HOT NEWS - Tin tức cập nhật liên tục hàng ngày!

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi hocCK, 13/11/2007.

2381 người đang online, trong đó có 952 thành viên. 11:40 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 25098 lượt đọc và 415 bài trả lời
  1. oddessa

    oddessa Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    26/12/2007
    Đã được thích:
    0
    Cuốn sách này là một nỗ lực nhằm giải thích bằng cách nào kỷ nguyên toàn cầu hóa mới mẻ này trở thành hệ thống quốc tế vượt trội vào cuối thế kỷ 20 - thay thế hệ thống Chiến tranh Lạnh - và xem xét cách nó đang định hình hầu như toàn bộ quan hệ chính trị, thương mại, môi trường trong nước và quan hệ quốc tế. Theo nghĩa đó, sách nhằm đóng góp vào loạt sách cố gắng định nghĩa thế giới hậu Chiến tranh Lạnh. Trong số những cuốn được đọc nhiều nhất trong thể loại này có bốn cuốn: Sự hưng suy của các cường quốc:Thay đổi kinh tế và xung đột quân sự từ năm 1500 đến 2000 (Paul M. Kennedy), Kết cục của lịch sử và con người cuối cùng (Francis Fukuyama), các bài tiểu luận và những cuốn sách của Robert D. Kaplan và cuốn Xung đột các nền văn minh và sự tái tạo trật tự thế giới (Samuel P. Huntington).
    Trong khi các tác phẩm này chứa đựng nhiều chân lý, tôi nghĩ không có cuốn nào ghi nhận thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh một cách tổng thể. Cách viết của Kaplan rất sinh động và trung thực nhưng ông lại dùng các ngóc ngách đen tối nhất của thế giới này rồi khái quát một cách quá tay để liên hệ số phận của chúng cho phần còn lại của thế giới. Huntington chứng kiến các cuộc xung đột văn hóa khắp thế giới và mở rộng không cân nhắc rằng đấy là cuộc xung đột của các nền văn minh dai dẳng, gay gắt, thậm chí còn tuyên bố cuộc thế chiến kế tiếp, nếu có, "sẽ là chiến tranh giữa các nền văn minh". Tôi tin cả Kaplan và Huntington đánh giá quá thấp khả năng mà quyền lực nhà nước, sức hút thị trường toàn cầu, sự lan truyền công nghệ, sự trỗi dậy của mạng lưới truyền thông và sự lan toả các chuẩn mực toàn cầu có thể lật ngược các dự phóng trắng đen phân minh (hầu hết là đen tối) của họ.
    Cả Kennedy và Huntington cố gắng dự phóng tương lai mà dựa quá nhiều vào quá khứ, chỉ một mình quá khứ. Kennedy ghi nhận (rất tài tình) sự sụp đổ của các đế chế Tây Ban Nha, Pháp và Anh nhưng ông kết luận bằng cách suy đoán rằng đế chế Mỹ cũng sẽ sụp đổ vì sự bá quyền quá đáng của nó. Thông điệp ẩn ý của ông cho rằng kết thúc Chiến tranh Lạnh không chỉ có nghĩa kết thúc Liên Xô mà còn đem lại sự suy vong của Hoa Kỳ. Tôi tin Kennedy chưa hiểu hết rằng sự suy yếu tương đối của Mỹ trong thập niên 1980 khi ông viết sách là một phần của sự chuẩn bị khi Mỹ tự điều chỉnh theo hệ thống toàn cầu hóa mới - một quá trình mà hầu hết phần còn lại của thế giới hiện đang trải qua. Kennedy không nghĩ đến chuyện dưới áp lực toàn cầuhóa, Mỹ cắt giảm ngân sách quốc phòng, tinh giản bộ máy chính phủ va chuyển ngày càng nhiều quyền lực cho thị trường tự do và nhờ thế càng kéo dài vị thế một siêu cường chứ không giảm.
    Quan điểm của Huntington rằng khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, không còn phải đối phó với Liên Xô thì Mỹ đương nhiên quay sang đối phó với người theo đạo Hindu hay đạo Hồi và họ sẽ đối phó với người Mỹ. Ông ấy hoàn toàn loại bỏ sự trỗi dậy của một hệ thống quốc tế mới có thể định hình biến cố theo một cách hoàn toàn khác. Với Huntington, chỉ có chủ nghĩa bộ tộc tiếp nối Chiến tranh Lạnh chứ không phải xu hướng gì khác.
    Cuốn sách rất ấn tượng của Fukuyama chứa đựng những hiểu biết sâu sắc chính xác về những điểm mới - sự vượt thắng của chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa tư bản kinh tế thị trường là cách hiệu quả nhất để tổ chức xã hội - nhưng nhan đề sách (Kết cục của lịch sử...) hàm ý sự vượt thắng này rồi sẽ kết thúc, hàm ý này còn mạnh hơn nội dung sách và khác với những gì tôi được chứng kiến trên thế giới ngày nay.
    Theo một cách nào đó, các cuốn sách này trở nên nổi bật vì chúng đều cố gắng nắm bắt luồng tư duy về "Điều vĩ đại duy nhất" - phần chủ chốt, động cơ thiết yếu sẽ thúc đẩy các vấn đề quốc tế trong thế giớ hậu Chiến tranh Lạnh - dù đó là sự xung đột các nền văn minh, hỗn loạn, sự suy vong của các đế chế hay sự vượt thắng của chủ nghĩa tự do.
    Lập luận của tôi khác hẳn. Tôi tin rằng nếu muốn hiểu thế giới hậu Chiến tranh Lạnh, chúng ta bắt đầu bằng cách hiểu rằng một hệ thống quốc tế mới đã kế tục nó - toàn cầu hóa. Đấy là "Điều vĩ đại duy nhất" mà mọi người phải tập trung. Toàn cầu hóa không chỉ là tác động đến các biến cố trên thế giới ngày nay, bản thân nó là một hệ thống như trên trời có sao Bắc Đẩu vậy. Điểm mới chính là hệ thống này; điểm cũ là chính trị quyền lực, là hỗn loạn, xung đột văn minh và tự do chủ nghĩa. Và kịch tính của thế giới hậu Chiến tranh Lạnh là sự tương tác giữa hệ thống mới này và tất cả những cảm xúc và khát vọng cũ. Đó là một màn kịch phức tạp mà hồi chót vẫn chưa được viết xong.
    Đó là lý do tại sao trong hệ thống toàn cầu hóa, chúng ta sẽ thấy cả xung đột văn minh và đồng nhất văn minh, cả thảm họa môi trường và các vụ cứu môi trường thật đáng kinh ngạc, cả sự vượt thắng của chủ nghĩa tư bản kinh tế thị trường và làn sóng chống đối nó, cả sự bền vững của khái niệm quốc gia và sự trỗi dậy của những con người có quyền lực to lớn không thuộc quốc gia nào. Điều tôi muốn viết là một cuốn sách hướng dẫn cách theo dõi màn kịch đó và suy nghĩ cách quản lý nó.
    Thêm một điều sau chót trước khi chúng ta bắt đầu. Người xuất bản và biên tập cuốn sách này, Jonathan Galassi, một hôm gọi cho tôi và nói: "Tôi đang kể cho mấy người bạn nghe là anh đang viết một cuốn sách về toàn cầu hóa, họ bảo: A, Friedman hả, anh này khoái toàn cầu hóa lắm. Anh nghĩ sao?" Tôi trả lời cho Jonathan rằng tôi cảm nhận về toàn cầu hóa cũng như cảm nhận bình minh. Nói chung, tôi nghĩ sáng nào mặt trời đều mọc là điều tốt. Tốt nhiều hơn xấu, đặc biệt nếu bạn có mang kính râm. Nhưng ngay cả nếu tôi không thèm quan tâm gì đến bình minh, tôi cũng chẳng làm gì được nó. Tôi không gây ra toàn cầu hóa. Tôi không ngăn nó được - trừ phi phải trả một giá rất đắt cho sự phát triển của nhân loại - và tôi không phí sức thử ngăn nó làm gì. Tôi là một nhà báo, không phải là người rao giảng về toàn cầu hóa. Như quý vị sẽ thấy từ cuốn sách này, tôi hoàn toàn hiểu rõ những mặt trái của toàn cầu hóa. Câu hỏi trong tôi là phải làm gì với các mặt trái này. Tôi tin rằng cách tốt nhất để chúng ta giải quyết tính tàn bạo của toàn cầu hóa là đầu tiên phải hiểu lô-gic của hệ thống, các bộ phận hoạt động của nó, rồi suy tính xem làm sao để hệ thống này có lợi cho nhiều người nhất trong khi gây ra ít đau đớn nhất. Đấy là tinh thần thúc giục tôi viết cuốn sách này.
    Phần đầu sách giải thích cách nhìn vào hệ thống toàn cầu hóa ngày nay và cách hệ thống hoạt động. Phần hai giả thích các các quốc gia, cộng đồng, cá nhân và môi trường tương tác với hệ thống. Phần ba giải thích sự chống đối toàn cầu hóa. Và phần bốn giải thích vai trò độc đáo của Mỹ, cũng như nhu cầu cần phải đóng vai trò này để ổn định hệ thống mới.
  2. work2play11

    work2play11 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/11/2007
    Đã được thích:
    0
    TT đang tèo, nếu ko có các cú hích các NĐT bỏ chạy thì mấy ông quỹ với tây mua đi bán lại với nhau thôi. Hơn nữa NN cũng chẳng thu được bao nhiêu trong các vụ bán vốn tại các TCty lớn sắp tới.
  3. oddessa

    oddessa Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    26/12/2007
    Đã được thích:
    0
    Báo cáo: Nick HocCK em bị treo, không hiểu lý do. Em còn mỗi nick Oddessa này, có thể sẽ vị treo..không biết lý do. Bác nào nhiệt tình cho em mượn nick để em pót tiếp nhé. Rgds
    ---

