến lược nào?.

    Một số hiệu ứng phụ không mong muốn

    Thứ ba là chính sách tiền tệ gặp khó khăn. Báo cáo của WB cho rằng việc nhiều dòng vốn lớn cùng đổ vào khiến Việt Nam gặp khó khăn trong thực thi chính sách tiền tệ, đặt Việt Nam vào tình trạng cùng lúc phải đối mặt với ba vấn đề lớn: phải duy trì một tỷ giá hối đoái cố định (hoặc gần như cố định), một chính sách tiền tệ độc lập và một tài khoản vốn mở.

    Dòng vốn đầu gia tăng đã gây áp lực làm cho tỷ giá hối đoái tăng. Chính vì vậy, tháng 1/2007, Ngân hàng Nhà nước đã mở rộng biên độ giao dịch đối với tỷ giá giữa VND và USD từ 0,25% đến 0,5%. Kết quả là VND đã tăng so với USD khoảng 0,4%. Tuy nhiên, để không ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh xuất khẩu của Việt Nam do tiền đồng lên giá, Ngân hàng Nhà nước đã mua vào khoảng 9 tỷ USD trong nửa đầu năm 2007. Sự can thiệp vào thị trường ngoại tệ như vậy làm cho lượng vốn dự trữ tăng cao, có thể đạt mức kỷ lục 21 tỷ USD trong năm nay.

    Báo cáo nhận xét: ?oNhững nỗ lực nhằm kiềm chế sự tăng giá của tiền đồng cũng gây ra hiệu ứng phụ không mong muốn là làm giảm bớt khả năng theo đuổi một chính sách tiền tệ độc lập của Ngân hàng Nhà nước. Nếu không thực hiện trung hoà thì việc tích luỹ dự trữ nhằm ngăn ngừa tăng tỷ giá sẽ dẫn đến việc mở rộng cơ sở tiền tệ?.

    Trên thực tế, Ngân hàng Nhà nước đã có những nỗ lực theo hướng này, bằng cách bán trái phiếu để phần nào gom vào lượng vốn khả dụng dư thừa trên thị trường do tăng dự trữ ngoại tệ. Song, WB lưu ý rằng hành động này sẽ ảnh hưởng đến cân đối tài sản của ngân hàng trung ương, bởi thông thường, tài sản dự trữ có mức lãi thấp hơn mức lãi suất được trả cho những loại trái phiếu được phát hành để hấp thụ lượng thanh khoản dư thừa.

    Ở phần sau của báo cáo, khi nói về thị trường chứng khoán, báo cáo cho rằng thị trường chứng khoán Việt Nam đã phát triển nhanh trong 2 năm qua song nhiều biến động. Danh sách một số doanh nghiệp Nhà nước lớn và ngân hàng đã công bố niêm yết trong vài tháng tới có thể gây sức ép rất lớn đối với giá cổ phiếu.

    Chính phủ thậm chí còn đang cân nhắc hoãn chưa cho một số công ty niêm yết vì sợ sẽ đẩy giá cổ phiếu xuống quá thấp. Danh sách này bao gồm các công ty như Vietcombank và MHB. Ngoài ra các doanh nghiệp như BIDV, Incombank và có lẽ cả Mobifone, một trong những nhà cung cấp dịch vụ điện thoại hàng đầu của Việt Nam, có thể sẽ niêm yết vào năm 2008.

    Về quá trình tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài, báo cáo nhận xét: ?oNgày càng có nhiều người tỏ ra muốn tham gia thị trường. Ước tính phần cổ phiếu do nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ chiếm gần 1/4 tổng giá trị thị trường của HOSE, tương đương gần 5,3 tỷ USD và lưu ý con số này cao hơn nhiều so với vốn đầu tư thực tế ban đầu vì đã cộng cả phần lãi vốn kể từ thời điểm đầu tư?.

    Một điều được báo cáo gi nhận là tổng giá trị thị trường chứng khoán bị chi phối bởi một số công ty blue-chip. Chỉ mười công ty lớn nhất đã nắm giữ 55% tổng số cổ phiếu niêm yết và 61% tổng giá trị thị trường tại HOSE. Biến động về khối lượng giao dịch và giá cổ phiếu của các công ty blue chip này thường gây ảnh hưởng đáng kể đến chỉ số thị trường nói chung.
    ---


    [​IMG]

    Những tháng gần đây, Ngân hàng Nhà nước đã tỏ ra lo ngại về những rủi ro liên quan tới kế hoạch tăng vốn của các ngân hàng thương mại.
    (Nguồn: )
  6. hocCK

    hocCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2006
    Đã được thích:
    1
    Bản công bố thông tin của Vietcombank: Lạc hậu ngay khi phát hành?



    n Mạc San


    Ngày 7/12, Vietcombank đã tổ chức buổi họp báo đầu tiên về đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng ngày 26/12/2007.

