HOT NEWS - Tin tức cập nhật liên tục hàng ngày!

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi hocCK, 13/11/2007.

2381 người đang online, trong đó có 952 thành viên. 11:40 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 25098 lượt đọc và 415 bài trả lời
  1. hocCK

    hocCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2006
    Đã được thích:
    1
    VAFI: Nên tăng room khối ngân hàng lên 35% - 37%


    (ĐTCK-online) Ngày 3/1, Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính (VAFI) đã có văn bản kiến nghị gửi Thủ tướng Chính phủ và các ban, ngành liên quan, theo đó cần nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các ngân hàng từ mức 30% hiện nay lên 35% hoặc 37%, coi đây là một trong những biện pháp kích cầu thị trường.


    Theo VAFI, cổ phiếu ngành ngân hàng là một trong những đối tượng đầu tư mà các nhà đầu tư tổ chức nước ngoài rất mong nắm giữ, dù là với tỷ lệ không cao. Việc sở hữu cổ phiếu ngành này cũng là một điểm để các quỹ dễ huy động trên trường quốc tế, tuy nhiên, các ngân hàng thường có xu hướng dành tỷ lệ sở hữu này cho các đối tác chiến lược nước ngoài. Điều này dẫn đến khó khăn cho các nhà đầu tư tổ chức trong việc đầu tư cổ phiếu ngành này. Việc mở rộng hơn tỷ lệ sở hữu cũng là một động lực thu hút đầu tư quốc tế vào Việt Nam, từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng nhanh quy mô hoạt động, và đây cũng là động lực giúp quản trị doanh nghiệp có điều kiện để tốt hơn.

    Cũng theo VAFI, việc nâng tỷ lệ sở hữu thêm 5 - 7% không phải là quá lớn, nhất là khi có sự quản lý tốt của cơ quan quản lý nhà nước, trong khi với quy mô ngày càng lớn của các ngân hàng thương mại, chỉ cần mở room 1% cũng giúp thu hút thêm số vốn không nhỏ. Đơn cử như Vietcombank, 1% vốn điều lệ cũng đã khoảng 100 triệu USD (chưa tính việc thu hút theo giá thị trường).

    Bùi Sưởng
  2. hocCK

    hocCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2006
    Đã được thích:
    1
    Chờ đợi kích cầu

    Phiên giao dịch thứ hai của năm mới 2008, chỉ số VN-Index tiếp tục mất thêm 12,82 điểm, tương đương 1,41%, xuống còn 908,25 điểm. Mức sụt giảm khá lớn đặt trong bối cảnh thị trường giai đoạn hiện nay giống như một đợt không khí lạnh tăng cường bất ngờ ập đến giữa mùa đông vốn đã rất giá rét của TTCK trong thời gian vừa qua.

    Chán nản, thất vọng và mệt mỏi là tâm trạng chung của hầu hết NĐT bao trùm các sàn CK trong hai phiên giao dịch đầu năm mới vì sự khởi sắc không tới như nhiều hy vọng.

    Anh Thanh, NĐT sàn VIS giải thích, nhiều NĐT hy vọng sau mốc chuyển tiếp về mặt thời gian, thị trường cũng sẽ chuyển biến theo với xu hướng tích cực, không khí thị trường cũng như khí thế mua bán của NĐT sẽ được hâm nóng.

    Tuy nhiên, trên thực tế thị trường lại diễn biến theo hướng hoàn toàn trái ngược. Điều này làm cho tâm lý NĐT vốn đã chán nản càng trở nên nặng nề hơn. Quyết định bổ sung danh mục đầu tư khi mà tất cả các loại CP trên đều được các chuyên gia đánh giá là rất rẻ cũng đành gác lại vì chưa biết thị trường sẽ diễn biến ra sao.



    Nhiều ý kiến cho rằng tình hình thị trường ảm đạm hai phiên đầu năm mới một phần là do nhiều NĐT vẫn trong giai đoạn nghỉ Tết, chưa kịp quay lại sàn.



    Bác bỏ nhận định trên, anh Hùng sàn VIS cho rằng ngay phiên giao dịch đầu tiên ngày 2.1, chỉ số VN-Index đã mất điểm ngay trong đợt I của phiên giao dịch. Sự sụt giảm này tiếp tục cho đến hết phiên. Sang đến phiên ngày 3.1 thì chỉ số này rơi thẳng xuống sát mức 900 điểm. Và khi đã xuyên thủng mức này xuống đến 908,25 điểm ngày 3.1 thì việc VN-Index tiếp tục rơi xuống dưới 900 là điều khó tránh.



    Chờ tín hiệu kích cầu



    Nhìn nhận dưới góc độ cung cầu thị trường, anh Khanh-sàn VPBS-nhận định: "Sở dĩ thị trường không thể ấm lại trong hai phiên giao dịch đầu năm như kỳ vọng là do nguồn cung hàng hoá quá lớn".



    "Vụ" IPO VCB chưa xong, thị trường chưa kịp hồi phục, NĐT chưa kịp chuẩn bị thì tin IPO của Sabeco và Habeco tới tấp dội xuống khiến thị trường không đủ sức gánh, đó là chưa tính đến cả chục DN lớn ngành viễn thông, NH đang chờ IPO trong năm nay. Bên cạnh đó, hiện có đến 98% số NĐT đang mắc kẹt, bán thì mức lỗ quá lớn, nhập thêm hàng thì mắc cạn nguồn tiền.



    Dưới góc độ niềm tin vào thị trường, nhiều ý kiến cho rằng việc tăng lòng tin cho NĐT là một điều cần thiết. Theo nhận xét của anh Hùng: "NĐT cá nhân là những người chịu nhiều thiệt thòi nhất trong cuộc chơi này. Hiện nay họ giống như những người bị cuốn theo dòng lũ không biết níu vào đâu bởi vốn cạn trong khi thông tin không có, kiến thức lại hạn chế".