    Phần I - Chương 1

    HIỂU HỆ THỐNG
    Hệ thống mới


    Mẹ của nhân vật Forrest Gump thường thích nói gì nhỉ? Cuộc đời như hộp kẹo sôcôla: trong hộp kẹo có loại kẹo gì ai mà biết trước được. Với tôi, một kẻ lữ hành lâu năm, một phóng viên quốc tế, đời như dịch vụ phòng khách sạn - không bao giờ biết khi mở cửa phòng ra ta sẽ thấy gì.
    Chẳng hạn vào tối ngày 31 tháng 12 năm 1994, khi bắt đầu phụ trách mục bình luận quốc tế cho tờ New York Times, tôi khởi đầu chuyên mục bằng những bài viết từ Tokyo. Đến khách sạn Okura sau một chuyến bay dài xuyên Thái Bình Dương, tôi gọi điện xuống dịch vụ buồng với một yêu cầu đơn giản: "Vui lòng cho mang lên phòng tôi bốn quả cam". Tôi nghiện ăn cam và lúc đó đang lên cơn thèm. Khi gọi điện tôi nghĩ đây là một yêu cầu đơn giản và hình như người ở đầu dây đằng kia cũng hiểu tôi. Khoảng 20 phút sau, có tiếng gõ cửa phòng. Một người phục vụ xuất hiện, đồng phục thẳng tắp, đẩy một xe có khăn bàn trắng toát. Trên xe là bốn ly cam vắt tươi ngon, mỗi ly nằm trong một khay đá sang trọng.
    "Không, không phải", tôi nói với người phục vụ. "Tôi muốn cam quả - không muốn cam vắt." Tôi há miệng giả vờ cắn, ra dấu quả cam.
    "A a", người phục vụ gật gật đầu. "Cam... cam."
    Tôi trở lại phòng, tiếp tục làm việc. Hai mươi phút sau, có tiếng gõ cửa. Cũng vẫn người phục vụ đó, vẫn chiếc xe phủ khăn trắng toát. Nhưng lần này, trên xe có bốn đĩa, trên mỗi đĩa là một quả cam đã được bóc và cắt thành những miếng nhỏ, xếp theo lối người Nhật bày món sushi.
    "Không, không phải", tôi lại lắc đầu. "Tôi muốn cam để nguyên." Tôi khum tay ra hiệu. "Tôi muốn giữ chúng trong phòng để ăn dần. Tôi không thể ăn hết một lúc bốn quả cắt ra như vật được. Tôi không thể bỏ chúng vào trong tủ lạnh được. Tôi muốn cam để nguyên."
    Một lần nữa, tôi lại cố ra hiệu, bắt chước một người đang ăn cả quả cam.
    "A a", người phục vụ gật gật đầu. "Cam... cam. Ông muốn cả quả cam."
    Lại thêm hai mươi phút nữa trôi qua. Rồi có tiếng gõ cửa. Vẫn người phục vụ đó. Vẫn chiến xe đó. Nhưng lần này trên xe là bốn quả cam thật đẹp bày trên bốn chiếc đĩa lớn, cùng dao, dĩa và khăn ăn. Lần này có tiến bộ.
    "Được rồi", tôi vừa nói vừa ký phiếu thanh toán. "Chính là thứ tôi muốn." Khi anh ta quay gót đi, tôi nhìn xuống phiếu thanh toán. Bốn quả cam hết 22 đô-la. Làm sao tôi giải trình được điều này cho tòa soạn đây?
    Nhưng cuộc phiêu lưu cam quýt của tôi chưa kết thúc ở đó. Hai tuần sau, tôi sang Hà Nội, ăn tối một mình trong khách sạn Metropole. Việt Nam lúc này đang vào mùa quýt, ở mọi góc đường người ta bán từng thúng quýt cao ngất vàng bóng, ngon mắt. Sáng nào tôi cũng thường ăn vài quả quýt. Bữa tối hôm đó, khi người hầu bàn hỏi tôi có dùng tráng miệng, tôi bảo chỉ cần một quả quýt. Anh ta đi một lúc rồi quay lại.
    "Xin lỗi ông, hết quýt rồi", anh nói.
    "Sao thế", tôi hơi bực. "Sáng nào cũng thấy cả bàn đầy quýt dọn ăn sáng! Chắc chắn thế nào trong bếp cũng còn quýt mà".
    "Xin lỗi", anh ta lắc đầu. "Hay ông dùng tạm dưa hấu?"
    "Cũng được, cho tôi ít dưa hấu", tôi nói.
    Năm phút sau, người phục vụ quay lại, mang theo một đĩa có ba quả quýt.
    "Tôi tìm ra quýt. Nhưng không có dưa hấu", anh ta nói.
    Nếu lúc ấy tôi hiểu được như bây giờ, thì tôi đã coi đó điềm báo trước. Vì từ ngày đó, khi đi công tác khắp nơi trên thế giới cho tờ Times, tôi thấy những gì đón đợi tôi ngoài cửa và trên bàn ăn thường không phải là những gì tôi định trước.
    Làm cây bút bình luận quốc tế cho The New York Times thực ra là công việc lý thú nhất thế giới. Ý tôi muốn nói thế nào cũng phải có một loại công việc tốt nhất thế giới, đúng không? Nếu thế, công việc ấy đang ở trong tay tôi. Đây là loại công việc tuyệt vời vì tôi được làm du khách có chủ kiến. Tôi có thể đi bất cứ đâu, bất cứ lúc nào và có ý kiến về bất cứ điều gì tôi thấy hoặc nghe được. Nhưng câu hỏi dành cho tôi khi bắt đầu cuộc chu du trong cương vị mới này là: chủ kiến gì? Lăng kính nào, cách nhìn như thế nào và thông qua hệ thống tổ chức nào để tôi có thể quan sát thế giới, hiểu được sự kiện, ưu tiên cho điều gì, bày tỏ chính kiến và nói về chúng như thế nào để độc giả hiểu được?
    Về nhiều phương diện thì những người đi trước trong tờ báo Times có lợi thế hơn tôi. Người nào cũng có một câu chuyện xuyên suốt và một hệ thống quốc tế được định hình sẵn, họ cứ việc ngồi viết. Tôi là ký giả bình luận quốc tế thứ năm trong lịch sử tờ The New York Times. Mục "Quốc tế" là chuyên mục lâu năm nhất của tờ báo. Mục này ra đời năm 1937, do bà Anne O Hare McCormick, một phụ nữ đầy tài năng chấp bút, và lúc đó có tên là "Tình hình châu Âu"; vì lúc đó đối với hầu hết người Mỹ "châu Âu" là chuyện quốc tế, và đương nhiên, bình luận viên quốc tế duy nhất của tờ báo phải đóng tại châu Âu. Theo cáo phó năm 1954 đăng trên tờ The New York Times, bà McCormick khởi đầu là phóng viên quốc tế "trong tư cách là vợ của ông McCormick, một kỹ sư vùng Dayton. Bà thường đi cùng chồng sang châu Âu mua hàng." (Cáo phó trên Tờ The New York Times từ ngày đó đã trở nên đúng khuôn sáo hơn). Hệ thống quốc tế mà bà McCormick từng viết là sự rạn vỡ cán cân quyền lực ở châu Âu theo hệ thống Versailles và phần dạo đầu của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ hai.
    Khi Mỹ trổi lên từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, cưỡi trên lưng thế giới như một siêu cường vô địch, có trọng trách toàn cầu và tham gia tranh giành quyền lực với Liên Xô, thì mục "Tình hình châu Âu" năm 1954 đổi tên thành "Quốc tế". Bỗng nhiên, cả thế giới trở thành sân chơi của Hoa Kỳ, và cả thế giới chỗ nào cũng quan trọng, vì mọi ngõ ngách trên thế giới đều có sự tranh giành với Liên Xô. Hệ thống Chiến tranh Lạnh, với sự tanh giành ảnh hưởng và tính vượt trội giữa tư bản phương Tây và cộng sản phương Đông, giữa Washington, Moskva và Bắc Kinh, trở thành câu chuyện xuyên suốt cho ba bình luận viên sau đó của mục "Quốc tế", tờ The New York Times, suy nghĩ và viết lách.
    Vào lúc tôi bắt đầu đảm nhận mục này, hồi đầu năm 1995, Chiến tranh Lạnh đã kết thúc, bức tường Berlin đã sụp đổ và Liên Xô là chuyện lịch sử. Tôi may mắn được chứng kiến tại điện Kremlin những hơi thở cuối trong cơn hấp hối của Liên Xô. Đó là ngày 16-12-1991. Ngoại trưởng Hoa Kỳ James A.Baker lúc đó đang ở thăm Moskva, cùng lúc Boris Yeltsin đang nhẹ nhàng tháo gỡ quyền lực khỏi tay Mikhail Gorbachev. Trước đó, mỗi khi Baker thăm Gorbachev thì họ thường gặp trong cung điện dát vàng mang tên St. Catherine; và lúc nào cũng có ảnh dạo đầu thật ngoạn mục cho giới báo chí. Ông Baker cùng tùy tùng bao giờ cũng chờ trong một phòng đầu hành lang, cửa đóng, trong khi ông Gorbachev cùng các phụ tá thì chờ sau cửa một phòng ở đầu đối diện của điện Kremlin. Rồi sau một tín hiệu nào đó, cửa hai căn phòng cùng mở, hai vị cùng bước ra và tiến đến giữa ảnh, bắt tay nhau trước ống kính của báo giới.
    Thế nhưng lần này, khi ông Baker sang, đến giờ hẹn, cửa mở và người bước ra là Boris Yeltsin, thay vì Mikhail Gorbachev. Ai là chủ bữa tiệc tối nay? "Hoan nghênh quí vị trên đất Nga và trong toà nhà này của nước Nga," Yeltsin nói với Baker. Sau đó, Baker quả có gặp Gorbachev trong cùng ngày, nhưng rõ ràng quyền lực đã được chuyển giao. Chúng tôi, những phóng viên của Bộ ngoại giao đi tường thuật sự kiên, hôm đó phải ở cả ngày trong điện Kremlin. Lúc chúng tôi ở trong điện thì bên ngoài tuyết rơi nhiều lắm. Đến lúc sụp tối, rời khỏi Kremlin, bước ra ngoài thì tuyết đã đóng thành một tấm chăn thật dày. Chúng tôi lội tuyết sang cổng Spassky của điện Kremlin, để lại những vết giầy lún sâu trong tuyết. Tôi để ý thấy cờ đỏ búa liềm của Liên Xô vẫn còn treo trên tháp, được đèn chiếu sáng, như nó vẫn ở đó khoảng 70 năm rồi. Tôi tự nhủ, "có lẽ đây là lần cuối cùng mình được thấy lá cờ tung bay trên đó." Quả thực chỉ vài tuần sau, lá cờ đó biến mất, ra đi cùng với nó là cả hệ thống Chiến tranh Lạnh và một câu chuyện xuyên suốt.
