Huy động hơn 170 nghìn tỷ đầu tư cảng biển

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi Smart_StockerVN, 19/06/2021.

1076 người đang online, trong đó có 430 thành viên. 21:49 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 4459 lượt đọc và 14 bài trả lời
  1. Smart_StockerVN

    Smart_StockerVN Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    16/01/2018
    Đã được thích:
    3.307
    19/06/2021 15:13
    Trong 10 năm qua, hàng hải đã huy động được tới 86% vốn ngoài ngân sách phát triển hệ thống cảng biển...

    [​IMG]
    Diện mạo hệ thống cảng biển Việt Nam có sự lột xác ấn tượng trong một thập kỷ qua nhờ những chính sách thu hút nguồn vốn xã hội hóa hiệu quả - Ảnh minh họa

    Một đồng "vốn mồi" hút được 6 đồng vốn ngoài ngân sách

    Đại diện Cục Hàng hải VN cho biết, theo thống kê, trong giai đoạn 2011 - 2020, tổng vốn đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển đạt khoảng 202 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng khoảng 20,6% tổng vốn đầu tư cho kết cấu hạ tầng giao thông.

    Đáng chú ý, nguồn vốn đầu tư huy động đầu tư cho ngành hàng hải ngoài ngân sách nhà nước chiếm tỷ trọng rất lớn, đạt hơn 173 nghìn tỷ, chiếm xấp xỉ 86% tổng số vốn đầu tư.

    “Như vậy, một đồng ngân sách bỏ ra làm “vốn mồi”, chúng ta đã huy động được 6 đồng ngoài ngân sách.

    Trong đó, nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới trong lĩnh vực vận tải và điều hành khai thác cảng biển trên thế giới đã có mặt tại Việt Nam để hình thành các liên doanh đầu tư xây dựng và khai thác cảng biển như: Tập đoàn DP World - UAE (nhà khai thác cảng số 5 thế giới) tham gia đầu tư, khai thác bến cảng SPCT - TP. Hồ Chí Minh; Tập đoàn SSA Marine - Mỹ (nhà khai thác cảng thứ 9 thế giới) đầu tư khai thác bến cảng SSIT tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Tập đoàn APMT - Đan Mạch (nhà khai thác cảng số 2 thế giới) đầu tư khai thác Cảng CMIT tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; hãng tàu MOL, NYK đầu tư bến cảng Lạch Huyện (Hải Phòng),…

    Đây là nền tảng rất thuận lợi để cảng biển Việt Nam trở thành một mắt xích trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Từ việc hàng hóa xuất khẩu phải trung chuyển ở một nước thứ ba, đến nay, khu vực phía Bắc Việt Nam đã khai thác 2 tuyến đi Bắc Mỹ; Phía Nam đã hình thành được 16 tuyến tàu xa đi Bắc Mỹ và Châu Âu vượt trội hơn các nước khu vực Đông Nam Á (chỉ sau Malaysia và Singapore)”, lãnh đạo Cục Hàng hải VN thông tin.

    Cầu cảng tăng gấp 8 lần
    Cũng theo lãnh đạo Cục Hàng hải VN, nhờ thu hút được nguồn vốn đầu tư, hệ thống cảng biển Việt Nam đã ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc. Nếu năm 2000, Việt Nam mới được đầu tư khoảng 20km chiều dài cầu bến cảng, thông qua sản lượng hàng hóa 82,4 triệu tấn, đến nay, hệ thống cảng biển Việt Nam đã có khoảng 96 km dài cầu cảng, tổng công suất trên 665 triệu tấn/năm, gấp 8 lần so với thời điểm bắt đầu thực hiện quy hoạch phát triển cảng.

    “Ước tính, tổng kinh phí để phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2030 khoảng từ 100 - 320 nghìn tỷ đồng (không bao gồm kinh phí đầu tư đối với các bến cảng, cầu cảng chuyên dùng).

    Thời gian tới, Cục Hàng hải VN sẽ tiếp tục rà soát, tham mưu các cấp có thẩm quyền hoàn thiện cơ chế huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển theo quy hoạch. Trong đó, ưu tiên các nguồn vốn đầu tư lớn đảm bảo phát triển cảng biển theo hướng đồng bộ, hiện đại, không đầu tư manh mún, nhỏ lẻ tại các cảng biển, khu bến có quy mô lớn.