    NĐT này nhấn mạnh, nếu niềm tin của NĐT giảm sút thì dù CP tốt, DN kinh doanh có lãi thì giá vẫn giảm. Chỉ khi niềm tin vào thị trường tăng lên thì mới hy vọng thị trường có sự khởi sắc.



    Theo LĐ
  3. nguyengd

    nguyengd Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/03/2007
    Đã được thích:
    0
    04-01-2008: Đợt 3: 903.09 -5.16 -0.57% Tổng GT: 428.00 tỷ



    Được nguyengd sửa chữa / chuyển vào 10:33 ngày 04/01/2008
  4. mtxtvn

    mtxtvn Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    28/03/2004
    Đã được thích:
    0
    Tin HOT:

    Sắp tăng room cho nước ngoài, trước mắt là ở nhóm ngân hàng + tài chính.

    Papa em mới đi họp về bảo thế

    Các bác cứ chờ nhé, tuần sau ra tin
  5. sieuthiotc

    sieuthiotc Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    05/12/2006
    Đã được thích:
    10
    Em Thu trông đáng yêu quá ... tin của em sao giống em thế ... đều HOT cả.

    THANK nhé

  6. small_best

    small_best Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    08/04/2006
    Đã được thích:
    9
    Giới hạn sở hữu 30% trong lĩnh vực ngân hàng: Đã đến lúc thay đổi?

    Ngày 3.1.2008, Hiệp hội Nhà đầu tư tài chính (Vafi) đã có văn bản gửi tới Thủ tướng và các cơ quan liên quan kiến nghị giải pháp mở rộng giới hạn sở hữu của NĐTNN trong lĩnh vực NH lên 37%.

    Vì trong điều kiện thị trường đang trong quá trình điều chỉnh, giải pháp kích cầu đang được các cơ quan quản lý nhắc đến như một biện pháp giúp thị trường phát triển ổn định hơn khi quy mô ngày càng mở rộng.

    CP NH: CP bắt buộc?

    Không phải ngẫu nhiên lĩnh vực NH lại được chọn như một sự đột phá trong vấn đề mở room cho NĐTNN. Theo ông Nguyễn Hoàng Hải - Tổng Thư ký Vafi, lĩnh vực NH đặc biệt quan trọng đối với NĐT chuyên nghiệp, nhất là trong điều kiện một nền kinh tế mới nổi. Tất cả các NĐT chuyên nghiệp khi đặt kế hoạch đầu tư vào VN đều mong muốn trong danh mục đầu tư của mình có CP NH.

    Một minh chứng rõ ràng nhất là sự kiện nhầm room của STB trên sàn TPHCM ngày 21.8.2007 khi mức giới hạn bị nhầm từ 30% lên 49%. NĐTNN ngay lập tức đã đổ tiền ra mua ồ ạt khiến Sở GDCK TPHCM phải thông báo ngừng nhận lệnh với CP này.

    Mới đây, sự kiện NH ANZ thông báo mua vào trên 700.000 STB và Cty tài chính quốc tế (IFC) thông báo bán ra trên 8,9 triệu STB đã làm xôn xao giới đầu tư. Tuy nhiên, theo thông tin từ Sacombank, ngay khi có thông báo nhiều tổ chức tài chính quốc tế đã đề nghị được mua lại số cổ phần của IFC, vượt cả mức bán ra. ANZ cũng đã thực hiện thoả thuận thành công số CP cần mua ngay sau khi thông báo.

    Tuy nhiên, khả năng tiếp cận CP NH với các tổ chức đầu tư nước ngoài, nhất là các quỹ chậm chân không hề dễ khi hầu như tất cả các NHCP đều mong muốn dành phần lớn "miếng bánh 30%" cho các NĐT chiến lược và chỉ có vài tổ chức nước ngoài có cơ hội đầu tư vào một NH. Các tổ chức và cá nhân đầu tư nước ngoài (không phải là tổ chức tín dụng NH hay là NĐT chiến lược) chỉ được nắm giữ tỉ lệ thấp, dưới 0,3%/vốn điều lệ cho mỗi tổ chức hoặc ở mức thấp hơn nhiều, thông thường khoảng 10 - 30 triệu USD cho một NH đối với một tổ chức.

    Với những khoản đầu tư này thì khó có thể đầu tư vào các NH chưa niêm yết vì theo quy định hiện hành trước khi đầu tư vào NH chưa niêm yết thì NHCP phải làm nhiều thủ tục xin phép NHNN. Trong khi đó, cơ hội với các CP niêm yết cũng khó khăn không kém khi mức room đã hết. Trường hợp của STB ngày đầu chào sàn ngày 12.7.2007 là ví dụ tiêu biểu khi "miếng bánh" chỉ còn chưa đầy 4% khiến khối này phải đổ tiền ra tranh mua nốt trong vòng 3 ngày để giữ chỗ.

    Theo nhận xét của Vafi, với danh mục đầu tư ít có CP NH, các Cty quản lý quỹ gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn trên thị trường quốc tế. Điều này đã phần nào hạn chế dòng vốn nước ngoài đầu tư vào TTCKVN, nhất là khi môi trường đầu tư CK của VN chưa được hấp dẫn như các TTCK có chính sách tự do hoá thương mại và đầu tư trong những lĩnh vực kinh doanh có điều kiện. Quy mô các quỹ đầu tư đầu tư vào VN cũng nhỏ hơn nhiều so với các nước khác do TTCKVN còn nhỏ. Nếu NĐTNN có cơ hội thuận tiện trong việc đầu tư vào lĩnh vực NH thì đồng nghĩa với việc quy mô thị trường sẽ tăng lên đáng kể bởi NH đều là những DN lớn hơn nhiều so với các DN sản xuất kinh doanh và còn có nhiều tiềm năng phát triển.