    Sau đó vài năm, khi tôi vào phụ trách mục bình luận tin quốc tế của The New York Times, có điều tôi còn chưa rõ: cái gì đã thay thế hệ thống Chiến tranh Lạnh để đóng vai trò như một cấu trúc chủ đạo cho quan hệ quốc tế. Vì thế tôi bắt đầu viết cột báo trong tư cách một du khách không mang định kiến - một du khách có đầu óc mở. Trong nhiều năm, cũng như nhiều tay viết khác, tôi chỉ nhắc đến thời kỳ Hậu Chiến tranh Lạnh. Chúng tôi biết đã có một hệ thống khác đang hình thành và trở thành khuôn mẫu chung cho các mối quan hệ quốc tế, nhưng không biết gọi đó là hệ thống gì. Vậy chúng tôi đành mô tả nó theo hướng khác - tức là chứng minh: nó không phải là Chiến tranh Lạnh. Nên chúng tôi gọi là Hậu Chiến tranh Lạnh.
    Càng đi nhiều tôi càng nhận thấy chúng ta ngày nay không phải đang tồn tại trong một thế giới hỗn mang, thiếu nhất quán và khó định nghĩa của thời Hậu Chiến tranh Lạnh. Ngược lại, chúng ta đang ở tong một hệ thống quốc tế mới. Hệ thống này có lôgic, có quy luật, có áp lực và có động lực riêng của nó - nó đáng được gọi bằng cái tên riêng - "toàn cầu hóa". Toàn cầu hóa không chỉ là một thứ mốt kinh tế, không phải là một khuynh hướng nhất thời. Nó là một hệ thống quốc tế - một hệ thống chủ đạo, thay thế Chiến tranh Lạnh sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Chúng ta cần hiểu toàn cầu hóa theo nghĩa như vậy. Nếu trong hình sự có khái niệm thời hiệu, thì chắc cũng phải có một thời hiệu nhất định đối với những khái niệm hoa mỹ trong chính sách đối ngoại. Với suy nghĩ đó, khái niệm "thế giới thời kỳ Hậu Chiến tranh Lạnh" phải được chấm dứt. Bây giờ chúng ta đang ở trong hệ thống toàn cầu hóa.
    Khi nói toàn cầu hóa đã thay thế Chiến tranh Lạnh như một hệ thống định hình thế giới, chính xác là tôi đang nói điều gì?
    Tôi muốn nói rằng trong vai trò là một hệ thống quốc tế, Chiến tranh Lạnh có cấu trúc quyền lực riêng: cán cân lực lượng giữa Hoa Kỳ và Liên Bang cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết. Chiến tranh Lạnh có những luật lệ riêng: trong quan hệ đối ngoại, không một siêu cường nào muốn xâm nhập vào vùng ảnh hưởng của một siêu cường khác; trong kinh tế, những nước kém phát triển chú tâm vào việc phát triển những ngành công nghiệp quốc gia của riêng họ, các nước đang phát triển chú tâm tăng trưởng trên cơ sở xuất khẩu, các nước xã hội chủ nghĩa tập trung thắt lưng buộc bụng và phương Tây thì chăm chăm vào việc buôn bán có điều tiết. Chiến tranh Lạnh có hệ tư tưởng riêng của nó: cuộc chạm trán giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giai đoạn hòa hoãn, không liên kết hay cải tổ (perestroika). Chiến tranh Lạnh có khuynh hướng về dân số riêng: di cư từ Đông sang Tây bị bức màn sắt ngăn trở, nhưng di cư từ miền Nam lên phía Bắc thì đều đặn hơn. Chiến tranh Lạnh có cái nhìn toàn cầu riêng: thế giới được chia thành phe xã hội chủ nghĩa, phe tư bản chủ nghĩa và phe trung lập; nước nào cũng thuộc về một trong những phe này. Chiến tranh Lạnh sinh ra những công nghệ định hình riêng: chủ đạo là vũ khí hạt nhân và cuộc cách mạng công nghệ lần thứ hai, nhưng đối với dân chúng ở các nước đang phát triển thì búa liềm vẫn là những công cụ gần gũi. Chiến tranh Lạnh có thước đo riêng: số lượng tên lửa hạt nhân của mỗi bên. Và sau cùng, Chiến tranh Lạnh tạo ra mối lo riêng: sự hủy diệt hạt nhân. Tổng hợp những yếu tố trên đây ta thấy Chiến tranh Lạnh ảnh hưởng tới chính sách đối nội, mậu dịch và quan hệ đối ngoại của hầu hết mọi nước trên thế giới. Chiến tranh Lạnh không tạo lập tất cả nhưng lại định hình rất nhiều thứ.
    Kỷ nguyên toàn cầu hóa ngày nay là một hệ thống quốc tế tương tự, có những đặc tính độc đáo tương phản với những đặc tính thời Chiến tranh Lạnh. Trước hết, nói về Chiến tranh Lạnh là nói đến sự chia cắt. Thế giới bị chia cắt ngang dọc thành nhiều cánh đồng vụn vặt manh mún. Những mối đe dọa cùng những cơ hội khởi phát từ chuyện bạn bị chia cắt như thế nào. Quả thực hệ thống Chiến tranh Lạnh được tượng trưng bằng một từ: bức tường - bức tường Berlin. Một trong những miêu ta về Chiến tranh Lạnh mà tôi thích nhất là của diễn viên Jack Nicholson trong phim A Few Good Men [Vẫn còn người tốt]. Nicholson trong vai một đại tá thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đóng tại căn cứ Guantanamo, Cuba. Vào phút cao trào trong phim, Nicholson bị Tom Cruise chất vấn vì sao Santiago, một người lính yếu đuối dưới quyền của Nicholson bị đồng đội đánh chết. " Anh muốn có câu trả lời ư?" Nicholson hét lên. Cruise đốp lại, "Tôi muốn sự thật." "Anh không thể chịu nổi sự thật đâu", Nicholson nói. "Anh bạn ạ, chúng ta đang sống trong một thế giới có những bức tường, và những bức tường đó lại phải được những người có súng canh gác. Ai là người sẽ làm điều đó? Anh ư? Anh ư, trung úy Weinberg? Tôi phải chịu trách nhiệm nặng nề hơn là anh tưởng. Anh khóc cho Santiago và anh nguyền rủa lực lượng thủy quân lục chiến. Anh có quyền làm điều phù phiếm như vậy. Bởi anh may mắn không biết những điều tôi biết - đó là cái chết của Santiago, dẫu có là bị kịch, có thể đã cứu được nhiều mạng sống khác. Và sự hiện diện của tôi, dẫu có ghê tởm và khó hiểu với anh, cũng cứu được mạng sống người khác. Anh không muốn thấy sự thật, vì tận đáy lòng, tại những nơi ít được nói tới trong những bữa tiệc, anh vẫn muốn tôi đứng canh gác trên những bức tường đó. Anh cần có tôi đứng canh gác bên những bức tường đó."
    Hệ thống toàn cầu hóa hơi khac chút ít. Nó cũng chứa đựng một đặc điểm lớn - sự hội nhập. Thế giới nay đã trở nên một nơi có những quan hệ ngày càng chồng chéo đan xen. Dù bạn là một công ty hay là một đất nước thì những mối đe dọa cũng như những cơ hội sẽ đến với bạn chính từ những đối tác mà bạn có quan hệ. Hệ thống này cũng được miêu tả tượng trưng bằng một từ: web [mạng Internet]. Vì thế, theo một nghĩa rộng thì chúng ta đang tiến từ một hệ thống xây dựng trên sự chia cắt, nhiều bức tường ngăn cách, đến một hệ thống được xây nên bằng sự hội nhập và mạng Internet. Trong thời Chiến tranh Lạnh, chúng ta bám vào "Đường dây Nóng" - biểu tượng cho thấy mặc dù chúng ta bị chia cắt, nhưng ít ra có hai người, Liên Xô và Hoa Kỳ, đứng chịu trách nhiệm. Và trong hệ thống toàn cầu hóa, chúng ta bám vào Internet, một biểu tượng cho thấy chúng ta ngày càng chặt chẽ hơn và không có ai đứng chỉ đạo cả.
    Điều này dẫn đến nhiều khác biệt nữa giữa hai hệ thống Chiến tranh Lạnh và toàn cầu hóa. Khác với Chiến tranh Lạnh, toàn cầu hóa không phải là một cục diện đông cứng, mà là một quá trình phát triển năng động. Chính vì thế, tôi định nghĩa toàn cầu hóa như sau: nó là một sự hội nhập không thể đảo ngược giữa những thị trường quốc gia và công nghệ, tới mức chưa từng có - theo phương cách tạo điều kiện cho các cá nhân, tập đoàn công ty và nhà nước vươn quan hệ đến nhiều nơi trên thế giới xa hơn, sâu hơn với chi phí thấp hơn bao giờ hết và cũng theo phương cách giúp thế giới tiếp cận các cá nhân, tập đoàn công ty và nhà nước xa hơn, sâu hơn với chi phí thấp hơn bao giờ hết. Quá trình toàn cầu hóa cũng khiến nãy sinh chống đối dữ dội từ những ai bị thiệt hại hay bị hệ thống mới bỏ rơi.
  4. hoanglong010