    Nguồn vốn ngân sách nhà nước sẽ tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng cảng biển quan trọng có sức lan tỏa, có hiệu qủa KT-XH lớn, chủ yếu là hạ tầng công cộng (luồng lạch, đê chắn sóng, ngăn cát, hệ thống đường giao thông kết nối)”, lãnh đạo Cục Hàng hải VN nói.

    ==>> Sóng cảng biển và dịch vụ vận tải biển siêu dài và khoẻ
  2. Smart_StockerVN

    Smart_StockerVN Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    16/01/2018
    Đã được thích:
    3.307
    Để nhà đầu tư “rót” vốn vào cảng biển Việt Nam, một trong những yếu tố tiên quyết là giá dịch vụ xếp dỡ tại cảng phải ngang bằng với khu vực.

    [​IMG]
    Nguồn vốn phát triển cảng biển giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050 được xác định ưu tiên cho các cảng biển hiện đại, không đầu tư phân tán, nhỏ lẻ. (Ảnh minh họa)

    Để thu hút khoảng 200 nghìn tỷ đồng đầu tư phát triển cảng biển trong 10 năm tới, ngoài dùng vốn ngân sách, cần hoàn thiện cơ chế để huy động vốn xã hội hóa từ tư nhân…

    Hoàn thiện cơ chế huy động vốn xã hội hóa

    Ông Lê Tấn Đạt, Phó TGĐ Công ty CP Tư vấn xây dựng công trình hàng hải (CMB, đơn vị tham gia xây dựng Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đang được Bộ GTVT lấy ý kiến) cho biết, cả nước hiện có 588 cầu cảng (gấp 4 lần năm 2000), tổng lượng hàng hóa thông qua đạt hơn 664 triệu tấn (gấp 8 lần năm 2000).

    “Ước tính, vào năm 2030, sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển từ hơn 1.140 - 1.422 triệu tấn/năm, trong đó hàng container từ gần 38 - 50 triệu Teu/năm. Do đó, việc lập quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 là rất cần thiết”, ông Đạt thông tin.

    Theo đề án, tổng kinh phí để phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2030 ước tính từ 150-200 nghìn tỷ đồng (không bao gồm kinh phí đầu tư đối với các bến cảng, cầu cảng chuyên dùng).

    Trong đó, kết cấu hạ tầng công cộng cảng biển dự kiến từ 35-40 nghìn tỷ đồng. “Để huy động được nguồn vốn này, Đề án xác định rõ, tiếp tục hoàn thiện cơ chế để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, DN thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia.

    Trong đó, nguồn vốn ngân sách tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng cảng biển quan trọng có sức lan tỏa, có hiệu quả KT-XH lớn, chủ yếu là hạ tầng công cộng (luồng tàu, đê chắn sóng, ngăn cát, hệ thống đường giao thông kết nối…)”, lãnh đạo CMB thông tin.

    Ông Nguyễn Xuân Sang, Cục trưởng Cục Hàng hải VN cho biết, đơn vị sẽ tham mưu Bộ GTVT, Chính phủ các dự án ưu tiên sử dụng vốn ngân sách; Đồng thời, phối hợp với các địa phương đẩy mạnh quảng bá, giới thiệu, xúc tiến để kêu gọi các nguồn vốn tư nhân tham gia đầu tư cảng biển đáp ứng nhu cầu phát triển theo quy hoạch được duyệt.

    Nhà nước đầu tư trước, tạo cơ chế giá dịch vụ hấp dẫn

    Ông Phạm Quốc Long, Phó TGĐ Công ty CP Gemadept cho rằng, để nhà đầu tư “rót” vốn vào cảng biển Việt Nam, một trong những yếu tố tiên quyết là giá dịch vụ xếp dỡ tại cảng (doanh thu chính của DN cảng) phải ngang bằng với khu vực.

    Thực tế, giá bốc xếp container xuất nhập khẩu tại cảng nước sâu của Việt Nam theo Thông tư 54/2018 của Bộ GTVT đang rất thấp, chỉ từ 33 - 53 USD/container 20 feet và 57 - 98 USD/container 40 feet (tùy theo khu vực). Trong khi đó, tại Thái Lan là 59 USD/ container 20 feet, 91 USD/ container 40 feet; Campuchia là 65 USD/ container 20 feet, 99 USD/ container 40 feet; Singapore là 111 USD/ container 20 feet, 159 USD/ container 40 feet.