    Tăng room: Lợi cho thị trường

    Việc tăng tỉ lệ sở hữu của NĐTNN trong lĩnh vực NH lâu nay vẫn được cho là khá nhạy cảm và không phải ngẫu nhiên vấn đề giới hạn sở hữu được cân nhắc và quyết định "rắn" trên bàn đàm phán về các cam kết quốc tế. Tuy nhiên, theo nhận định của Vafi, nếu phân tích kỹ bản chất của vấn đề cộng với chính sách quản lý nhà nước thích hợp trong từng thời kỳ thì việc nới rộng room là nhu cầu thực sự của sự phát triển bền vững của hệ thống NHTM và của TTCK. Vafi cho rằng tăng tỉ lệ sở hữu của NĐTNN từ 30% lên 35% hoặc 37% là hoàn toàn phù hợp vì đây là mức tăng không nhiều so với tỉ lệ nắm giữ của NĐTTN.

    Hơn nữa, việc tăng room này chỉ dành cơ hội cho đông đảo các tổ chức và cá nhân đầu tư nước ngoài chứ không phải cho NĐT chiến lược, khuyến khích các đối tượng đầu tư mới.

    Từ góc độ DN, việc tăng room cũng tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các NH có điều kiện tham gia niêm yết tại nước ngoài. Việc mở rộng quy mô có thể nắm giữ cũng khuyến khích của các tổ chức chuyên nghiệp đầu tư vào NH, góp phần thay đổi cơ cấu cổ đông theo hướng tăng tỉ lệ sở hữu của tổ chức, cải thiện đáng kể tính tổ chức và ổn định trong cơ cấu sở hữu.

    Từ góc độ thị trường, khi NH tăng quy mô để có thể hội nhập khu vực (vốn tự có trung bình khoảng 10 tỉ USD) thì mức tăng thêm 5-7% cũng đủ lớn đối với nhu cầu thị trường, chẳng hạn 1%/vốn điều lệ 15.000 tỉ đồng của Vietcombank cũng trị giá khoảng 100 triệu USD. Khi thị trường mở rộng quy mô thì sức cầu cũng cần gia tăng tương ứng. Các quỹ đầu tư nước ngoài có cơ hội thuận tiện trong việc đầu tư vào các NHCP thì việc thuyết phục các NĐT quốc tế từ phía các Cty quản lý quỹ nước ngoài sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Việc tăng room trong bối cảnh TTCK hiện nay là có ý nghĩa lớn cho TTCKVN, ngoài ý nghĩa kích cầu còn làm tăng thêm sức mạnh cho chính NĐTTN.
  7. hocCK

    hocCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2006
    Đã được thích:
    1
    Thị trường ảm đạm quá, em pót truyện lên đây để giải trí vậy nhé. ---

    Thomas L. Friedman

    Chiếc Lexus và cây Ô liu

    Lời mở đầu

    Đây là ấn bản bìa mềm cuốn Chiếc Lexus và cây Ô liu. Độc giả của ấn bản gốc bìa cứng sẽ thấy một số thay đổi so với ấn bản mới này. Nhưng luận thuyết chủ yếu của cuốn sách không thay đổi: Toàn cầu hóa không chỉ đơn giản là một trào lưu thời thượng à đúng ra là một hệ thống quốc tế. Hệ thống này bây giờ đã thay thế hệ thống Chiến tranh Lạnh và cũng như hệ thống Chiến tranh Lạnh, toàn cầu hóa có quy tắc và logic riêng hiện đang trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến chính trị, môi trường, địa chính trị và kinh tế của hầu như mọi nước trên thế giới.

    Thế nhưng thay đổi gồm những gì? Tôi đã sắp xếp lại các chương đầu để độc giả nhận định và tiêu hóa luận thuyết chủ yếu của tôi dễ dàng hơn. Tôi cũng sử dụng thời gian từ lúc cuốn sách được xuất bản lần đầu tiên vào tháng tư năm 1999 để thu thập thêm chứng cứ và để cập nhật, mở rộng cuốn sách với mọi tiến bộ khoa học và thị trường đã nâng cao toàn cầu hóa thêm một bước nữa. Tôi cũng đã xem xét lại một số tiểu luận đề gây tranh cãi trong cuốn sách này. Một trong số đó là Lý thuyết vòng cung vàng- cho rằng chưa có hai nước nào có tiệm ăn McDonald từng giao chiến với nhau từ khi có mặt McDonald. Tôi thấy lô gic đằng sau lý thuyết này được cũng cố hơn bao giờ hết vào tôi đã trả lời cho những ai nghi ngời lý thuyết này sau khi xảy ra chiến tranh Kosovo. Một thay đổi khác là chương trước đây đặt tên "Mua Đài Loan, giữ lại Ý, bán Pháp" nay được tách thành hai chương. Chương mới mang tên "Tạo lập, thích nghi và những cách tư duy mới khác về quyền lực", dựa trên một câu hỏi tôi nêu lên trong ấn bản đầu tiên: Nếu quyền lực kinh tế trong hệ thống toàn cầu hóa đầu tiên dựa vào số máy tinh cá nhân trong hộ gia đình ở một nước, sau đó là băng thông Internet trên đầu người trong một nước, còn sau đó là gì? Chương này cố gắng trả lời câu hỏi đó bằng cách xem xét các cách mới khai sinh để đo lường quyền lực kinh tế trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Cuối cùng, tôi đã cố gắng trả lời một số câu hỏi thường được độc giả ấn bản đầu tiên nêu lên: "Ông miêu tả hệ thống mới này như thế đó, tôi phải làm gì để chuẩn bị cho con cái thích ứng với nó?"; "Có Thượng đế trong không gian điều khiển học chăng?" - đấy là câu hỏi hàm ý "Giá trị đạo đức nằm ở đâu?".

    Trật tự thế giới mới phát triển quá nhanh đôi lúc tôi ước gì đây là một cuốn sách điện tử mà tôi có thể cập nhật hàng ngày. Hy vọng mang tính thực tế hơn rằng sẽ có ngày trong nhiều năm tới cuốn sách này sẽ không còn nằm trên kệ "Vấn đề thời sự" trong hiệu sách nữa. Nó sẽ chuyển sang kệ sách "Lịch sử" - được nhớ đến như một trong những cuốn sách phát hiện và lần đầu tiên giúp định nghĩa hệ thống toàn cầu hóa mới mẻ đang chi phối chúng ta.