    hoanglong010 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    30/09/2005
    Đã được thích:
    0
    Một năm ?ochậm nhưng chắc? của VNI đã khép lại với mức đóng cửa 927,02 điểm tại phiên giao dịch cuối cùng trong năm (28/12/2007), tăng 23,3% so với mức đóng cửa phiên cuối năm 2006 (751,77 điểm).

    Trong tháng 12/2007, thị trường tiếp tục chứng kiến sự sụt giảm trong căng thẳng do tác động tâm lý trước sự kiện IPO VCB ngày 26/12/2007 đem lại. Ám ảnh về sự ảnh hưởng của ?ongười khổng lồ? VCB, thị trường đã có những biểu hiện hết sức dè dặt trong giao dịch. Khối lượng giao dịch bình quân trong tháng khoảng 690 tỉ VND/phiên. VNI phá vỡ mức hỗ trợ 970 và trượt sâu xuống mức hỗ trợ trung hạn 910. Tuy vậy, nhà đầu tư lại tỏ ra khá kỳ vọng vào sức bật mạnh mẽ của VNI sau ngày 26/12.





    Sáng ngày 27/12/2007, kết quả phiên đấu giá IPO của VCB chính thức đưa ra các mức giá trúng thầu. Theo đó, mức giá trúng thấp nhất là 102.000 VND/CP; mức giá trúng bình quân là 107.860 VND/CP. Đây là mức giá khá khiêm tốn so với những dự đoán ban đầu của giới đầu tư. Những ngày cuối tháng 12/2007, thị trường vẫn tiếp tục đi xuống, trái ngược với những nhận định trước đó. Giải thích hiện tượng này, có thể kể đến 2 nguyên nhân: Một là, sự vắng mặt của khối nhà đầu tư nước ngoài trong kỳ nghỉ Noel và năm mới khiến cho thị trường vốn đã chịu ảnh hưởng từ tập quán kinh doanh của bộ phận này càng mất đi một sự định hướng rõ ràng; Hai là, kết quả ?osát nút? của đợt IPO cổ phiếu VCB- Chứng khoán vốn được đánh giá là ?othước đo của thị trường?- làm cho nhà đầu tư thận trọng hơn trước các biểu hiện suy giảm của VNI thời điểm này.

    Trong tháng, mặc dù Bên bán vẫn chiếm ưu thế như suốt 2 tháng qua, song áp lực bán đã suy giảm nhiều, thể hiện khá rõ ràng qua mức giảm của giá trị giao dịch. Trên thị trường đã hình thành một mức Hỗ trợ tâm lý khá chắc chắn khi VNI rớt xuống gần mức Hỗ trợ mềm 910 và Hỗ trợ cứng 890 điểm trong thời điểm mà thị trường được cho là ?okhông có lý do để trở nên tồi tệ?. Thêm vào đó, 3 tháng suy giảm liên tiếp đã giúp cho khối nhà đầu tư đủ thời gian ?ocơ cấu lại? thành một tập hợp ?osẵn sàng đối diện với thực tế?. Đây là những lý do chính giúp chúng tôi tin tưởng rằng VNI sẽ không có nhiều cơ hội để quay về mức đáy cũ 883 điểm thiết lập hồi tháng 08/2007. Tuy nhiên, trong tháng 01/2008, một lượng cung đáng kể có thể sẽ xuất hiện do các nhà đầu tư bán bớt danh mục đầu tư để nộp tiền thực hiện quyền mua chứng khoán VCB diễn ra từ ngày 02 đến ngày 22/01/2008 (trong khoảng 10.500 tỉ VND tính theo giá trúng bình quân, nhà đầu tư cá nhân ước chiếm 4.100 tỉ VND). Thêm vào đó, sự kiện IPO 128,25 triệu cổ phần của Tổng công ty Bia- Rượu- Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) diễn ra ngày 28/01/2008 dự tính sẽ hút khoảng 9.000 tỉ VND có thể cũng sẽ góp phần tạo nhiễu cung-cầu. Như vậy, khả năng VNI tăng mạnh trong tháng 01/2008 là điều khó xảy ra.

    [​IMG]

    Trở lại với biểu đồ kỹ thuật, chúng ta dễ dàng nhận thấy một Kênh xu thế giảm được thiết lập từ đầu tháng 10/2007 vẫn đang chi phối sự vận động của VNI. Chỉ số này hiện đang rất gần mức Hỗ trợ mềm 910 và Hỗ trợ cứng 890. Như trên đã phân tích, trong tháng 01/2008 không có nhiều yếu tố mang tính kích thích thị trường, song VNI sẽ vấp phải hỗ trợ cứng 890 trong quá trình duy trì Kênh xu thế giảm. Chỉ báo Stochastic Oscillator cũng cho thấy hiện tượng Oversold (Bán quá) tạm thời được kiểm soát (%K(14) đã vượt lên mức 30 và cắt lên %D(3)). Như vậy, kết hợp với đường xu thế của Kênh xu thế dài hạn, chúng tôi cho rằng VNI sẽ được khống chế trong khoảng 920 đến 970 (cũng là mức Kháng cự ngắn hạn). Vượt qua mức 970, VNI sẽ có cơ hội chọc thủng ngưỡng 1000 điểm.