    “Kinh phí đầu tư một cảng biển container hiện đại, đáp ứng cho tàu container đến 200.000 DWT cập cảng khoảng 350 triệu USD (khoảng 7.000 tỷ đồng), còn cảng tổng hợp cũng bằng khoảng 70% vốn đầu tư cảng container. Mặt khác, vòng đời của một cảng thông thường từ 30 - 50 năm, thậm chí hơn. Nếu nguồn thu chính là giá dịch vụ xếp dỡ thấp, DN cảng sẽ không đảm bảo đủ tiềm lực tái đầu tư, duy trì hoạt động khai thác hiệu quả”, ông Long nói.

    Một vấn đề khác được ông Long đề cập chính là hạ tầng giao thông kết nối. “Điển hình là Cái Mép - Thị Vải (CM-TV) dù được xác định là cảng nước sâu quan trọng, rất gần các nguồn hàng của Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu nhưng nhiều DN ở hai địa phương này vẫn kéo hàng ngược về TP HCM rồi đi sà lan về CM-TV.

    “Nguyên nhân do chi phí, thời gian logistics sử dụng đường bộ và thông quan tại CM-TV còn cao bởi hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt kết nối vùng còn thiếu (cầu Phước An, cao tốc Biên Hòa - Đồng Nai, đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu), một số tuyến đường nội vùng (Phước Hòa - Cái Mép, 991B) thì thi công chưa xong”, ông Long nói.

    Ông Nguyễn Hữu Sia, nguyên Tổng giám đốc Công ty CP Cảng Đà Nẵng cho rằng, cũng có thể huy động vốn đầu tư từ phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán và vay các tổ chức quốc tế.

    “Trước đây, dự án đầu tư xây dựng cảng Tiên Sa giai đoạn 2 cần hơn 1.000 tỷ đồng nhưng trong tay DN khi ấy chỉ có 200 tỷ, buộc DN phải phát hành cổ phiếu (được gần 400 tỷ) và vay quỹ đầu tư phát triển khoảng 250 tỷ, số còn lại huy động từ một số nguồn khác”, ông Sia dẫn chứng và khẳng định, khi DN xác định đầu tư vào cảng biển, nguồn vốn không phải là vấn đề quá khó. Điều quan trọng là quy hoạch cảng trên vùng lãnh thổ xác định rõ đâu là cảng chính, cảng được ưu tiên phát triển, giúp DN yên tâm “rót” vốn.

    Trong khi đó, theo ông Nguyễn Ngọc Huệ, nguyên Cục trưởng Cục Hàng hải VN, ngoài việc huy động vốn xã hội hóa, Nhà nước cũng có thể đầu tư trước (hạ tầng công cộng như: Luồng tàu, đê chắn sóng, đê chắn cát và những bến đầu tiên), sau đó triển khai đấu thầu cho thuê khai thác.

    Cách làm này đã được áp dụng tại 4 bến cảng được đầu tư bằng ngân sách Nhà nước và giao Cục Hàng hải VN làm đại diện cơ quan Nhà nước ký hợp đồng cho thuê khai thác gồm: Bến cảng Cái Lân (cầu 5, 6, 7), Bến cảng container ODA Cái Mép, Bến cảng tổng hợp quốc tế Thị Vải và Bến cảng An Thới - Kiên Giang.

    “Để hướng đi này đạt được hiệu quả, mô hình Ban quản lý khai thác cảng biển cần sớm được hình thành (theo định hướng tại Bộ luật Hàng hải năm 2015) để triển khai quy hoạch được duyệt”, ông Huệ nói.

    Ưu tiên đầu tư những dự án nào?

    Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định một số dự án ưu tiên đầu tư gồm: Xây dựng các bến tiếp theo thuộc cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng, Bà Rịa - Vũng Tàu; Giai đoạn khởi động cảng Liên Chiểu (Đà Nẵng)...

    Đối với luồng vào cảng, tập trung đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp các tuyến luồng hàng hải: Hải Phòng; Hòn Gai - Cái Lân, Cẩm Phả; Nghi Sơn, Thanh Hóa; Cửa Lò, Nghệ An; Luồng Đà Nẵng (Tiên Sa - Thọ Quang, Liên Chiểu), luồng Ba Ngòi, Quy Nhơn; Sài Gòn - Vũng Tàu, Soài Rạp, Vũng Tàu - Thị Vải, Luồng hàng hải cho tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu và luồng hàng hải Trần Đề (Sóc Trăng).
    --- Gộp bài viết, 19/06/2021, Bài cũ: 19/06/2021 ---
    Một vấn đề cũng vô cùng quan trọng. Đó là làm sao để cổ phiếu ngành này hấp dẫn hơn, thanh khoản tốt hơn và lọt vào mắt của các nhà đầu tư tài chính
    Last edited: 19/06/2021
    cophieu88 thích bài này.
  3. Smart_StockerVN

    Smart_StockerVN Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    16/01/2018
    Đã được thích:
    3.307
    Nghịch lý giá dịch vụ cảng biển

    Giá một số dịch vụ cảng biển của hệ thống Cái Mép-Thị Vải đang thấp ở mức đáng kinh ngạc, đòi hỏi sớm có sự điều chỉnh đồng bộ và phù hợp.