    Thomas L. Friedman
    Bethesda, Md.
    Tháng giêng 2000
    ---
  8. hocCK

    hocCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2006
    Đã được thích:
    1
    Màn dạo đầu

    Thế giới này tròn mười tuổi

    Thật tệ hại - chúng tôi đâu có liên quan gì đến Nga hay châu Á. Chúng tôi chỉ là một doanh nghiệp nhỏ trong nước đang cố phát triển nhưng chúng tôi đang bị ngáng đường vì cách thức chính phủ các nước ấy điều hành đất nước họ.
    - Douglas Hanson, Tổng giám đốc công ty Rocky Moutain Internet trả lời phỏng vấn tờ Wall Street Journal sau sú sụp đổ của thị trường năm 1998 đã buộc ông ta đình hoãn việc phát hành 175 triệu đô-la trái phiếu giá rẻ.
    Vào sáng ngày 8-12-1997, chính phủ Thái Lan tuyên bố đóng cửa 56 trong số 58 tổ chức tín dụng của nước này. Trong một thời gian ngắn, các tổ chức tư nhân này đã bị phá sản do đồng tiền của Thái , đồng baht bị suy sụp. Các tổ chức tín dụng đã vay thật nhiều bằng tiền đô-la Mỹ rồi cho doanh nghiệp Thái vay tiền xây khách sạn, cao ốc văn phòng, căn hộ cao cấp và nhà xưởng. Mọi tổ chức tín dụng đều nghĩ họ an toàn vì chính phủ Thái có cam kết giữ giá trị đồng baht theo một tỷ lệ cố định với đồng đô-la. Nhưng khi chính phủ không làm được điều hứa hẹn đó sau một đợt dân đầu cơ toàn cầu tấn công đồng baht - cũng do nhận thấy rằng nền kinh tế Thái Lan không mạnh như người ta từng tưởng- đồng tiền Thái Lan sụt giá 30%. Điều này có nghĩa doanh nghiệp nào từng vay đô-la giờ phải kiếm thêm một phần ba nữa tiền baht mới mong trả được nợ. Nhiều doanh nghiệp không trả nổi khoản vay cho các tổ chức tín dụng, nhiều tổ chức tín dụng không thể trả nợ cho chủ nợ nước ngoài và cả hệ thống dồn cục lại, chết đứng, làm 20.000 nhân viên mất việc làm. Ngày hôm sau, tình cờ tôi đi xe đến một cuộc hẹn tại Bangkok dưới đường Asoke-khu vực tương đương phố Wall bên Mỹ-nơi đặt trụ sở của nhiều tổ chức tín dụng bị phá sản. Khi từ từ lái qua các ngân hàng đã sụp đổ, người tài xế taxi chỉ mặt, điểm tên từng cái, miệng tuyên án: Chết!... chết!...chết!...chết!...chết!"
    Lúc đó tôi không biết-mà nào ai biết được-các tổ chức tín dụng Thái Lan này chỉ là những quân cờ đô mi nô đầu tiên trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đầu tiên trong kỷ nguyên toàn cầu hóa-kỷ nguyên tiếp nối thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Cuộc khủng hoảng Thái Lan đã châm ngòi cho hàng loạt vụ rút vốn ào ạt ra khỏi hầu hết mọi thị trường mới nổi ở Đông Nam Á, làm giá trị đồng nội tệ của Hàn Quốc, Nakaysia và Indonesia suy sụp. Cả nhà đầu tư toàn cầu và địa phương bắt đầu xem xét các nền kinh tế này cẩn thận hơn, thấy chúng chưa hoàn hảo nên chuyển vốn đến nơi an toàn hay đòi lãi suất cao hơn để bù đắp độ rủi ro cao hơn. Chẳng bao lâu sau, một trong những chiếc áo được ưa chuộng ở Bangkok mang dòng chữ "Từng Rất Giàu".
    Trong một vài tháng, suy thoái Đông Nam Á bắt đầu có tác dụng lên hàng hóa toàn thế giới. Châu Á từng là một đầu máy quan trọng trong phát triển kinh tế toàn cầu-một đầu máy tiêu thụ nhiều nguyên liệu thô. Khi đầu máy này khục khặc, giá vàng, đồng, nhôm và quan trọng hơn, giá dầu thô bắt đầu giảm. Việc giảm giá hàng hoá toàn cầu này hóa ra là cơ chế lan truyền khủng hoảng Đông Nam Á sang Nga. Lúc ngày Nga đang lo chuyện của mình, với sự giúp sức của IMF đang cố gắng thoát ra bãi lầy kinh tế tự tạo để đạt tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên, vấn đề của Nga là nhiều nhà máy không thể sản xuất ra thứ gì có giá trị cả. Hầu hết những thứ chúng tạo ra được xem là "có giá trị âm". Có nghĩa, một máy cày do nhà máy của Nga làm ra tệ hại đến nỗi giá trị của lượng sắt thép hay ngay cả quặng thép thô để làm ra nó còn cao hơn giá chiếc mày cày hoàn chỉnh. Hơn thế nữa, nhà máy Nga nào làm ra sản phẩm có thể xuất khẩu được lại nộp rất ít thuế hay không nộp đồng nào cho chính phủ nên điện Kremlin luôn luôn thiếu tiền mặt.