    Lời khuyên trong tháng của chúng tôi với các nhà đầu tư là: Bình tĩnh và thận trọng trong mọi quyết định cơ cấu lại Danh mục đầu tư. Với các nhà đầu tư mạo hiểm, đây có thể coi là một cơ hội để thực hiện kế hoạch ?otối đa hóa lợi nhuận? đầu tư trong trung và dài hạn.
  5. oddessa

    oddessa Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    26/12/2007
    Đã được thích:
    0
    HSBC: Đã đến thời điểm mua vào!
    n Minh Đức - Kiều Oanh
    Đây là thời điểm mà các nhà đầu tư chứng khoán tại thị trường Việt Nam nên mua vào và chỉ số Vn-Index sẽ đạt mức 1.100 điểm vào thời điểm cuối năm 2008, tăng 18,2% so với cuối năm ngoái.

    Trên đây là nhận định mà Tập đoàn Ngân hàng Hồng Kông - Thượng Hải (HSBC) vừa đưa ra trong báo cáo mới nhất về chiến lược đầu tư vào thị trường chứng khoán tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam, trong quý 1 năm 2008 này.

    Lý do khiến HSBC đưa ra khuyến nghị này là do nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao, trên 8%/năm. Mặt khác, lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết tăng mạnh mẽ trong thời gian qua, với mức tăng 80% trong nửa đầu năm 2007. Mặt khác, các loại cổ phiếu tại sàn Tp.HCM đã trở lại với giá trị thực, với chỉ số P/E hiện ở mức 20 lần.

    Tuy nhiên, tại thị trường Việt Nam vẫn tồn tại một số rủi ro với các nhà đầu tư trong ngắn hạn.

    HSBC ?otrừ điểm? của Việt Nam ở chỗ, Chính phủ thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ, hạn chế lượng tiền đổ vào thị trường chứng khoán. Từ tháng 11/2007, Ngân hàng Nhà nước đã ngừng mua vào đồng USD để đổi ngoại tệ này sang VND. Điều này khiến các nhà đầu tư nước ngoài khó đưa tiền vào Việt Nam và đẩy lãi suất qua đêm liên ngân hàng lên mức trên 10%. Tình hình này có thể kéo dài đến tận Tết Âm lịch vào tháng 2 năm nay.

    Một mối lo ngại khác của HSBC là vụ đấu giá cổ phần Vietcombank hôm 26/12 vừa qua. Mức giá bình quân của cổ phần Vietcombank là 107.860 đồng/cổ phần, tức chỉ số P/E ở mức 87 lần, bị các chuyên gia HSBC ?ochê? là đắt vì tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng này năm ngoái chỉ là 14%.

    Do đó, theo các chuyên gia của HSBC, ít khả năng các nhà đầu tư chiến lược tiềm năng hài lòng với mức giá này. Mặt khác, giá cổ phần Vietcombank như vậy cũng đặt ra một ?omặt sàn? cao khiến người ta phải nghi ngờ về khả năng thành công của các đợt IPO lớn khác trong năm nay.

    Cùng với thị trường Việt Nam, các thị trường khác mà các chuyên gia HSBC khuyến khích mua vào là các thị trường Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore và Thái Lan.

    Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tín dụng tại Mỹ vẫn diễn biến phức tạp, các chuyên gia của HSBC nhận định, năm 2008 này sẽ một năm nhiều thăng trầm đối với chứng khoán châu Á. Nhưng bất chấp một số rủi ro, HSBC vẫn lạc quan tin tưởng thị trường châu Á năm nay sẽ đem đến lợi nhuận không tồi cho các nhà đầu tư.

    Cũng theo HSBC, một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán khu vực châu Á trong năm 2008 này là lạm phát, tăng trưởng kinh tế, tình hình chính trị, sự thay đổi tỷ giá đồng Nhân dân tệ (vì dòng vốn từ Trung Quốc có ảnh hưởng lớn đến thị trường chứng khoán châu Á), sự ?othám hiểm? các thị trường mới tại châu Á?
  6. oddessa

    oddessa Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    26/12/2007
    Đã được thích:
    0
    Chứng khoán ngày 8/1: Phiên tăng điểm đầu tiên
    n Lan Ngọc
    Thị trường đã có phiên tăng điểm đầu tiên của năm mới, dù VN-Index vẫn ở dưới mốc 900 điểm.

    >>HSBC: Đã đến thời điểm mua vào!

    Màu xanh của VN-Index đã trở lại (tăng 6,66 điểm ?" con số đẹp theo tâm lý người Việt, đạt 893,74 điểm), phần nào giúp củng cố tâm lý nhà đầu tư. Điều này đi cùng với khả năng hạn chế xu hướng tháo chạy trong phiên đầu tuần.

    Diễn biến phiên này là sự đồng thuận với nhiều thông tin hỗ trợ xuất hiện trên thị trường. Trước hết là những đánh giá mới nhất của HSBC đến phổ biến với thị trường vào chiều ngày hôm qua (7/1).

    Theo đánh giá của HSBC, nhiều cổ phiếu hiện nay đang ở mức giá hấp dẫn (hệ số P/E phổ biến dưới 20), thuận lợi cho các kế hoạch giải ngân. HSBC cũng lạc quan khi dự báo VN-Index sẽ đạt 1.100 điểm trong năm nay, cùng với tầm tiêu biểu của thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2008 trong khu vực.

    Mặc dù cùng thời điểm, thị trường tiếp tục đón nhận thông tin về nguồn cung mới từ kế hoạch IPO dự kiến của Incombank. Sự lo ngại của nhà đầu tư thể hiện rõ trước sức ép tăng cung này, nhưng cũng cần lưu ý là việc chốt IPO Incombank còn phải chờ quyết định cuối cùng của Chính phủ.

    Về nguồn vốn, sự ?oùn tắc? của vốn ngoại đang là một lo ngại khác, một điểm mà HSBC nhấn mạnh trong báo cáo nói trên. Vấn đề này dự kiến sẽ được Ngân hàng Nhà nước định hướng trong cuộc họp chiều nay.

    Với Chỉ thị 03, số liệu cụ thể cho thấy, đến 31/12/2007, các ngân hàng, tổ chức tín dụng đã đưa dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán về hạn mức 3%. Tính chung, tỷ lệ này trên toàn hệ thống chỉ ở mức 1,6%; vẫn còn dư địa cho vay tiếp, đặc biệt ở khối quốc doanh. Ngoài ra, thông tin về khả năng sửa đổi Chỉ thị 03 dự kiến cũng sẽ được Ngân hàng Nhà nước khẳng định chiều nay.

    Ở diễn biến khác, Việt Nam đang là tâm điểm chú ý của nhà đầu tư nước ngoài, với vị thế của một ngôi sao đang lên ở châu Á ?" chủ đề chính của hội nghị lớn đang diễn ra tại Hà Nội.

    Cụ thể hơn với nhà đầu tư, các doanh nghiệp niêm yết đã lần lượt công bố báo cáo kinh doanh 2007, bước đầu với những kết quả khả quan. Đà mua vào mạnh, khá ?obất ngờ? trong phiên hôm qua (7/1) của nhà đầu tư nước ngoài cũng được xem là một tín hiệu mới. Nguồn vốn từ thị trường vàng vào chứng khoán đà thực sự qua thời điểm chuyển giao đầu tuần. Và đà giảm sâu là một động lực để giải ngân.

    Với những thuận lợi trên, xu hướng tháo chạy sẽ hạn chế. Phiên ?orung cây? mạnh hôm qua vẫn được xem là mừng nhiều hơn lo đối với nhiều nhà đầu tư.

    Ngay đợt 1 phiên này, VN-Index đã đảo chiều, tăng 5,6 điểm. Màu xanh đã tràn ngập trên bảng giao dịch, có ở 80 mã. Đáng chú ý là PPC, VNM sau phiên chống đỡ hôm qua đã dừng ở giá tham chiếu. Riêng HPG vẫn nối tiếp đà tăng, có được phiên tăng trần đầu tiên sau chuỗi giảm giá kể từ ngày chào sàn (tăng 4.500 đồng/cổ phiếu).

    Ở những mã lớn khác, mức tăng vẫn khá thận trọng, như FPT (tăng 2.000 đồng), STB (tăng 500 đồng); VIC, DPM và SSI (tăng 1.000 đồng); VSH (tăng 800 đồng), REE (tăng 2.000 đồng); DMC, BMP, TCT, DHG, SAM, KDC tăng từ 2.000 - 4.000 đồng/cổ phiếu?

    Kết thúc phiên, có gần 6,3 triệu đơn vị với 560 tỷ đồng giá trị khớp lệnh.