    [​IMG]
    Giá dịch vụ cảng biển có thể tăng thêm 30% trong thời gian tới. Trong ảnh: Tàu container trọng tải 145 ngàn tấn của hãng MSC trên luồng cập vào cảng CM-TV.
    GIÁ XẾP DỠ THẤP HƠN SO VỚI 20 NĂM TRƯỚC

    Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA), giá bốc xếp trong thời gian qua chưa được quan tâm đúng mức. Theo Quyết định 61/2003/QĐ-BTC giá bốc xếp đưa ra là 57-85 USD/container loại 20 và 40 feet tại cụm cảng CM-TV. Tuy nhiên, theo Thông tư 54/2018, giá bốc xếp tại khu miền Nam chỉ còn 52 USD/ container 20 feet và 68 USD/container 40 feet. Như vậy, mức giá bốc xếp container tại các cảng biển hiện thấp hơn so với 20 năm trước và thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Cụ thể như, theo Thông tư 54/2018 của Bộ GT-VT giá bốc xếp tại các cảng nước sâu chỉ bằng 45-80% so với các cảng Hongkong, Singapore, Malaysia, Trung Quốc, thậm chí là thấp hơn cảng Phnompenh (Campuchia) - một cảng sông với mức đầu tư không lớn. Có thể lấy ví dụ, cảng quốc tế Cái Mép (CMIT) là cảng nước sâu đón tàu mẹ trực tiếp đi Mỹ, châu Âu có trọng tải lớn trên 200 ngàn tấn, nhưng giá dịch vụ xếp dỡ là 50 USD/container. Trong khi cảng Phnom Penh của Campuchia chỉ đón tàu 22 ngàn tấn nhưng có giá 65 USD/container.

    Thông tin từ các DN kinh doanh cảng biển cho thấy, điều đáng nói là dù được hưởng mức giá dịch vụ ở CM-TV rất thấp, nhưng các chủ tàu lại đang thu phụ phí xếp dỡ tại cảng từ các DN xuất nhập khẩu tại Việt Nam là từ 120 – 175 USD/container 20 feet. Trong vòng 13 năm nay, các chủ tàu đã tăng phụ thu tới 2,5 lần. Hãng tàu nước ngoài thu cao nhưng chỉ trả lại cho cảng ở mức bằng 30-45% mức thu từ khách hàng xuất nhập khẩu. Tương đương với việc chủ tàu hưởng từ 55-80 USD/container. Tính toán một cách tương đối, mỗi năm, Việt Nam mất khoảng 1 tỷ USD.

    Ông Phạm Quốc Long, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Gemadept (chủ đầu tư Cảng Gemalink) cho biết, khu vực CM-TV suất đầu tư cảng nước sâu rất lớn mới có thể đón các tàu từ 200 ngàn tấn, nhưng thời gian thu hồi vốn chậm do giá dịch vụ quá thấp. Vì thế, việc tăng giá dịch vụ cảng biển là bắt buộc và hợp lý vì đây là “tài nguyên quốc gia”.

    CHỦ TÀU KHÔNG ĐƯỢC TỰ Ý TĂNG THU PHỤ PHÍ

    Tại cuộc họp nghe báo cáo Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 54/2018/TT-BGTVT ban hành biểu khung giá dịch vụ hoa tiêu, dịch vụ sử dụng cầu, bến, phao neo, dịch vụ bốc dỡ container và dịch vụ lai dắt tại cảng biển Việt Nam cuối tháng 9 vừa qua, Bộ trưởng Bộ GT-VT khẳng định, việc tăng giá bốc xếp là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, tạo nền tảng để DN cảng biển kinh doanh có lãi, từ đó tích lũy được nguồn lực để tái đầu tư hệ thống hạ tầng, ứng dụng công nghệ nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của cảng biển Việt Nam. Do đó, theo lộ trình của Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 54/2018/TT-BGTVT từ năm 2021-2023 sẽ tăng liên tiếp 10%/năm cho tới khi tiệm cận mức giá của các nước trong khu vực. Mức tăng này nhằm bảo đảm hiệu quả kinh doanh cũng như khả năng tái đầu tư cho các DN.