    >>Toàn cảnh cổ phần hóa Vietcombank

    Một số câu trả lời mới đây trên VnEconomy từ Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vietcombank, ông Nguyễn Hòa Bình đã làm sáng tỏ ra nhiều điều và giúp các nhà đầu tư định giá tốt hơn. Như vậy, thặng dư vốn sẽ được thực hiện theo quy định của Nghị định 109/2007/NĐ-CP, cho phép bước đầu Vietcombank giữ lại 30% thặng dư vốn từ đợt phát hành. Ngoài ra, Vietcombank sẽ xin phép Chính phủ giữ thêm nếu có thể.

    Với mức giá khởi điểm 100.000 VND, thặng dư vốn từ việc bán ra khoảng 30%-35% cổ phần (4.500 - 5.250 tỷ VND mệnh giá) sẽ đạt khoảng 40.500 tỷ VND. Như vậy số thặng dư vốn Vietcombank được phép giữ lại sẽ là ít nhất 12.150 tỷ VND. Điều đó có nghĩa là tại thời điểm thành lập sau cổ phần hóa, Vietcombank sẽ có vốn chủ sở hữu ít nhất là 27.150 tỷ VND. Chỉ số P/B (Price/Book) sẽ là 5,5 lần.

    Khi giá trúng thầu bình quân thực tế cao hơn, số thặng dư này sẽ còn cao hơn nữa. Nếu mức giá thành công bình quân thực tế đạt 150.000 VND, thặng dư vốn đạt khoảng 63.000 tỷ VND. Vietcombank sẽ giữ lại ít nhất 18.900 tỷ VND. Lúc đó vốn chủ sở hữu sẽ là 33.900 tỷ VND. Chỉ số P/B (Price/Book) là 6,6 lần.

    Trong bản công bố thông tin ngày 6/12, Vietcombank đưa ra dự báo tổng vốn chủ sở hữu tại thời điểm cuối năm 2008 là 19.040 tỷ VND. Nếu trừ đi lợi nhuận dự báo của năm 2008 sau khi trả cổ tức tiền mặt thì số vốn đầu năm chỉ là 17.481 tỷ VND.

    Như vậy, số vốn dự báo có sự khác xa với số vốn thực tế mà Vietcombank sẽ được nhận ngay sau cổ phần hóa là ít nhất 27.150 tỷ VND. Mục tiêu về vốn chủ sở hữu tại 2010 là 27.424 tỷ đã trở nên lạc hậu?

    Với việc xác nhận giữ lại ít nhất 30% thặng dư vốn, giờ đây các nhà đầu tư có thể hình dung được chỉ số P/B trong khoảng 5-7 lần và đây là chỉ số có thể chấp nhận được nếu so sánh với các nước trong khu vực. Theo số liệu tham khảo, Ngân hàng ICBC của Trung Quốc có P/B dự kiến 2007 khoảng 5 lần, Bank of China khoảng 4 lần và Bank of Communications Ltd. khoảng 5,7 lần.

    Cần một dự báo mới về lợi nhuận?

    Người viết xin đưa ra 2 trường hợp giá đầu bình quân thực tế là 100.000 VND (trường hợp 1) và 150.000 VND (trường hợp 2).

    Giả sử Vietcombank có thể đạt mức lợi nhuận trên vốn (ROE) 15%/năm như trình bày trong bản công bố thông tin và như trả lời của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vietcombank thì lợi nhuận dự kiến 2008 sẽ vào khoảng 4.072 tỷ VND (theo trường hợp 1) và 5.085 tỷ VND (theo trường hợp 2) dựa theo mức vốn đầu năm. Thu nhập trên cổ phiếu EPS tương ứng là 2.714 VND và 3.390 VND. Chỉ số Forward P/E cuối 2008 sẽ tương ứng sẽ là 36 lần và 44 lần.

    Tính toán này cho thấy với mức giá khởi điểm 100.000 VND, chỉ số P/E là có thể chấp nhận được đối với một nền kinh tế mới nổi như Việt Nam nếu ROE đạt 15%. Trên thực tế, ROE toàn ngành ngân hàng Việt Nam đạt được năm 2006 là 19%, trong đó ACB và Vietcombank đã vượt tỷ lệ trung bình này.

    Giả định ROE liệu có khả thi?