    Chuyển biến về khối lượng và giá trị giao dịch thể hiện rõ hơn trên sàn Hà Nội, khi có gần 2,5 triệu cổ phiếu và trên 216 tỷ đồng giá trị. Ngoài ACB và BVS tăng đáng kể, màu xanh cũng đã trở lại với nhiều thành viên Sông Đà, Vinaconex và dầu khí. HASTC-Index tăng nhẹ 1,34 điểm, lên 298,93 điểm.

    Qua phiên hôm nay, đà tăng đang thể hiện ở thế thăm dò, nhưng ít nhất đã củng cố thêm tâm lý nhà đầu tư, chặn đà bán tháo. Và trong tuần này, dự kiến thị trường sẽ đón nhận thêm những thông tin tích cực.

    (Nguồn: TBKT)
  7. oddessa

    oddessa Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    26/12/2007
    Đã được thích:
    0
    Em có bản báo cáo T1/2008 của HSBC bằng tiếng Anh từ hôm 3.1.08, nhưng do nick HocCK của em bị khoá nên không vào được để thông báo. Báo nào chưa có mà cần thì post email vào đây em sẽ gửi email cho a. Chán Mod quá, nick của em chẳng hiểu sao bị khóa mong Mod unlock được hộ thì phúc quá.
    Rgds .
  8. oddessa

    oddessa Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    26/12/2007
    Đã được thích:
    0
    Sửa Chỉ thị 03, khơi thêm vốn ngoại để kích TTCK

    21:16'' 08/01/2008 (GMT+7)

    (VietNamNet) - Hàng loạt biện pháp như nới lỏng cho vay chứng khoán, tạo thêm thuận lợi cho luồng vốn ngoại vào thị trường, giãn tiến độ IPO các DN lớn... sẽ được UBCK Nhà nước đề xuất nhằm kích cầu, tạo bước phát triển mới cho thị trường chứng khoán.
    Trong những ngày vừa qua, UBCKNN đã có nhiều cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và báo cáo với Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng về các biện pháp nhằm tạo bước phát triển mới cho TTCK Việt Nam trong năm 2008. Trao đổi vào chiều ngày 8/1/2008, ông Nguyễn Sơn - Phó ban Phát triển thị trường chứng khoán rất kỳ vọng những biện pháp này sẽ tạo ra sự hưng phấn cho các nhà đầu tư, giúp thị trường phát triển khả quan hơn trong thời gian tới.

    Thưa ông, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ tiếp tục cho vay chứng khoán theo một cơ chế kiểm soát mới. Qua trao đổi, ông có thể cho biết, cho vay đầu tư chứng khoán sẽ được bàn bạc thay đổi theo hướng nào?

    - Trong các buổi họp với Phó Thủ tướng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, được biết, hiện nay dư nợ cho vay chứng khoán không phải là cao. Số ngân hàng có dư nợ cho vay chứng khoán vượt trên 3% rất ít, chỉ còn một vài ngân hàng và ở mức 6 - 9%, không phải là cao so với trước đây.

    Được biết, phía Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét để có một cơ chế về cho vay chứng khoán thông qua hệ thống kiểm soát rủi ro của các ngân hàng thương mại. Theo đó, các ngân hàng thương mại khác nhau thì có sự kiểm soát ở mức độ khác nhau và thậm chí Ngân hàng Nhà nước có thể chỉ đưa ra các yêu cầu dự trữ và kiểm soát soát rủi ro bắt buộc. Ngân hàng có thể cho vay cao nhưng phải có dự trữ bắt buộc cho các rủi ro. Cơ chế mới sẽ linh hoạt hơn và không áp dụng chung cho các ngân hàng mà áp dụng cho các ngân hàng khác nhau. Như vậy, tới đây, có thể sẽ xem xét cho từng ngân hàng, các ngân hàng có thể linh hoạt cho vay ở mức 3 hay 5 hoặc 7% tùy từng ngân hàng, các ngân hàng có thể cho vay rất nhiều dựa trên các tiêu chí an toàn và phải có quỹ để dự phòng rủi ro.

    IPO của Incombank có thể bị hoãn

    Theo đề xuất giãn IPO thì đối với SABECO đã có công bố chính thức vẫn tiến hành đấu giá vào quý 1/2008. Riêng trường hợp của Incombank và HABECO, Bộ Tài chính sẽ có kiến nghị chính thức xem xét để lùi tiến độ IPO cho hợp lý, tránh việc đưa ra một lượng hàng quá lớn trên thị trường hiện nay. Nếu điều này được thực hiện thì mong muốn IPO vào tháng 3/2008 như Incombank đã từng tuyên bố có thể không thành hiện thực.

    UBCKNN đã từng đề cập đến các biện pháp "tăng cung - kích cầu" cho thị trường chứng khoán. Trong đó có việc tạo thêm thuận lợi cho dòng vốn ngoại tham gia vào TTCK. Ông có thể cho biết những đề xuất cụ thể về vấn đề này?- Về các giải pháp tăng cung - kích cầu trên TTCK. Bộ Tài chính sẽ đề nghị Chính phủ và phối hợp với Ngân hàng Nhà nước mua lượng ngoại tệ hiện nay đang nằm ở các ngân hàng thương mại nhằm tăng lượng tiền VND đầu tư vào chứng khoán. Thứ hai, là tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thành lập các quỹ đầu tư dài hạn vào TTCK. Thứ 3, trước mắt vẫn duy trì tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài đối với các công ty niêm yết là 49%. Tuy nhiên, Bộ Tài chính sẽ có báo cáo với Thủ tướng để đề nghị xem xét nâng tỷ lệ sở hữu đối với các công ty đại chúng chưa niêm yết mà được tổ chức giao dịch trên thị trường OTC có tổ chức lên 49% để tạo ra động lực hỗ trợ cho thị trường.
    Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng sẽ trình Chính phủ cho phép sớm thành lập các công ty quản lý quỹ 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam cũng như các chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam để quản lý các dòng vốn nước ngoài sớm hơn so với lộ trình cam kết WTO.

    Về dự kiến giãn IPO cụ thể thế nào thưa ông?

    - Trong năm 2007, một lượng hàng gia tăng khá lớn liên quan đến các đợt phát hành cổ phiếu tăng vốn của các DN cũng như IPO các DN lớn. Về vấn đề giãn tiến độ IPO, hiện nay Chính phủ đã giao cho Bộ Tài chính và tổ chỉ đạo lộ trình về IPO có hướng xem xét để đưa ra kế hoạch IPO phù hợp với. Thực tế, đối với các đợt IPO, đây là lượng cung hàng tương đối lớn và sẽ hút một lượng vốn rất lớn. Theo chúng tôi tính IPO SABECO sẽ thu hút khoảng 10 ngàn tỷ đồng tương ứng với lượng vốn thu hút của Vietcombank. Điều này sẽ tác động rất mạnh đến tổng cầu đầu tư trên thị trường chính thức.

    Bên cạnh đó, có một biện pháp nữa chúng tôi đề nghị là DN lựa chọn đối tác nước ngoài để bán chào cổ phiếu với giá nhất định và không áp dụng giá đầu bình quân trên thị trường cho các nhà đầu tư chiến lược. Nhà đầu tư chiến lược thực hiện đầu tư lâu dài, nắm giữ 3 - 5 năm nên không tác động đến cung hàng và tổng cầu đầu tư trên thị trường. Giá sẽ xác định qua định giá tài sản... không phải qua giá đấu trên thị trường.

    Phó Thủ tướng Chính phủ cũng đã đồng ý hoãn thời gian thu thuế đối với thu nhập đầu tư chứng khoán. Việc này sẽ được thực hiện thế nào?
    - PTT Nguyễn Sinh Hùng đã chính thức có công văn trả lời Bộ Tài chính về tạm hoãn thực hiện thuế đối với nhà đầu tư chứng khoán. Đây là tín hiệu tốt tác động đến tâm lý nhà đầu tư nhằm gia tăng, kích cầu đầu tư trên thị trường. Theo đó, toàn bộ thu nhập có được của nhà đầu tư cá nhân trong nước và nước ngoài sẽ không chịu thuế thu nhập cá nhân. Trước đây, chúng ta chưa thu thuế này và sẽ tiếp tục duy trì trong năm 2008. Thời điểm áp dụng thuế là từ 1/1/2009, khi Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực. Bộ Tài chính sẽ tập trung xây dựng nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân, trong đó có phần về đầu tư chứng khoán.