    Việc tăng phí dịch vụ cảng biển lại khiến cộng đồng logistics lo ngại bởi phí bốc dỡ là một trong những yếu tồ cấu thành nên chi phí đầu vào của phụ phí xếp dỡ cảng biển (THC). Và nếu như THC tăng sẽ dẫn đến tăng phí logistics quốc gia. Đây là điều không DN nào mong muốn nhất là trong bối cảnh các DN đang gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19. Ông Nguyễn Cao Trường, chủ hãng tàu MSC - một trong những hãng tàu hiện đang có nhiều tuyến dịch vụ về CM-TV cho rằng, nếu tăng chi phí xếp dỡ sẽ ảnh hưởng chi phí cho hãng tàu MSC cũng như các hãng tàu khác. Do đó, để bù đắp chi phí phát sinh trong quá trình vận chuyển MSC cũng sẽ xem xét tăng giá THC hoặc điều chỉnh tàu vào CM-TV để cắt giảm chi phí phát sinh.

    Tuy nhiên, Thứ trưởng Bộ GT-VT Nguyễn Văn Công bày tỏ quan điểm, hãng tàu đang thu 120 USD/container, trong khi chỉ phải trả 52 USD/container tại CM-TV. Rõ ràng, khoản chênh lệch rất lớn vì hãng tàu thu của DN cao mà lại trả giá dịch vụ cảng biển rất thấp. Chưa kể, giá THC là số phí hãng tàu thu hộ cho DN cảng thì không có lý do gì các hãng tàu phải tăng giá. Hơn nữa hãng tàu không có quyền tự ý tăng giá, muốn tăng giá thu dịch vụ cảng biển, tăng phí phải có lý do. “Việc tăng giá liên tiếp trong 3 năm sẽ nâng lên đạt khoảng 69 USD/container 20 feet (chỉ bằng 1 cảng sông tại Campuchia) là hợp lý và chắc chắn không gây khó khăn cho chủ tàu. Các hãng tàu không thể ép việc dọa cắt hay không cắt tuyến. Vì với tiềm năng vị thế của các cảng nước sâu, đặc biệt là tại CM-TV nếu hãng tàu nào bỏ tuyến, sẵn sàng có DN khác thay thế”- Thứ trưởng Bộ GT-VT Nguyễn Văn Công nhấn mạnh.

    Ông Nguyễn Xuân Kỳ, Phó Giám đốc Cảng quốc tế Cái Mép (CMIT) cũng cho rằng, việc tăng phí dịch vụ cảng biển sẽ đáp ứng được nhu cầu thu hồi vốn và tái đầu tư cho các DN cảng và thu lại số tiền dịch vụ các DN cảng xứng đáng được hưởng.

    Trong khi đó, ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch VLA cho rằng, trong thời điểm dịch COVID-19 vẫn đang diễn biến phức tạp và tác động làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu thì việc tăng giá bốc xếp cần có lộ trình vào thời điểm thích hợp. Giá dịch vụ cảng biển nói chung và giá bốc xếp cảng biển nói riêng phải bảo đảm hiệu quả đầu tư của DN cảng và lợi ích quốc gia trong quá trình kinh doanh. Vì vậy, khi tăng giá dịch vụ tại cảng biển cần quản lý các hãng tàu container nước ngoài không được tăng thu phụ phí THC và các phụ phí khác nhằm giảm chi phí logistics quốc gia.

    Bộ GT-VT đang lấy ý kiến về dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 54/2018 về giá dịch vụ cảng biển. Theo đúng lộ trình còn khoảng 1 tháng nữa (từ tháng 1/2021), giá phí xếp dỡ tại cảng biển sẽ được điều chỉnh tăng thêm 10%. Cụ thể, giá dịch vụ tối thiểu bốc dỡ container xuất nhập khẩu, trung chuyển tại CM-TV được đề xuất tăng 10% từ 52-60USD/container 20 feet lên 57-66 USD/container 20 feet; container 40 feet tăng từ khung 77 - 88 USD lên 85 – 97USD/container; riêng container trên 40 feet tăng từ 85 - 98 USD lên 94 - 108 USD/container.
    --- Gộp bài viết, 19/06/2021, Bài cũ: 19/06/2021 ---
    Tiềm năng sẽ rất lớn khi tăng khung giá dịch vụ
    InvestorVNstock thích bài này.
  4. Smart_StockerVN