    Với 30% thặng dư vốn được giữ lại, vốn chủ sở hữu ít nhất 27.150 tỷ VND (theo trường hợp 1) và 33.900 tỷ VND (theo trường hợp 2), gấp 3 lần quy mô vốn trước đây. Liệu mức tăng này có gây ?osốc? và tạo áp lực lớn đối với Ban điều hành của Vietcombank? Liệu mục tiêu ROE 15% có còn khả thi trong ngắn hạn? Liệu các kế hoạch của Vietcombank sẽ hấp thụ hết số vốn mới này hiệu quả?

    Trong bản công bố thông tin, Vietcombank chỉ dự báo lợi nhuận sau thuế 2.598 tỷ VND, trong khi với mức vốn mới đòi hỏi lợi nhuận ít nhất 4.072 tỷ VND (theo trường hợp 1). Đây thực sự là một thử thách đối với Ban điều hành sau cổ phần hóa để đáp ứng kỳ vọng của các cổ đông.

    Nhìn lại thực trạng hoạt động trong thời gian qua cho thấy một số thử thách đối với áp lực lợi nhuận 2008 và các năm tiếp theo sẽ là:

    Cạnh tranh trong ngành ngân hàng ngày càng khốc liệt: Hàng loạt tổng công ty là các khách hàng ruột của Vietcombank đang ráo riết thành lập ngân hàng, công ty tài chính. Ngân hàng Nhà nước vừa đồng ý nguyên tắc thành lập cho 4 ngân hàng mới với quy mô rất lớn và sẽ tiếp tục cấp phép. Các ngân hàng nước ngoài HSBC, ANZ và Standard Charterred Bank cũng đã nộp đơn xin thành lập ngân hàng con tại Việt Nam. Vietcombank sẽ chịu áp lực về sự ra đi của các khách hàng lớn và các nhân viên chủ chốt khi hàng loạt ngân hàng thành lập mới dự kiến cần tới hàng ngàn nhân sự cao cấp từ cấp trưởng phó phòng chi nhánh.

    Thị trường truyền thống thu hẹp sẽ tạo áp lực Vietcombank phải tăng cường mở rộng sang các lĩnh vực mới như ngân hàng đầu tư và tín dụng tiêu dùng. Tuy nhiên, hiện nay 2 mảng này chưa là thế mạnh mang lại lợi nhuận đáng kể cho Vietcombank. Cụ thể, dư nợ tín dụng tiêu dùng chỉ chiếm 8,5% danh mục cho vay tại 2006. Đối với nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, lợi nhuận của VCBS còn một khoảng cách lớn so với SSI.

    Biên độ lãi suất giảm: Điểm yếu này đã bộc lộ qua kết quả 9 tháng đầu năm 2007. Tỷ lệ lãi ròng/tổng lãi giảm từ 52% xuống 27% tính cho 3 quý 2007 so với cùng kỳ 2006 (riêng quý 3/2007 giảm còn 24%). Biên độ lãi suất (NIM) giảm từ khoảng 2.6% trong 2006 xuống khoảng 1.6% trong 2007. Thu nhập lãi ròng 9 tháng giảm 1.243 tỷ VND so với cùng kỳ 2006.

    Chính thế mạnh về ngoại tệ của Vietcombank cũng là thế yếu khi mà lãi suất USD trên thị trường bị liên tục cắt giảm do ảnh hưởng của cơn bão tín dụng và làm giảm biên độ lãi suất (spread). Ước tính khoảng trên 40% tài sản sinh lời của Vietcombank có gốc ngoại tệ, chủ yếu là USD. Với tình hình thị trường Mỹ còn diễn biến phức tạp, có khả năng ảnh hưởng sẽ còn kéo sang 2008.

    Chi phí hoạt động gia tăng đáng kể: Trong khi biên độ lãi suất thu hẹp, chi phí hoạt động (chưa tính dự phòng tín dụng) 3 quý năm 2007 tăng mạnh 36% so với cùng kỳ 2006. Điều này làm cho chỉ số chi phí hoạt động/lãi gộp (cost to income) tăng đột biến từ 17% lên 31% cho 3 quý 2007. Số dự phòng tín dụng thực tế trong 3 quý mới trích 132 tỷ VND (2006: 401 tỷ VND). Nếu trích theo dự kiến cả năm là 1.100 tỷ VND thì lợi nhuận còn giảm đi nhiều. Điều này cần có sự giải trình rõ hơn từ phía Vietcombank trong cuộc roadshow sắp tới.

    Rủi ro lựa chọn cổ đông chiến lược nước ngoài: Với mức giá đấu thầu bình quân cao, việc đàm phán với đối tác nước ngoài vốn đã bế tắc này càng trở nên trầm trọng thêm. Nếu không có sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, khả năng tạo đột biến về chiến lược kinh doanh và lợi nhuận trong vài năm tới rất khó xảy ra.