    Không có một nền kinh tế có thể dựa vào trông chờ nguồn thu, chính phủ Nga đã trở nên lệ thuộc vào thuế xuất khẩu dầu thô và các loại sản phẩm khác nhằm có kinh phí hoạt động. Họ cũng lệ thuộc vào các nguồn cho vay nước ngoài mà Nga thu hút nhờ đưa ra mức lãi suất cực kỳ cao cho nhiều loại trái phiếu chính phủ.
    Khi nền kinh tế Nga tiếp tục suy thoái vào đầu năm 1998, Nga phải nâng lãi suất đồng rúp từ 20 lên 50 lên 70 phần trăm để tiếp tục giữ chân nhà đầu tư nước ngoài. Các quỹ đầu cơ và ngân hàng nước ngoài tiếp tục mua trái phiếu, với tính toán ngay cả nếu chính phủ Nga không trả nợ được thì IMF sẽ nhảy vào cứu Nga và họ sẽ thu hồi được tiền. Có quỹ đầu cơ và ngân hàng nước ngoài không chỉ đổ tiền vào Nga, họ còn vay thêm tiền, lãi suất 5% rồi lấy tiền đó mua trái phiếu Nga lãi suất 20-30%. Ngon ăn quá chứ gì. Nhưng ông bà ta thường nói:"Điều gì tốt đẹp quá không thể tin được thì thực tế là không tồn tại!"
    Đúng thế. Giá dầu sụt giảm do khủng hoảng châu Á gây ra làm chính phủ Nga ngày càng khó trả vốn và lãi trái phiếu kho bạc. IMF thì chịu áp lực phải cho vay giải cứu Thái Lan, Hàn Quốc và Indonesia nên chống lại mọi đề nghị đổ thêm tiền vào Nga - trừ phi Nga thực hiện lời hứa cải tổ nền kinh tế, bắt đầu bằng việc buộc các doanh nghiệp lớn và các ngân hàng nộp thuế. Vào ngày 17-8-1998, nền kinh tế Nga sụp đổ làm thị trường thế giới chao đảo từ hai phía: Nga vừa phá giá đồng tiền vừa đơn phương tuyên bố không trả nợ trái phiếu chính phủ mà không báo trước cho chủ nợ hay dàn xếp bất kỳ thỏa thuận nào.Các quỹ đầu cơ, ngân hàng và ngân hàng đầu tư đã rót tiền vào Nga bắt đầu thua lỗ nặng nề và những ai vay tiền để cá cược vào sòng bài Kremlin bị đe dọa phá sản.
    Nhìn từ bên ngoài, sự sụp đổ nền kinh tế Nga lẽ ra không có tác động gì vào hệ thống toàn cầu. Nền kinh tế Nga nhỏ hơn nền kinh tế Hà Lan. Nhưng hệ thống mang tính toàn cầu hơn bao giờ hết và trong khi giá dầu thô là cơ chế lan truyền từ Đông Nam Á sang Nga, quỹ đầu cơ - nơi tập hợp nguồn vốn tư khổng lồ không chịu sự kiểm soát - là cơ chế lan truyền từ Nga sang mọi thị trường mới nổi khác trên thế giớ, đặc biệt là Brazil. Quỹ đầu cơ và các hãng giao dịch khác, sau khi thua lỗ nặng nề ở Nga, có quỹ mức lỗ tăng đến 50 chục lần vì dùng tiền đi vay, bỗng phải kiếm tiền trả ngân hàng.Họ phải bán bất kỳ tài sản gì có tính thanh khoản. Vì thế họ bắt đầu bán tài sản trên những thị trường tài chính đang lành mạnh để bù đẵp vào các khoản lỗ tại thị trường suy sụp. Ví dụ Brazil đang thực hiện những điều đúng đắn trong con mắt của thị trường toàn cầu và IMF, bỗng thấy các nhà đầu tư hoảng loạn bán tống các loại cổ phiếu trái phiếu của nước mình. Brazil phải nâng lãi suất lên đến 40% để cố gắng duy trì đồng vốn ở lại. Các kịch bản tương tự xảy ra ở khắp các thị trường mới nổi khi nhà đầu tư bỏ đi tìm nơi an toàn. Họ bán hết mọi cổ phiếu, trái phiếu Brazil, Hàn Quốc, Ai Cập, Israel và Mexico, đem tiền về cất hay quay sang mua trái phiếu Mỹ an toàn nhất. Vì thế việc suy giảm ở các thị trường mới nổi và Brazil lại trở thành cơ chế lan truyền gây nên một đợt tranh nhau mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ. Đến lượt mình, điều này nâng giá trái phiếu chính phủ Mỹ lên cao, làm giảm lãi suất trái phiếu và gia tăng mức cách biệt giữa trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ và các loại trái phiếu thị trường mới nổi hay trái phiếu doanh nghiệp khác.
    Việc sụt giảm mạnh lợi suất từ trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ như thế đã trở thành cơ chế lan truyền gây sụp đổ cho nhiều quỹ đầu cơ và ngân hàng đầu tư khác. Lấy ví dụ Quỹ Long-Term Capital Managenment (LTCM) có trụ sở tại Greenwich, bang Connecticut. LTCM là quỹ đầu cơ hàng đầu. Vì có quá nhiều quỹ đầu cơ trên thị trường vào cuối thập niên 1980, lãnh vực này trở nên cạnh tranh gay gắt. Ai cũng tranh nhau giành cùng cơ hội. Để kiếm tiền trong một thế giới cạnh tranh dữ dội như thế, các quỹ đầu cơ phải tìm những canh bạc đen đỏ hơn với tiền cược ngày càng lớn. Để dẫn đường cho các vụ đặt cược đúng chỗ, LTCM dựa vào công trình của hai nhà kinh tế đoạt giải Nobel. Nghiên cứu của họ cho rằng tính không ổn định của trái phiếu và cổ phiếu có