    Đâu là căn cứ để đưa các giải pháp này và UBCK hy vọng tác động của nó đến thị trường như thế nào?
    - Xuất phát từ diễn biến thị trường chứng khoán đã điều chỉnh khá sâu trong những ngày đầu năm, chỉ số giá cổ phiếu xuống dưới 900 điểm. Đây là ngưỡng duy trì khá lâu và doanh số tụt giảm nghiêm trọng. Bộ Tài chính và UBCK đã phân tính các nguyên nhân trong đó có: cầu đầu tư bị suy yếu và sự gia tăng lượng cung hàng do một lượng phát hành quá lớn đã được cấp phép, các đợt IPO lớn. Thứ hai, tác động của Chỉ thị 03. Thứ ba, các dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào thi trường hiện nay bị trở ngại do thiếu tiền đồng mua ngoại tệ để chuyển hóa sang VND thực hiện chứng khoán trên thị trường. Thứ 4 là suy giảm thị trường chứng khoán toàn cầu tạo ra hiệu ứng tâm lý làm giá chứng khoán trên thị trường giảm. Trong khi đó, nhà đầu tư có tâm lý chờ đợi ở thị trường một sự điều chỉnh nào đó, họ không sẵn sàng mua. Ngoài ra, sự nóng lên của bất động sản, thị trường vàng đã hút vốn vào hai thị trường này và tạo ra một sự dịch chuyển từ thị trường chứng khoán sang vàng và bất động sản.

    Bộ Tài chính sẽ báo với Thủ tướng trong thời gian sớm nhất về tình hình thị trường gần đây và các giải pháp cấp bách để hỗ trợ phát triển thị trường. Các giải pháp này nếu triển khai sẽ tác động nhất định tới hỗ trợ cầu đầu tư, kế hoạch cung hàng ra thị trường và có tác động tâm lý, kích cầu đầu tư, giúp cho thị trường phát triển khả quan hơn.

    Phước Hà
  9. oddessa

    oddessa Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    26/12/2007
    Đã được thích:
    0
    Ngân hàng Nhà nước: Vẫn còn những câu hỏi để ngỏ

    Minh Đức

    Buổi họp báo của Ngân hàng Nhà nước không có được những thông tin như mong đợi.

    Trước thềm cuộc họp báo chiều ngày 8/1, thị trường chờ đợi những thông tin giải đáp trước những câu hỏi có nhiều bàn luận trong thời gian qua. Tuy nhiên, ngoài khả năng cởi mở từ phía Ngân hàng Nhà nước, sự phức tạp của hầu hết các vấn đề, tính thời điểm, khiến thông tin khẳng định khá hạn chế.

    Còn khả năng để mua ngoại tệ

    Một trong những điểm mà dư luận quan tâm nhất hiện nay là tình trạng khan hiếm VND dẫn tới sự ?oùn tắc? nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào chứng khoán; cùng với đó là đà giảm của tỷ giá VND/USD hiện nay.

    Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu, hiện các vấn đề liên quan đến chính sách tiền tệ, các giải pháp điều hành trong năm 2008 đang trình Chính phủ; theo đó, khó nói cụ thể trước khi được phê duyệt.
    Riêng về vấn đề tỷ giá và diễn biến trong thời gian gần đây, quan điểm của Thống đốc là đề cao nguyên tắc thị trường, nhưng cần theo sức chịu đựng của nền kinh tế và yêu cầu về ổn định.
    Trước ảnh hưởng của nguồn cung, Thống đốc cho rằng ?okhông phải cứ nguồn cung nhiều là mua vào mà phải tìm cách hấp thụ sao cho có lợi nhất đối với nền kinh tế; theo đó Ngân hàng Nhà nước chỉ can thiệp ở thời điểm thích hợp?.

    Liệu có phải do quan ngại lạm phát, cung tiền nên Ngân hàng Nhà nước hạn chế mua vào, dẫn tới ?oùn tắc? vốn ngoại hiện nay? Câu trả lời còn để ngỏ. Nhưng suy luận theo những phần trả lời của Thống đốc có thể thấy vẫn còn khả năng mua vào và cung tiền VND, bởi lượng cung tiền hiện chưa sử dụng hết mức cho phép và Thủ tướng Chính phủ cũng đã cho phép tăng tổng phương tiện thanh toán.

    Sửa Chỉ thị 03 hay không?

    Tại cuộc họp báo nói trên, nhiều phóng viên thất vọng trước thông tin khẳng định về khả năng sửa đổi Chỉ thị 03 về hạn chế cho vay đầu tư chứng khoán, bởi định hướng chung chung vẫn là tiếp tục cho vay và có kiểm soát.
    Điểm trả lời cụ thể của Thống đốc là việc thực hiện Chỉ thị 03 của các ngân hàng thương mại là nghiêm túc; dư nợ cho vay loại này đã giảm thực chất và là một kết quả đáng mừng. Có thể đây là một vấn đề còn chờ chỉ đạo của Chính phủ và chưa thể có khẳng định ở thời điểm này.

    Trong khi đó, một lãnh đạo của Ủy ban Chứng khoán cho biết một định hướng được xét đến là áp dụng một tỷ lệ cho vay đầu tư chứng khoán linh hoạt theo năng lực kiểm soát, vốn và tỷ lệ dự phòng rủi ro của mỗi ngân hàng thương mại. Tỷ lệ này có thể là 5% hoặc 7% với yêu cầu có tỷ lệ dự phòng cao tương ứng.
    Cũng liên quan đến thị trường chứng khoán, cụ thể là vấn đề kích cầu, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết Ngân hàng Nhà nước cũng đang phối hợp với các cơ quan chức năng để có những giải pháp cụ thể.

    Riêng về cung chứng khoán, Thống đốc đồng tình với quan điểm nên xem xét cung hàng vào những thời điểm phù hợp để đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, Nhà nước? Như trường hợp của Ngân hàng Công thương (Incombank), nếu IPO trong tháng 3/2008 không có lợi thì có thể Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ sẽ không cho phép.

    ?oTất nhiên, lộ trình chung là các ngân hàng quốc doanh đều cổ phần hóa, riêng Ngân hàng Nông nghiệp (Agribank), do đặc thù có thể muộn hơn?, Thống đốc nói.

    (Nguồn: TBKT)
  10. oddessa

    oddessa Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    26/12/2007
    Đã được thích:
    0
    Nên quy định rõ khu vực hạn chế vốn gián tiếp nước ngoài

    Ông Trần Quốc Khánh.
    (ĐTCK-online) Chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày 11/1/2008, ngày mà đúng 1 năm trước, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

    Bên cạnh thành quả kinh tế - xã hội đã đạt được trong 1 năm qua thì một vấn đề chúng ta đang phải bàn tính là tỷ lệ sở hữu nước ngoài (room) trong các DN ngành dịch vụ của Việt Nam sẽ là bao nhiêu khi mức hạn chế hiện hành (30%, trừ ngành ngân hàng) đã được cam kết bãi bỏ sau 1 năm kể từ ngày tham gia tổ chức này. Vấn đề đảm bảo các lợi ích quốc gia trong khi vẫn thực thi đúng các cam kết WTO được nhìn nhận như thế nào là nội dung cuộc trao đổi mà ông Trần Quốc Khánh, Vụ trưởng Vụ Chính sách Thương mại đa biên - Bộ Công thương, nguyên Phó trưởng đoàn đàm phán gia nhập WTO dành cho ĐTCK.

    Thưa ông, khi gia nhập WTO, Việt Nam đã có cam kết gì về tỷ lệ tham gia cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) trong CTCP?
    Cam kết về tỷ lệ tham gia cổ phần của nhà ĐTNN trong các CTCP của Việt Nam được đưa ra trong phần Cam kết chung của Biểu cam kết về dịch vụ. Theo đó, trong năm đầu tiên sau khi gia nhập WTO, ta có quyền hạn chế tỷ lệ này ở mức 30%, thậm chí thấp hơn. Một năm sau đó, hạn chế 30% này sẽ được bãi bỏ, trừ đối với ngành ngân hàng và những ngành không cam kết trong Biểu cam kết về dịch vụ.

    Tại sao lại là 30% trong khi chúng ta đã cho phép nước ngoài được tham gia tới 49% vào các công ty niêm yết?

    Khi ta bắt đầu đàm phán thì tỷ lệ mà luật pháp cho phép nhà ĐTNN đầu tư vào DN Việt Nam là 30%. Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ cũng ghi là 30%. Sau này Chính phủ cho phép nâng lên thành 49% đối với công ty niêm yết, nhưng khi đó đàm phán đã gần hoàn tất, các đối tác đều đã chấp nhận con số 30% nên chúng tôi không sửa lại nữa.

    Chúng tôi cũng đã đọc qua cam kết này. Phải nói là rất khó hiểu đối với những người không tham gia đàm phán trực tiếp. Ông có thể ?odiễn nôm? nội dung của nó được không?