    Kết luận

    Vietcombank nên nghiên cứu cập nhật các dự báo tài chính trên cơ sở khả thi nhất là dựa vào số vốn thặng dư 30% được giữ lại của mức giá khởi điểm (theo trường hợp 1) để các dự báo này thật sự có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư. Mức vốn chủ sở hữu tăng mạnh lên khoảng 30 ngàn tỷ VND sẽ tạo một áp lực quản lý lớn đối với Ban điều hành sau cổ phần hóa. Sức hấp dẫn của cổ phiếu Vietcombank hoàn toàn phụ thuộc vào chiến lược và kế hoạch cụ thể của Vietcombank để giải quyết bài toán sử dụng vốn hiệu quả.

    (Nguồn: TBKT)
  7. hocCK

    hocCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2006
    Đã được thích:
    1
    Khi quyền cổ đông sáng lập bị tước bỏ



    n Minh Đức


    Những ngày này, Công trường Thủy điện Hương Sơn (Hà Tĩnh) dầm trong mưa, tuyến đường duy nhất men theo vách núi lầy lội và nguy hiểm, tiến độ thi công gián đoạn.

    Nhưng sự đình trệ và phức tạp nhất lại xuất phát từ chính những tranh chấp trong nội bộ cổ đông.

    Những trường hợp tương tự đã xảy ra ở một số công ty cổ phần, nhưng với các ban ngành chức năng Hà Tĩnh, đây là một bài toán mới. Vụ việc kéo dài và có khả năng phải nhờ đến sự can thiệp của tòa án.

    Giấy phép kinh doanh: lập, hủy rồi tái lập

    Ngày 14/11/2003, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Tĩnh cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty Cổ phần Thủy điện Hương Sơn (Thủy điện Hương Sơn) với vốn điều lệ 80 tỷ đồng, do 4 thành viên tham gia góp vốn, gồm:

    Tổng công ty Cơ khí xây dựng (408.000 cổ phần), Công ty Điện lực I (200.000 cổ phần), Tổng công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh (112.000 cổ phần) và Công ty Đầu tư xây dựng hạ tầng và giao thông đô thị (80.000 cổ phần).

    Trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần thứ nhất ngày 15/12/2005, vốn điều lệ được tăng lên 161,7 tỷ đồng, cổ đông Công ty Điện lực I được thay bằng Tổng công ty Sông Đà (452.760 cổ phần), các cổ đông còn lại được giữ nguyên, gồm Tổng công ty Cơ khi Xây dựng (517.440 cổ phần), Tổng công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh (323.400 cổ phần) và Công ty Đầu tư Xây dựng hạ tầng và giao thông đô thị (323.400 cổ phần).

    Những thay đổi trên diễn ra bình thường và thuận lợi. Câu chuyện chỉ bắt đầu khi ngày 8/6/2006, Công ty Đầu tư Xây dựng hạ tầng và giao thông đô thị (Công ty Hạ tầng) có đơn xin thôi tham gia cổ đông Thủy điện Hương Sơn. Trong đơn nêu: ?oDo một số mục tiêu sản xuất kinh doanh của công ty có thay đổi nên công ty không tiếp tục đầu tư vào dự án công trình Thủy điện Hương Sơn, để tập trung vào dự án khác?.

    Theo đó, công ty này ?oxin không tham gia cổ đông sáng lập Thủy điện Hương Sơn nữa và đồng ý chuyển nhượng số cổ phần đang sở hữu cho các cổ đông khác trong Thủy điện Hương Sơn hoặc các nhà đầu tư khác có nhu cầu?.

    Ngày 1/12/2006, căn cứ hồ sơ của Thủy điện Hương Sơn, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Tĩnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần 2 cho Thủy điện Hương Sơn, trong đó chỉ còn 3 thành viên sáng lập, không còn Công ty Hạ tầng.

    Công ty Hạ tầng biết được thay đổi này qua website của Công ty Chứng khoán Bảo Việt và có đơn phản đối với lý do số cổ phần của họ chưa được chuyển nhượng nên không thể bị loại khỏi danh sách cổ đông sáng lập.

    Ngày 29/3/2007, Phòng Đăng ký kinh doanh ?" Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Tĩnh có Quyết định số 10/QĐ-ĐKKD, khôi phục giá trị và hiệu lực pháp lý của giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần 1, hủy thay đổi lần 2 của Thủy điện Hương Sơn; vị trí cổ đông sáng lập của Công ty Hạ tầng được trả lại.