thể tính toán được nhờ quan sát biến động giá trong quá khứ. Sử dụng các mô hình máy tính và mạnh tay vay từ nhiều ngân hàng khác, LTCM đưa ra 120 tỷ đô-la cược rằng một số trái phiếu sẽ thay đổi giá theo chiều họ phỏng đoán vào mùa hè năm 1998. Họ đoán giá trị trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ sẽ giảm và giá trái phiếu loại rẻ tiền và trái phiếu của các thị trường mới nổi sẽ tăng. Tuy nhiên, mô hình máy tính của LTCM có bao giờ dự đoán được vụ khủng hoảng lan truyền khắp thế giới, khởi nguồn từ cú sụp đổ nền kinh tế Nga vào tháng 8. Thế là dự báo của họ sai hoàn toàn. Khi toàn giới đầu tư hoảng loạn cùng lúc và quyết định đổ tiền mua trái phiếu chính phủ Mỹ, giá trị của chúng tăng vọt thay vì giảm sút và giá trị trái phiếu giá rẻ và trái phiếu các thị trường mới nổi sụp đổ thay vì tăng vọt. LTCM giống như chiếc xương đòn bị kéo ở cả hai đầu. Các ngân hàng sau cùng phải cứu nó để tránh việc bán đổ mọi trái phiếu cổ phiếu của LTCM mà có thể gây ra sụp đổ thị trường toàn cầu.
    Bây giờ chúng ta quay về thế giớ đường phố. Vào đầu tháng 8-1998, tình cờ tôi đầu tư vào ngân hàng Internet mà bạn tôi vừa mới thành lập. Giá cổ phiếu ban đầu là 14,5 đô-la rồi tăng vọt lên 27 đô-la. Tôi thấy mình như một thiên tài. Nhưng rồi Nga xù nợ và làm hàng loạt quân cờ đô mi nô sụp đổ. Giá cổ phiếu của bạn tôi chỉ còn 8 đô-la. Vì sao? Bởi vì ngân hàng của bạn tôi nhận thế chấp nhiều loại nhà và do lãi suất ở Mỹ xuống thấp, gây nên cơn tranh giành mua trái phiếu chính phủ, thị trường sợ rằng nhiều người sẽ trả tiền nhà sớm hơn dự định. Nếu nhiều người cùng trả nợ để lấy lại thế chấp, ngân hàng bạn tôi sẽ không còn nguồn thu đều đặn mà ngân hàng đã lập dự toán để trả lãi cho người gởi tiền. Thị trường thật ra đoán sai về ngân hàng bạn tôi và giá cổ phiếu của nó phục hồi một cách tuyệt vời. Thật thế, đến đầu năm 1999, tôi lại thấy mình chẳng khác thiên tài là mấy khi cơn say các loại công ty Internet như Amazon.com đã đẩy giá cổ phiếu ngân hàng Internet của bạn tôi và cổ phiếu các công ty công nghệ khác lên tận mây xanh. Nhưng một lần nữa, chẳng lâu sau, thị trường thế giới lại sớm chấm dứt cơn say này. Chỉ có điều lần này thay vì Nga sụp đổ, đến lượt Brazil gây xáo trộn thị trường Mỹ và dập tắt (tạm thời) cú bùng nổ cổ phiếu Internet.
    Khi quan sát mọi diễn biến này, tất cả những gì tôi có thể nghĩ đến là việc cần đến chính tháng để các sự kiện trên đường Asoke tác động lên phố của tôi, sau đấy chỉ cần một tuần để các sự kiện từ Brazil tác động lên Amazon.com. Tờ USA Today đã tóm tắt thị trường toàn cầu một cách chính xác vào cuối năm 1998:"Khó khăn tràn từ lục địa này sang lục địa khác như một con vi rút" - tờ báo ghi nhận - "Thị trường Mỹ phản ứng ngay tức thì... Mọi người trong tiệm hớt tóc bàn đến cả chuyện đồng baht Thái Lan."
    Tuy nhiên, chẳng mất bao lâu sau Amazon.com lại phục hồi, kéo theo các loại cổ phiếu khác, đến lượt mình kéo theo thị trường chứng khoán Hoa Kỳ, rồi bản thân nó giúp tạo ra hiệu ứng giàu có tại Mỹ, nhờ đó khuyến khích dân Mỹ tiêu tiền nhiều hơn mức dành dụm. Dân Mỹ chịu chi tiền nên Brazil, Thái Lan và các thị trường mới nổi khác có thể xuất khẩu hàng, lại có tiền giải quyết khó khăn nhờ bán hàng cho dân Mỹ. Amazon.com, Amazon.toàn cầu - tất cả chúng ta đang tắm cùng dòng sông.
    Dù sao, chu kỳ từ đường Asoke đến phố của tôi, từ Amazon.toàn cầu đến Amazon.com rồi quay về Amzon.toàn cầu là bài học giúp chúng ta hiểu hơn về tình cảnh thế giới ngày nay. Hệ thống chậm chạp, cố định và chia cắt trong Chiến tranh Lạnh chiếm ngự quan hệ quốc tế từ năm 1954 đã được hoàn toàn thay thế bởi một hệ thống mới rất trơn tru và gắn kết chặt chẽ gọi là toàn cầu hóa. Nếu chúng ta không hiểu được điều đó vào năm 1989 khi bức tường Berlin sụp đổ thì chúng ta đã hiểu rõ vào một thập kỷ sau đó. Thật thế, vào ngày 11-10-1989, vào đỉnh cao của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Merrill Lynch cho chạy quảng cáo nguyên trang trên nhiều tờ báo lớn khắp nước Mỹ để nhấn mạnh điểm này. Quảng cáo viết:
  9. hocCK