    Vâng, nôm na là như thế này: trong năm đầu tiên sau khi gia nhập WTO, ta có quyền hạn chế tỷ lệ tham gia của nhà ĐTNN trong các CTCP của Việt Nam ở mức 30% hoặc bất kỳ mức nào khác mà ta muốn. Tuy nhiên, một năm sau khi gia nhập, đối với hơn 100 phân ngành dịch vụ mà ta đã chào ra trong Biểu cam kết về dịch vụ, ta phải đưa ra tỷ lệ mới, trừ ngành ngân hàng vẫn giữ ở mức 30%. Với những phân ngành dịch vụ mà ta không chào ra trong Biểu cam kết (như in ấn, xuất bản...) và toàn bộ các ngành sản xuất, ta vẫn có quyền quy định tỷ lệ tham gia cổ phần của nhà ĐTNN ở bất kỳ mức nào, thậm chí là 0%.

    Vậy là ta phải đưa ra tỷ lệ mới cho những phân ngành dịch vụ đã xuất hiện trong Biểu cam kết. Nguyên tắc xây dựng tỷ lệ mới này thế nào, theo ông?

    Với những ngành đã cam kết trong Biểu dịch vụ, tỷ lệ mới sẽ tùy theo mức độ và thời gian mở cửa của ngành đó. Lấy ví dụ ngành chuyển phát nhanh, trong Biểu ta cam kết cho nước ngoài sở hữu đến 51% ngay từ khi gia nhập WTO, đến tháng 1/2012 mới cho phép 100%. Như vậy, tỷ lệ mới đối với ngành chuyển phát nhanh sẽ phải đạt tối thiểu 51% vào năm nay, 5 năm sau phải nâng lên 100%. Tỷ lệ cho các ngành khác cũng được suy ra theo cách tương tự.

    Xin lưu ý là có những ngành tuy xuất hiện trong Biểu cam kết nhưng khi đi vào chi tiết ta lại loại trừ một số lĩnh vực. Với những lĩnh vực này, ta vẫn có quyền hạn chế tỷ lệ tham gia vốn của nhà ĐTNN. Như đối với ngành phân phối, tỷ lệ tham gia vốn của nước ngoài sẽ phải nâng lên tới 99% trong năm nay, nhưng riêng phân phối dược phẩm và xăng dầu, ta vẫn có quyền hạn chế ở mức 0% bởi đây là 2 mặt hàng ta không cho nước ngoài tham gia kinh doanh. Tương tự là dịch vụ ghi âm, tuy xuất hiện trong Biểu cam kết nhưng ta chưa đưa ra bất kỳ cam kết gì về hiện diện của nước ngoài trong ngành này. Vì vậy về nguyên tắc, ta vẫn có quyền quy định tỷ lệ tham gia vốn của nhà ĐTNN ở bất kỳ mức nào ta muốn.

    Thực sự là các nhà đầu tư vẫn rất băn khoăn bởi họ nghĩ tỷ lệ 30% sẽ được xóa bỏ cho tất cả các ngành. Ông lại nói là chỉ xóa cho hơn 100 phân ngành dịch vụ đã xuất hiện trong Biểu cam kết ...

    Vì WTO chỉ đàm phán về dịch vụ nên ta chỉ đưa ra cam kết cho các ngành dịch vụ. Các ngành sản xuất không phải là đối tượng của đàm phán WTO nên ta không phải đưa ra cam kết nào cả. Tôi cũng đồng ý là nên có một văn bản quy định thật chi tiết về vấn đề này bởi ngoài chuyện ngành nào phải có tỷ lệ mới, ngành nào không, ta còn phải xử lý một số vấn đề khác cũng rất phức tạp về mặt kỹ thuật.

    Đó là những vấn đề gì vậy?

    Thứ nhất, với những ngành mà ta chưa đưa ra tỷ lệ cam kết với WTO thì tỷ lệ tham gia vốn cổ phần của nhà ĐTNN sẽ ở mức nào. Có ý kiến cho rằng, cứ theo Luật Doanh nghiệp mà làm nhưng như thế không ổn bởi nhà ĐTNN không thể tham gia vốn vào các ngành in ấn, xuất bản, phân phối dược phẩm, phân phối xăng dầu? như nhà đầu tư Việt Nam. Trong đàm phán, ta đã nhiều lần khẳng định không cho nước ngoài đầu tư vào những ngành này. Chả lẽ đã hạn chế đầu tư trực tiếp, lại mở cho đầu tư gián tiếp?

    Thứ hai, cam kết WTO là không mở và chủ trương cũng là không mở nhưng trên thực tế ta đã cho phép các nhà ĐTNN được mua tới 49% cổ phần của các công ty dược, in ấn và bán buôn, bán lẻ xăng dầu niêm yết. Mâu thuẫn này phải xử lý thế nào cũng là điều cần bàn.

    Thứ ba, tỷ lệ tham gia vốn của nhà ĐTNN được cam kết ở mức khác nhau cho các ngành khác nhau. Vậy nếu một DN hoạt động đồng thời trong cả 3-4 ngành thì tỷ lệ tham gia vốn của nhà ĐTNN trong DN đó sẽ là bao nhiêu? Cái này cũng đang gây khó khăn cho đầu tư trực tiếp, không riêng gì đầu tư gián tiếp.



    Vậy theo ông thì nên xử lý thế nào?


    Tôi nghĩ ta nên tiếp cận theo hướng quy định thật rõ một khu vực hạn chế vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài. Tỷ lệ tham gia vốn sẽ là 0% với những ngành thật nhạy cảm như phát thanh, truyền hình, xuất bản. Với những ngành ít nhạy cảm hơn như in ấn, cảng biển, phân phối dược phẩm, phân phối xăng dầu? có thể cho phép nước ngoài được tham gia vốn ở mức độ nhất định, có lưu ý đến thực tế là ta đã cho phép họ được mua cổ phần của các công ty niêm yết trên sàn. Ngoài khu vực hạn chế này, theo tôi, nên xem xét cho phép nhà ĐTNN được mua cổ phần ở mức không hạn chế. Không nên e ngại làm như vậy có nghĩa là ?obán sạch? tài sản của Nhà nước, bởi bán cho ai và bán bao nhiêu là do Nhà nước quyết định. Nước ngoài được phép mua tới 100% nhưng Nhà nước, với tư cách là chủ sở hữu, chỉ đồng ý bán có 20% thì họ cũng không thể mua 100% được.

    Theo ông, liệu toàn bộ vấn đề phức tạp này có được xử lý dứt điểm vào ngày 11/1/2008, sau 1 năm gia nhập WTO?
    Có lẽ không kịp bởi để xử lý chuyện này, cần tối thiểu là Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Thông thường, một văn bản quy phạm pháp luật chỉ có thể có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo. Nếu muốn văn bản có hiệu lực vào ngày 11/1/2008 thì văn bản đó đã phải xuất hiện trên Công báo từ trước ngày 28/12/2007. Nếu dùng Nghị định thì còn phức tạp hơn bởi Nghị định loại này, theo đúng cam kết, phải được đăng tải để lấy ý kiến công chúng ít nhất là 60 ngày trước khi ban hành.



    Tóm lại là vẫn phải chờ?

    Tôi cũng không rõ bởi việc này được giao cho Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Tôi tin là các cơ quan chức năng đang gấp rút xem xét, nhưng do vấn đề cũng không đơn giản, chủ yếu vì những lý do như tôi đã trình bày nên có lẽ cần thêm một chút thời gian. Điều cốt yếu là phải xử lý được toàn bộ các vướng mắc theo hướng ?ovì quyền lợi của ta? là chính. Cái gì nên hạn chế, cái gì nên tháo gỡ cần nhìn trên quan điểm phát triển, không nên bó cứng theo cam kết WTO, bởi cam kết WTO chỉ là mức sàn tối thiểu mà thôi. Không ai ngăn cản ta, vì quyền lợi của chính ta, đưa ra những chính sách nới lỏng hơn so với cam kết WTO.


    VAFI vừa kiến nghị nâng room cho ngân hàng lên thêm 5%-7%. Ông nghĩ thế nào về đề nghị này?

    Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và tất cả các đối tác lớn đã mất tới hơn 4 năm để thuyết phục ta nâng tỷ lệ tham gia vốn của nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng lên trên 30%. Ta cương quyết không đồng ý, nhưng biết đâu bây giờ lại đồng ý với VAFI. Theo tôi, nếu VAFI chứng minh được một cách rõ ràng lợi ích của việc nâng room thì chắc Chính phủ cũng sẵn sàng nghe thôi. Nguyên tắc ở đây là lợi ích phải lớn hơn nguy cơ và phải nhìn theo quan điểm phát triển, có lưu ý đến yếu tố an toàn cho cả hệ thống tài chính. Cá nhân tôi hoan nghênh đề xuất ?odám nghĩ, dám làm?. Trong quá khứ đã có nhiều chính sách đúng đắn ra đời từ những đề xuất táo bạo.


    Tường Vi thực hiện

    (Nguồn: ĐTCK)

Chia sẻ trang này