    Mất quyền cổ đông sáng lập, tranh chấp kéo dài

    Sau những thay đổi trên, ngày 10/7/2007, Thủy điện Hương Sơn có đơn khiếu nại. Đoàn thanh tra được thành lập. Và ngày 28/9/2007, UBND tỉnh Hà Tĩnh chính thức có Quyết định số 2570/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại của Thủy điện Hương Sơn, trong đó khẳng định:

    ?oViệc Phòng Đăng ký kinh doanh ?" Sở Kế hoạch và Đầu tư ban hành Quyết định số 10/QĐ-ĐKKD ngày 29/3/2007 hủy bỏ các nội dung Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 1/12/2006 (thay đổi lần 2) của Thủy điện Hương Sơn là không cần thiết, chưa đủ cơ sở và chưa đúng thẩm quyền?.

    UBND tỉnh Hà Tĩnh cũng chấp nhận khiếu nại của Thủy điện Hương Sơn về việc yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 10/QĐ-ĐKKD của Phòng Đăng ký kinh doanh nói trên, đồng thời yêu cầu phục hồi Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần 2 của Thủy điện Hương Sơn. Từ đây, quyền cổ đông sáng lập của Công ty Hạ tầng chính thức bị tước bỏ.

    Ngày 21/11/2007, Công ty Hạ tầng tiếp tục có đơn khiếu nại chính UBND tỉnh Hà Tĩnh với lập luận: ?oĐến thời điểm hiện nay, việc chuyển nhượng cổ phần của Công ty Hạ tầng tạo Thủy điện Hương Sơn vẫn chưa diễn ra, chưa có bản án, quyết định nào của tòa án làm chấm dứt quyền sở hữu cổ phần của chúng tôi tại Thủy điện Hương Sơn. Như vậy tư cách cổ đông sáng lập và quyền sở hữu cổ phần của chúng tôi tại Thủy điện Hương Sơn chưa chấm dứt?.

    Trên thực tế, ngày 11/7/2006, Đại hội cổ đông Thủy điện Hương Sơn đã có Nghị quyết đồng ý cho Công ty Hạ tầng rút khỏi cổ đông sáng lập và phân chia tỷ lệ vốn góp cho các cổ đông còn lại.

    Nhưng theo Công ty Hạ tầng, đó là đại hội cổ đông bất thường và lãnh đạo công ty không thể tham dự vì đi công tác nước ngoài; Nghị quyết cũng không được chuyển tới Công ty Hạ tầng trong vòng 15 ngày kể từ ngày bế mạc như quy định trong Điều lệ.

    Đại hội cổ đông nói trên cũng đã quyết định ?otrả lại số tiền mà Công ty Hạ tầng đã góp vốn điều lệ? và ?othống nhất phân chia số cổ phần của Công ty Hạ tầng?.

    Sự việc nhùng nhằng khi Công ty Hạ tầng không chấp nhận lấy lại tiền vốn góp, cộng với lãi suất và trượt giá. Công ty này cũng cho rằng quyền và lợi ích của họ bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi tư cách cổ đông sáng lập bị tước bỏ, dù trên thực tế chưa có chuyển nhượng.

    Khiếu nại và tranh chấp nội bộ vẫn tiếp tục kéo dài, tiến độ công trình Thủy điện Hương Sơn vẫn bị níu kéo; ước tính, mỗi tháng chậm phát điện, thiệt hại sẽ cộng thêm 10 tỷ đồng.

    (Nguồn: TBKT)
  8. hocCK

    hocCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2006
    Đã được thích:
    1
    Đối phó Chỉ thị 03, nhiều ngân hàng dùng ?otiểu xảo?


    Theo quy định Chỉ thị 03 của Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại phải thu hồi nợ để đến ngày 31/12/2007 bảo đảm tỉ lệ cho vay chứng khoán không quá 3% tổng dư nợ tín dụng. Các ngân hàng đang lúng túng như ?ogà mắc tóc?




    Trong lúc thị trường chứng khoán ảm đạm, nhà đầu tư chưa tìm được cơ hội bán cổ phiếu để trả nợ, thì theo quy định Chỉ thị 03 của Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 31/12 tới, các ngân hàng thương mại (NHTM) phải thu hồi nợ về để bảo đảm tỉ lệ cho vay chứng khoán không quá 3% tổng dư nợ tín dụng. Sự thúc ép này làm cho NHTM lâm vào tình thế lúng túng như ?ogà mắc tóc?.