    Smart_StockerVN Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    16/01/2018
    Đã được thích:
    3.307
    Đúng đường lối chính sách mà bác. 10 năm qua Cục đã rất thành công trong việc huy động vốn. Nếu điều chỉnh tăng khung giá dịch vụ thì sân chơi sẽ càng hấp dẫn hơn
  5. hoangpk001

    hoangpk001 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    11/01/2021
    Đã được thích:
    217
    Vãi thật
    GMD quả này bứt không cản nổi
  6. Smart_StockerVN

    Smart_StockerVN Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    16/01/2018
    Đã được thích:
    3.307
    Gmd chờ ngày hái quả thôi. Tài sản khủng thật
    Xét về quy mô chắc chỉ sau Tân Cảng
  7. theanhstm

    theanhstm Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    12/09/2004
    Đã được thích:
    9
  8. Smart_StockerVN

    Smart_StockerVN Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    16/01/2018
    Đã được thích:
    3.307
    Vẫn chưa cũ đâu nhé. Hiện giờ hầu hết các đơn vị đều nâng kịch trần khung giá quy định trong thông tư 54 rồi. Và đang đợi khung giá mới hey
    https://m.thuvienphapluat.vn/van-ba...-dich-vu-su-dung-cau-ben-phao-neo-400702.aspx
    Last edited: 20/06/2021
  9. linhcdb

    linhcdb Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    17/01/2008
    Đã được thích:
    12.664
    Hàng container qua cảng biển Việt Nam vẫn giữ đà tăng trưởng
    Đại diện Cục Hàng hải Việt Nam vừa cho biết, dù đang chịu tác động mạnh của dịch COVID-19, song hàng container qua cảng biển Việt Nam vẫn giữ đà tăng trưởng tốt trong nửa năm 2021.
    [​IMG]Tàu container CMA CGM CORTE REAL tải trọng 165.375 DWT, có chiều dài 365,5m cập cảng GERMALINK bốc dỡ hàng hóa. Ảnh: TTXVN phát
    Cụ thể, 6 tháng đầu năm, tổng sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển Việt Nam ước đạt gần 363 triệu tấn, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2020. Riêng hàng container vẫn giữ nhịp tăng trưởng mạnh với hơn 12,4 triệu TEUs, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước.
    Trong đó, hàng container xuất khẩu ước đạt gần 4 triệu TEUs, tăng 17%; hàng container nhập khẩu ước đạt hơn 4,1 triệu TEUs, tăng tới 26% và hàng container nội địa ước đạt hơn 4,3 triệu TEUs, tăng 24%.
    Cũng theo thống kê của Cục Hàng hải Việt Nam, trong những tháng đầu năm 2021, một số khu vực cảng biển có sản lượng hàng container thông qua cao như: khu vực Mỹ Tho tăng 74%; khu vực An Giang tăng 50%; khu vực Tp. Hồ Chí Minh tăng hơn 17%; khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 38%.
    Tuy nhiên, cũng có một số khu vực cảng biển lại có sản lượng hàng container giảm mạnh như: khu vực tỉnh Quảng Ninh giảm 97%; khu vực Thanh Hóa giảm 60%; khu vực Cần Thơ, Bình Thuận giảm 10%./.
  10. Smart_StockerVN

    Smart_StockerVN Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    16/01/2018
    Đã được thích:
    3.307
    Kinh tế Việt Nam quý II và triển vọng cả năm 2021
    CHỦ NHẬT, 20/06/2021, 14:46
    0CHIA SẺ


    Do sự bùng phát của Covid-19, nền kinh tế chịu ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ, vì vậy tăng trưởng trong quý II dự kiến sẽ khó duy trì được ở mức cao như kỳ vọng. Mặc dù vậy, các chỉ số vĩ mô trong tháng 4 và tháng 5 vẫn thể hiện những dấu hiệu tích cực nhất định.
    [​IMG]
    Kinh tế Việt Nam trong quý II/2021

    Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 4 và tháng 5 tăng tương ứng 24,1% và 11,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó đáng chú ý lĩnh vực chế biến chế tạo dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng lên tới 29,1% trong tháng 4 và 14,6% trong tháng 5. Ngành sản xuất và cung cấp điện cũng vươn lên với tốc độ tăng trưởng khá cao 16,4% và 12%. Nhóm ngành khai khoáng ngày càng có đóng góp giảm sút trong giá trị sản xuất công nghiệp, tháng 4 chỉ tăng 1,8% còn tháng 5 giảm 919.8%.