    hocCK Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2006
    Đã được thích:
    1
    Thế giới tròn 10 tuổi
    Thế giới sinh ra khi Bức tường sụp đổ vào năm 1989. Không ngạc nhiên gì khi nền kinh tế non trẻ nhất của thế giới - nền kinh tế toàn cầu - vẫn đang tìm cách định hướng. Cơ chế kiểm tra, điều chỉnh tinh vi để ổn định các nền kinh tế chỉ có thể hoàn chỉnh theo thời gian. Nhiều thị trường thế giới chỉ mới được tự do hóa gần đây, lần đầu tiên bị chi phối bởi tâm lý con người thay vì nắm đấm của nhà nước. Từ chỗ chúng ta đang đứng, không có điều gì có thể làm suy giảm hứa hẹn được đưa ra một thập kỷ trước khi thế giới bị chia cắt đã bị tiêu diệt... Sự phát triển của thị trường tự do và dân chủ khắp thế giới đang cho phép nhiều người khắp nơi chuyển hoài bão thành thành tựu. Công nghệ được làm chủ đúng cách và phân phối tự do sẽ có sức mạnh xoá bỏ không chỉ biên giới địa lý mà còn biên giới dân tộc. Chúng tôi cảm thấy một thế giới chỉ vừa tròn 10 tuổi vẫn tiếp tục có những hứa hẹn to lớn. Xin nhớ cho trưởng thành bao giờ cũng là một quá trình đầy khó khăn.
    Thật ta, quảng cáo của Merrill Lynch sẽ chính xác hơn nếu nói kỷ nguyên toàn cầu hóa này đã tròn 10 tuổi. Bởi vì từ giữa những năm 1800 đến cuối thập niên 1920, thế giới cũng đã trải qua một kỷ nguyên toàn cầu hóa tương tự. Nếu so sánh khối lượng thương mại và dòng chảy đồng vốn qua biên giới, tương quan với GNP và dòng chảy lực lượng lao động qua biên giới, tương quan với dân số thì giai đoạn toàn cầu hóa trước Thế chiến thứ nhất rất giống giai đoạn chúng ta đang sống ngày nay. Anh quốc lúc ấy là một cường quốc toàn cầu, là nhà đầu tư lớn vào các thị trường mới nổi và những tay tài phiệt giàu sụ ở Anh, châu Âu và Mỹ thường bị khánh kiệt vì các vụ khủng hoảng tài chính bởi một sự cố nào đó tác động lên trái phiếu đường sắt Argentina, trái phiếu chính phủ Latvia hay trái phiếu chính phủ Đức. Không có kiểm soát tiền tệ cho nên ngay sau khi dây cáp xuyên đại dương được kết nối vào năm 1866 thì khủng hoảng ngân hàng và tài chính ở New York nhanh chóng lan truyền sang London hay Paris. Có lần tôi được xếp cùng nhóm thảo luận với John Monks, người đứng đầu Đại hội Liên đoàn Lao động Anh. Ông ta nhận xét chương trình nghị sự của Đại hội đầu tiên tại Manchester, Anh vào năm 1968 có liệt kê trong số những vấn đề cần thảo luận: "Nhu cầu cần giải quyết sự cạnh tranh từ các thuộc địa châu Á" và "Nhu cầu cần đạt chuẩn mực giáo dục và đào tạo của Hoa Kỳ và Đức". Vào thời đó, người ta di dân nhiều hơn cả và trừ lúc có chiến tranh, các nước không đòi hỏi hộ chiếu khi đi du lịch trước năm 1914. Mọi di dân đến Mỹ đều không có thị thực. Khi kết hợp các yếu tố này với nhau, cùng với phát minh tàu chạy bằng hơi nước, điện tín, đường sắt và sau cùng là điện thoại, có thể nói kỷ nguyên toàn cầu hóa lần đầu trước Thế chiến thứ nhất đã thu nhỏ thế giới từ cỡ "lớn" thành cỡ "trung".
    Kỷ nguyên toàn cầu hóa đầu tiên này và chủ nghĩa tư bản tài chính toàn cầu bị tan vỡ do các cú đấm của Thế chiến thứ nhất, Các mạng Nga và Đại suy thoái, kết hợp lại đã làm thế giới thương tổn nặng nề về thể chất và tinh thần. Thế giới bị chia cắt sau Thế chiến thứ hai lại bị đông cứng vì Chiến tranh Lạnh. Chiến tranh Lạnh cũng là một hệ thống quốc tế. Nó kéo dài từ khoảng năm 1945 đến 1989 khi cùng với sự sụp đổ của bức tường Berlin, nó được thay thế bằng một hệ thống khác: kỷ nguyên toàn cầu hóa mới mà chúng ta đang sống. Gọi nó là "Toàn cầu hóa hiệp II", hóa ra giai đoạn chừng 75 năm từ lúc bắt đầu Thế chiến thứ nhất đến lúc chấm dứt Chiến tranh Lạnh chỉ là một cách nghỉ giữa hiệp kéo dài từ kỷ nguyên toàn cầu hóa này sang kỷ nguyên khác.
    Trong khi có rất nhiều điểm tương đồng giữa kỷ nguyên toàn cầu hóa trước đây và kỷ nguyên chúng ta đang sống, điểm mới ngày nay là mức độ thế giới đang gắn kết với nhau thành một thị trường toàn cầu hóa và một ngôi làng chung. Một điểm mới khác là số lượng người dân và quốc gia có thể tham gia vào nền kinh tế toàn cầu hóa và mạng thông tin cũng như bị chúng chi phối. Kỷ nguyên trước năm 1914 có thể rất mãnh liệt nhưng nhiều nước đang phát triển trong kỷ nguyên này bị rơi ngoài rìa. Kỷ nguyên trước năm 1914 có thể lớn về quy mô xét trong mối tương quan với thời đại ấy tính theo con số tuyệt đối thì thật nhỏ bé khi so với ngày nay. Giao dịch ngoại hối hàng ngày vào năm 1900 chỉ tính bằng triệu đô-la. Năm 1992, con số này là 20 tỷ mỗi ngày theo Cục Dự trữ Liên bang tại New York và đến tháng Tư năm 1998, con số này lên đến 1.500 tỷ đô-la mỗi ngày và vẫn đang còn tăng lên. Vào khoảng năm 1900, dòng chảy đồng vốn tư nhân từ nước phát triển sang nước đang phát triển đo bằng số trăm triệu đô-la và rất có ít nước liên quan. Đến năm 2000, dòng chảy này đo bằng số trăm tỉ đô-la với hàng chục nước tham gia. Kỷ nguyên toàn cầu hóa mới, so với kỷ nguyên trước Thế chiến thứ nhất có tốc độ siêu tốc.