    Không thể bắt khách hàng trả nợ trước hạn



    Tại cuộc họp cuối tuần qua của ngành ngân hàng trên địa bàn TP.HCM, hầu hết NHTM cho biết, họ không thể khống chế dư nợ vốn cho vay đầu tư chứng khoán ở mức 3% theo thời hạn quy định. Nguyên nhân là nhiều hợp đồng tín dụng được ký trước khi Chỉ thị 03 ban hành (ngày 28/5) và có thời gian đáo hạn sau ngày 31/12. Những hợp đồng này đã giải ngân một phần hoặc giải ngân được 2/3 và sau ngày 1/7 phải giải ngân tiếp để kết thúc hợp đồng. Trong khi đó, Chỉ thị 03 có hiệu lực thi hành từ ngày 30/6/2007 nên các ngân hàng phải tôn trọng hợp đồng tín dụng đã cam kết. Nếu khách hàng không đồng ý, các ngân hàng không thể buộc họ phải trả nợ trước hạn. Các chuyên gia cho rằng, nếu Ngân hàng Nhà nước tính các hợp đồng đã ký trước thời điểm Chỉ thị 03 có hiệu lực thi hành, thì tỉ lệ dư nợ cho vay chứng khoán của một số NHTM không thể về đúng thời hạn.



    Luật sư Trần Đình Triển, Trưởng ban Pháp luật và Nghiệp vụ, Hiệp hội Ngân hàng (VNBA) cho biết, không ít NHTM đã ký hợp đồng cho vay thời hạn một năm nên thời hạn thanh lý hợp đồng sẽ rơi vào năm 2008. Những hợp đồng này hoàn toàn hợp lệ theo đúng quy định của Luật Dân sự và Luật Các tổ chức tín dụng. VNBA đã kiến nghị Ngân hàng Nhà nước cho lùi thời gian thanh lý đối với những hợp đồng này đến 30/6/2008, song đến nay VNBA vẫn chưa nhận được ý kiến phản hồi.



    Loại T+3 ra khỏi Chỉ thị 03?



    Theo bà Nguyễn Thị Diệu Thơ, Phó tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB), việc NHTM cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán (T+3) là cho vay thế chấp quyền phải thu; khoản vay này đã có tiền bên mua bảo chứng nên NHTM ứng trước tiền cho nhà đầu tư vẫn bảo đảm tính an toàn trong hoạt động cho vay. ?oBản chất của T+3 là nhà đầu tư đã bán ra cổ phiếu lại cần tiền ngay để tham gia thị trường vào ngày hôm sau. Nếu lấy T+ 3 để tính dư nợ cho vay chứng khoán sẽ làm cho NHTM không đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư, hạn chế tính thanh khoản chứng khoán?, một đại diện của NHTM Phương Đông nói.



    Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán có bị ghép vào dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán hay không? Đến thời điểm này, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa có văn bản trả lời. Theo các chuyên gia chứng khoán, một khi tài khoản tiền của nhà đầu tư mở tại một NHTM nhưng dư nợ cho vay chứng khoán của NHTM đó đã cán mức 3%, nghĩa là người bán chứng khoán sẽ không ứng được tiền trong ngày. Hệ quả là nhà đầu tư bị chôn vốn trong 3 ngày. Do đó, Ngân hàng Nhà nước cần tách bạch cho vay cầm cố chứng khoán với vay ứng tiền đã bán chứng khoán, loại đối tượng ứng tiền bán chứng khoán ra khỏi Chỉ thị 03.



    Để đối phó với Chỉ thị 03, nhiều NHTM đang dùng ?otiểu xảo? đẩy mạnh cho vay tiêu dùng để nâng tổng dư nợ tín dụng, đề ra các chương trình dễ dãi như: cho vay tín chấp lên đến hàng trăm triệu đồng, cho vay mua hàng điện máy, cho vay mua bán nhà đất... Khi tổng dư nợ tín dụng tăng lên thì tỉ lệ cho vay chứng khoán giảm xuống. Tuy nhiên, theo một số chuyên gia tài chính, việc cho vay tiêu dùng tràn lan dễ tạo ra nguy cơ rủi ro cho các NHTM theo kiểu ?otránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa?...



    Theo NLĐ
  9. hocCK

    hocCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2006
    Đã được thích:
    1
    Chuyển tài khoản nhà đầu tư về ngân hàng

    Các ngân hàng và công ty chứng khoán (CTCK) đang chạy nước rút để hoàn tất việc kết nối nhằm thực hiện việc nhận, chi tiền cho nhà đầu tư (NĐT) thông qua ngân hàng kể từ cuối tháng 2/2008.

    Nhiều việc phải làm



    Theo quy định mới của Bộ Tài chính, từ tháng 2/2008, NĐT phải đến ngân hàng nộp tiền rồi mới đến CTCK thực hiện giao dịch mua chứng khoán của mình. Việc kết nối giữa tài khoản của NĐT ở ngân hàng với CTCK phải được thực hiện thông suốt để CTCK theo dõi được số dư nhằm thực hiện lệnh mua của NĐT. Nếu việc kết nối không trôi chảy, số dư của NĐT không được thể hiện ở CTCK thì lệnh của NĐT không được thực hiện hoặc bị chậm trễ. Điều này đồng nghĩa với việc giao dịch của NĐT bị gián đoạn.