    Tính chung cho giai đoạn 5 tháng đầu năm 2021, giá trị sản xuất công nghiệp ước tăng 9,9% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 12,6% đóng góp 10,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,3%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm -7%, làm giảm -1,1 điểm phần trăm trong mức tăng chung.

    Xét cả tăng trưởng kinh tế quý I và hoạt động lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp trong 5 tháng đầu năm 2021, có thể nhận thấy nền kinh tế đang có sự phục hồi tương đối tốt. Tuy nhiên, việc dịch bệnh bùng phát trở lại vào tháng 5 năm 2021 có thể ảnh hưởng ít nhiều đến kết quả tăng trưởng kinh tế trong tháng 6 do sự đình trệ hoạt động tại một số khu công nghiệp tại Bắc Ninh, Bắc Giang, cũng như tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.

    Về thương mại

    Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng 4 và tháng 5 đều đạt khoảng 26 tỷ USD, tăng trên 30% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 131 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 33,06 tỷ USD, tăng 16,6%, chiếm 25,2% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 97,88 tỷ USD, tăng 36,3%, chiếm 74,8%. Tương tự, kim ngạch nhập khẩu cũng có sự tăng trưởng khá trong tháng 4 và tháng 5, đạt lần lượt 27,78 và 28 tỷ USD, tăng trên 50% so với cùng kỳ năm ngoái. Tổng hợp cho cả 5 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 131,31 tỷ USD, tăng 36,4% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 45,8 tỷ USD, tăng 30,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 85,51 tỷ USD, tăng 39,9%. Như vậy, mặc dù khu vực có vốn ĐTNN tiếp tục đóng vai trò chủ đạo, tuy nhiên khu vực trong nước cũng đã có sự khởi sắc nhất định trong hoạt động xuất nhập khẩu của nền kinh tế.

    Xét theo đối tác thương mại, Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 37,6 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm 2021, chiếm tỷ trọng 28,7%, xếp thứ hai là Trung Quốc đạt 20,1 tỷ USD chiếm 15,2%. Tuy nhiên, về phía nhập khẩu, Trung Quốc là đối tác lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 43,3 tỷ USD, chiếm 33% tổng giá trị nhập khẩu, tiếp theo là Hàn Quốc đạt 20,9 tỷ USD, chiếm 16%; ASEAN đạt 18,1 tỷ USD, tương đương 18,1%.

    Theo Tổng cục Thống kê, cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng 4 nhập siêu 1,5 tỷ USD còn tháng 5 ước tính nhập siêu 2 tỷ USD. Tính tổng hợp 5 tháng đầu năm 2021, cán cân thương mại dự kiến nhập siêu 369 triệu USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 12,74 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 12,37 tỷ USD.

    Như vậy, tăng trưởng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu ở mức cao phần nào cho thấy nền kinh tế thế giới và trong nước đang phục hồi mạnh mẽ, chuỗi cung ứng sản xuất đang được kết nối lại.

    Về đầu tư

    Tính chung 5 tháng đầu năm 2021, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 133,4 nghìn tỷ đồng, bằng 28,7% kế hoạch năm và tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2020, gồm có: Vốn Trung ương quản lý đạt 20,9 nghìn tỷ đồng, bằng 27,1% kế hoạch năm; vốn địa phương quản lý đạt 112,5 nghìn tỷ đồng, bằng 29% kế hoạch năm và tăng 13%.

    Trong 5 tháng đầu năm, dòng vốn FDI vào Việt Nam đạt 14 tỷ USD, trong đó có 613 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 8,83 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2020, mặc dù giảm 49,4% về số dự án nhưng giá trị vốn đăng ký lại cao hơn 18,6%, cho thấy giá trị quy mô vốn trung bình của các dự án đã tăng lên đáng kể. Ngược lại, dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2021 đạt 546,7 triệu USD, tăng hơn 3 lần so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó có 21 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn là 143,5 triệu USD, đồng thời có 9 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm đạt 403,2 triệu USD.

    Trong bối cảnh dòng vốn đầu tư toàn cầu suy giảm mạnh tại hầu hết các quốc gia và khu vực, tình hình dòng vốn FDI vào vẫn được duy trì ở mức khá cao cho thấy nền kinh tế Việt Nam vẫn là một điểm sáng về thu hút dòng vốn nước ngoài.