    Nhưng kỷ nguyên toàn cầu hóa ngày nay không chỉ khác về mặt mức độ; trên một số phương diện quan trọng nó còn khác về tính chất, cả kỹ thuật lẫn chính trị. Xét về mặt kỹ thuật, khác biệt là ở chỗ kỷ nguyên toàn cầu hóa trước đây xây dựng trên giá vận chuyển ngày càng giảm. Nhờ phát minh đường sắt, tàu chạy bằng hơi nước và ô tô, con ngườ có thể đến được nhiều nơi nhanh hơn và rẻ hơn; họ cũng có thể giao thương với nhiều nơi một cách nhanh hơn và chi phí rẻ hơn. Nhưng, như tờ The Economist nhận xét, kỷ nguyên toàn cầu hóa ngày nay được xây dựng nhờ vào giá viễn thông ngày càng giảm - nhờ bộ vi xử lý, vệ tinh, cáp quang và Internet. Công nghệ thông tin mới này đã kết nối thế giới càng chặt chẽ hơn. Các kỹ thuật này có nghĩa các nước đang phát triển không chỉ bán nguyên liệu thô cho phương Tây và nhận về sản phẩm hoàn chỉnh; chúng có nghĩa các nước đang phát triển cũng có thể trở thành nhà sản xuất lớn. Các kỹ thuật này cũng cho phép nhiều công ty đặt địa điểm sản xuất, nghiên cứu va marketing khác nhau ở các nước khác nhau nhưng vẫn kết nối chúng qua máy tính và hội nghị từ xa như thể chúng đang ở cùng một nơi. Tương tự, nhờ sự kết hợp máy tính và viễn thông giá rẻ, con người ngày nay có thể cung ứng và trao đổi dịch vụ trên toàn cầu - từ tư vấn sức khỏe đến viết phần mềm hay xử lý thông tin - những dịch vụ trước đây chưa bao giờ được trao đổi. Và tại sao không nhỉ? Một cuộc gọi ba phút (tính bằng đô-la giá năm 1996) giữa New York và London mất 300 đô-la vào năm 1930. Ngày nay hầu như không tốn phí nếu gọi qua Internet.
    Các kỹ thuật này không những tạo điều kiện cho các quốc gia và doanh nghiệp vươn ra khắp thế giới xa hơn, nhanh hơn, rẻ hơn và sâu hơn trước đây nhiều mà các cá nhân cũng làm được điều đó. Vào mùa hè năm 1998, tôi càng thấy điều này rõ hơn khi mẹ tôi Margaret Friedman, lúc đó đã 79 tuổi sống ở Minneapolis gọi điện cho tôi giọng rất bối rối. "Chuyện gì vậy mẹ?" Tôi hỏi. Bà đáp: "Ừ, mẹ chơi bài trên Internet với ba người Pháp mà họ cứ nói chuyện bằng tiếng Pháp với nhau, mẹ không hiểu gì cả". Khi tôi bật cười khi tưởng tượng cảnh bà chơi bài với ba người Pháp trên mạng, bà tự ái: "Đừng có mà cười. Hôm kia mẹ còn chơi bài với một người tận Siberia."
    Với những ai nói kỷ nguyên toàn cầu hóa này không khác gì so với trước, tôi chỉ cần hỏi: Thế cụ cố của bạn có chơi bài với người Pháp qua mạng Internet vào năm 1900 không? Tôi nghĩ là không.
    Nhưng, như tôi đã nói, kỷ nguyên toàn cầu hóa này cũng khác về mặt chính trị so với những năm 1900. Kỷ nguyên đó do siêu cường Anh, đồng bảng Anh và Hải quân Anh thống trị. Kỷ nguyên ngày nay do siêu cường Mỹ, văn hóa Mỹ, đô-la Mỹ và Hải quân Mỹ thống trị. Quyền lực của Mỹ sau Thế chiến thứ hai đã cố ý mở ra một hệ thống thương mại quốc tế mở để tạo công ăn việc làm và đối trọng với chủ nghĩa cộng sản Xô Viết. Chính Mỹ đã thúc đẩy sự hình thành Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Hiệp ước chung về thuế quan và thương mại (GATT) và hàng loại định chế khác nhằm mở cửa thị trường và thúc đẩy thương mại khắp thế giới. Chính các hạm đội của Mỹ đã giữ đường biển thông thương nhằm giúp kết nối các thị trường mới mở này. Cho nên khi Cách mạng Thông tin nổ ra vào cuối những năm 1980 - cho phép nhiều người hoạt động toàn cầu, liên lạc toàn cầu, du lịch toàn cầu và bán buôn toàn cầu - nó đã thăng hoa thành một cấu trúc quyền lực đã khuyến khích và nâng cao những xu hướng này, làm cho nước nào muốn lảng tránh phải trả giá đắt.
    Nói tóm lại, có một số điều về kỷ nguyên toàn cầu hóa mới này mà chúng ta đã từng chứng kiến (nhưng mức độ bây giờ cao hơn nhiều), có một số điều trước đây chúng ta chưa bao giờ thấy và cũng có điều quá mới đến nỗi chúng ta chưa hiểu hết chúng. Vì những lý do đó, tôi muốn tóm tắt sự khác biệt giữa hai kỷ nguyên toàn cầu hóa theo cách này: Nếu kỷ nguyên đầu tiên thu nhỏ thế giới từ cỡ "lớn" thành cỡ "trung" thì kỷ nguyên toàn cầu hóa lần này đang thu nhỏ thế giới từ cỡ "trung" thành cỡ "nhỏ".
  10. oneheartonelove

    oneheartonelove Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    05/04/2006
    Đã được thích:
    0
    Bạn thân mến!
    Rất tiếc bài viết của bạn có thể có nội dung chưa phù hợp hoặc vượt ra ngoài nội qui của TTVNOnline. Nếu không có sự vi phạm, bài viết của bạn sẽ được hiển thị trở lại trong một thời gian ngắn.
    Mong bạn thông cảm và tiếp tục đóng góp xây dựng và phát triển TTVNOnline.
    Ban Quản trị TTVNOnline!​

    bác nhiệt tình quá

Chia sẻ trang này