    Ngoài việc quản lý tiền của NĐT theo đúng chức năng, nghiệp vụ thì thông qua ngân hàng, NĐT cũng thuận tiện hơn khi đến bất kỳ điểm giao dịch nào để thực hiện việc rút tiền, nộp tiền. Tuy nhiên, để các CTCK có thể kết nối vào hệ thống của ngân hàng thì còn nhiều việc phải làm. Theo ông Võ Tấn Long, Phó tổng giám đốc Công ty IBM Việt Nam, về mặt công nghệ không có gì khó. Thế nhưng hiện nay, hạ tầng công nghệ thông tin giữa các CTCK với ngân hàng không đồng nhất và cũng chưa sẵn sàng cho việc kết nối này. Vì vậy, điều quan trọng nhất là phải có sự hỗ trợ của các công ty cung cấp giải pháp làm đơn vị trung gian và những đơn vị này phải có chuyên gia am hiểu về quy trình nghiệp vụ của ngân hàng lẫn CTCK để làm cầu nối. Ông Đinh Kim Quốc Thái, Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin của Ngân hàng Eximbank cũng cho rằng, công nghệ sử dụng của ngân hàng và các CTCK dù khác nhau nhưng vẫn kết nối được. Chỉ cần phần mềm của các CTCK đang sử dụng chỉnh sửa thêm một chút thì sẽ thực hiện được ngay.



    Chọn giải pháp nào?



    Theo các CTCK, hiện nay có 3 giải pháp để có thể thực hiện việc quản lý tiền của NĐT thông qua ngân hàng. Đó là ngân hàng mở quầy giao dịch ngay tại sàn chứng khoán. Thứ hai là việc kết nối từ CTCK đến ngân hàng nhưng không phải online hoàn toàn mà vẫn thực hiện theo phương pháp bán thủ công. Việc kiểm tra số dư tài khoản của NĐT tại ngân hàng được CTCK thực hiện định kỳ trong ngày (ví dụ khoảng 15 phút một lần). Thứ ba là việc kết nối sẽ được thực hiện tự động hoàn toàn và khi có biến động trong tài khoản của NĐT tại ngân hàng thì phía CTCK cũng sẽ cập nhật được. Cách thứ ba là tốt nhất về hiệu quả cũng như tạo sự thông suốt, tiện lợi cho NĐT. Tuy nhiên, việc kết nối hoàn toàn online không dễ thực hiện và bắt buộc hệ thống công nghệ thông tin của ngân hàng và CTCK phải sẵn sàng đáp ứng cho việc này.



    Theo một số chuyên gia, các ngân hàng và CTCK có thể nghĩ đến một giải pháp kết nối tập trung. Khi có nhiều ngân hàng và CTCK tham gia vào hệ thống này, tất cả CTCK đều có thể kết nối được với nhiều ngân hàng khác nhau, và ngược lại một ngân hàng cũng có thể kết nối với nhiều CTCK khác nhau. "Giải pháp kết nối tập trung sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí và thời gian triển khai cho bản thân CTCK và ngân hàng. Hơn nữa, nó sẽ không hạn chế sự lựa chọn ngân hàng của NĐT", ông Thái nói.



    Tuy nhiên, ở thời điểm hiện nay, đa số CTCK đều chọn phương pháp kết nối thẳng với một hệ thống ngân hàng nào đó và việc giao dịch cũng chưa thực hiện online hoàn toàn mà được cập nhật định kỳ. Ngoài ra, còn có lý do chủ quan là các CTCK không muốn thay đổi quy trình của mình cũng như vẫn muốn được quản lý tiền của NĐT như trước đây. Việc lựa chọn phương pháp nào thì CTCK cũng không còn nhiều thời gian và phải bắt tay ngay để thực hiện. Hơn nữa, giải pháp online hoàn toàn giữa CTCK với ngân hàng là bước phát triển tiếp theo mà cả hai bên đều phải áp dụng.



    (Nguồn: thanhnien)
  10. hocCK

    hocCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2006
    Đã được thích:
    1
    "Đi chợ" sàn Hà Nội



    Trong khi VN-Index vẫn không lên nổi ngưỡng 1.000 điểm; thông tin hỗ trợ thị trường vẫn được coi là chưa có gì mới ngoài thông tin ban đầu về đợt IPO của VCB thì nhiều NĐT đã tranh thủ "nhảy" sang sàn Hà Nội "đi chợ" và coi đó là một trong những giải pháp trước mắt trong khi chờ thị trường bứt phá khi có dấu hiệu tích cực tác động.


    Mua tranh thủ



    Với mức dao động 10%, sàn Hà Nội được coi là nơi dành cho những NĐT ưa mạo hiểm. Ở thời điểm nhàn rỗi, rút vốn trên sàn TP. HCM, ông Khải, một NĐT đã quyết định chuyển ít vốn sang sàn Hà Nội.



    Khi Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC) thuộc NHNN vừa công bố xếp hạng tín dụng của 10 DN tiêu biểu tại TTGDCK Hà Nội, ông Khải đã kịp mua 2.000 CP DHI của CTCP In Diên Hồng.



    Theo ông Khải, việc xếp hạng này của CIC tuy không có tác động nhiều đến thị trường cũng như biến động giá CP, nhưng trong thời điểm này thị trường đang khát thông tin tích cực hỗ trợ thì đây cũng được coi là một thông tin tham khảo cho NĐT.



    Kết thúc phiên giao dịch 7/12, giá CP này đã tăng lên mức đóng cửa 64.400 đồng/CP. Nếu so với mức giá 48.800 đồng/CP lúc mua thì đến phiên này ông Khải có mức chênh lệch 30%, một mức khá thành công ở thời điểm thị trường lình xình này.



    Anh Xuân, nhà đầu tư tại sàn Thăng Long đã đặt lệnh mua hơn 2.000 CP SD3 từ trước lúc thị trường mở cửa hơn 30 phút với giá 190.000 đồng/CP ngày 3/12 sau khi họ CP Sông Đà có phiên điều chỉnh giảm mạnh trước đó.



    Kết thúc phiên giao dịch ngày 6/12, giá của CP này đóng cửa ở mức 192.000 đồng/CP, tăng thêm được 100 đồng/CP. Tuy mức tăng không nhiều, nhưng với tin công ty này sẽ phát hành tổng số 6 triệu CP, bao gồm cả việc niêm yết thêm (số lượng hơn 2,7 triệu CP, với tỉ lệ 1: 1,37 cho cổ đông hiện hữu, giá chào bán 10.000 đồng/CP) và trả cổ tức bằng CP (tổng số 260.000 CP theo tỉ lệ 1: 1,37).



    Ngoài ra, Công ty còn chào bán 3 triệu CP ra công chúng, với giá khởi điểm 30.000 đồng/CP. Theo anh Xuân, thông tin này sẽ khiến cho giá CP này tăng giá.



    Chỉ chắc trong ngắn hạn



    Tuy nhiên, những NĐT này đều cho rằng, không có ý định giữ hai CP trên lâu hơn vài phiên. Với sự biến động thất thường mà ngay cả những người theo dõi sát sao sàn Hà Nội cũng khó có thể dự đoán được diễn biến những phiên tiếp theo, để chắc chắn thì khi chênh lệch vài giá sẽ bán ra để bảo toàn vốn.



    Đồng quan điểm trên, anh Hoàn, trên sàn Thăng Long đồng tình: "Chỉ cần lên vài giá là bán được". Anh cũng bày tỏ quan điểm, chỉ nên "đi chợ" mua nhanh, bán nhanh và không nên để lâu bởi điều gì cũng có thể xảy ra ở thời điểm chưa có thông tin gì tác động tới tâm lý NĐT. Anh cho rằng, nếu giá CP lên thì là điều may mắn, còn nếu ngược lại thì NĐT cũng phải chấp nhận lỗ.



    Theo nhận định của ông Tùng, một NĐT lâu năm tại sàn CTCK Quốc tế, cũng như một số NĐT có kinh nghiệm, ở thời điểm này nếu so với những diễn biến gần đây của sàn TP.HCM thì sàn Hà Nội được coi là "chắc" hơn.



    Mức điều chỉnh giảm một vài điểm như thời điểm hiện nay hoàn toàn không có gì đáng ngại. Chính điều này lại được nhiều người coi là một dấu hiệu tích luỹ vững chắc để bứt phá khi có dấu hiện tích cực tác động tới thị trường.



    Tuy nhiên, theo ông Tùng, nếu đầu tư một lượng vốn nhỏ "đi chợ" thời điểm này thì việc kiểm soát trong ngắn hạn là khá tốt. Trong dài hạn, việc TTCK sẽ diễn biến theo một kịch bản nào thì không ai có thể chắc chắn.



    Tuy nhiên, theo nhận định của NĐT này thì xu hướng chung vẫn là tăng trưởng. Khi HASTC-Index vượt qua được ngưỡng 350 điểm thì theo kinh nghiệm của ông Tùng, NĐT có thể yên tâm bỏ vốn. Còn hiện tại, nếu đầu tư theo xu hướng dài hạn thì mua vào với giá CP thời điểm này là hoàn toàn hợp lý.



    Theo LĐ

Chia sẻ trang này