    Về tình hình doanh nghiệp

    Trong tháng 4, cả nước có gần 14,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 179,9 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký 94,6 nghìn người; giá trị vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 13 tỷ đồng, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, cũng trong tháng 4 có 4.598 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, 5.608 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và 1.541 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể. Như vậy, trong tháng 4 có tới gần 12 nghìn doanh nghiệp chính thức ngừng hoạt động.

    Bước sang tháng 5, số liệu thống kê cho thấy có 11,6 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 150,6 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký 72,2 nghìn người. So với cùng kỳ năm 2020, số doanh nghiệp tăng 8,1%; số vốn đăng ký tăng 33,6%; số lao động đăng ký giảm 21,1%. Số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động trong tháng bao gồm 3.400 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, 4.234 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, 1.279 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể; tổng cộng gần 9 nghìn doanh nghiệp.

    Các con số nói trên cho thấy, tình hình doanh nghiệp trong nước vẫn còn rất khó khăn, số lượng doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động vẫn tương đối lớn và tăng cao. Sự xuất hiện làn sóng dịch bệnh lần thứ 4 vào đầu tháng 5/2021 càng tăng thêm tác động tiêu cực đến phát triển sản xuất – kinh doanh.

    Tình trạng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và làm thủ tục giải thể đã bắt đầu xuất hiện ở những doanh nghiệp qui mô lớn và "khỏe hơn" so với các doanh nghiệp đã ngừng hoạt động ở giai đoạn trước cho thấy dịch bệnh kéo dài đang có những tác động nặng nề hơn. Điều này đang đặt ra bài toán thực hiện gói hỗ trợ tiếp theo để thúc đẩy sự phục hồi nhanh chóng của doanh nghiệp trong nửa sau của năm 2021 cũng như đảm bao an sinh xã hội cho người lao động.

    [​IMG]

    Về tình hình lạm phát, tiền tệ

    Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2021 tăng 0,16% so với tháng trước và tăng 2,9% so với tháng 5/2020. Tính chung CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2021 tăng 1,29% so với bình quân cùng kỳ năm 2020. Sự nhích lên của CPI khiến cho lạm phát cơ bản tháng 5 tăng 0,15% so với tháng 4 và tăng 1,13% so với cùng kỳ năm trước; tính tổng thể, chỉ số lạm phát cơ bản bình quân 5 tháng đầu năm nay tăng 0,82% so với cùng kỳ năm 2020. Những nguyên nhân chủ chốt khiến CPI và lạm phát tăng lên là do giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào tăng ảnh hưởng đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp, làm cho giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng; giá xăng dầu tăng theo giá thế giới; về phía người tiêu dùng thì giá điện, nước sinh hoạt tăng lên theo nhu cầu của xã hội.

    Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 5/2021 tăng 1,68% so với tháng trước; giảm 0,88% so với tháng 12/2020 và tăng 13,02% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2021 giảm 0,21% so với tháng trước; giảm 0,02% so với tháng 12/2020 và giảm 1,15% so với cùng kỳ năm trước.

    Thách thức và triển vọng

    Nhìn chung, các số liệu kinh tế vĩ mô của tháng 4 và tháng 5 và 5 tháng đầu năm vẫn thể hiện những dấu hiệu tích cực. Tuy nhiên, triển vọng của nền kinh tế trong những tháng tiếp theo của năm 2021 là nhiều rủi ro, khó đoán định. Trên thế giới, chỉ số đơn đặt hàng của nhà quản trị (PMI) ở nhiều nơi trên thế giới tăng nhưng ở Đông Á và Đông Nam Á lại giảm mạnh, sự phục hồi như vậy là không đồng đều và thống nhất. Triển vọng của kinh tế Việt Nam những tháng cuối của năm 2021 thể hiện ở các điểm sau:

    Thứ nhất, nguy cơ lan rộng của đại dịch Covid-19. Dịch bệnh Covid-19 bùng phát trở lại với xuất hiện nhiều biến thể mới nguy hiểm hơn do đó có tốc độ lây lan nhanh hơn, dễ lan rộng hơn. Sự bùng phát dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng mạnh đến các hoạt động của các trung tâm kinh tế, trong đó ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất tại nhiều khu công nghiệp ở các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh và do đó ảnh hưởng lớn đến chuỗi cung ứng. Dịch bệnh còn diễn biến phức tạp và việc chưa nhập đủ vắc-xin sẽ là thách thức lớn cho quá trình phục hồi tăng trưởng của nền kinh tế. Vì thế, vấn đề quan trọng hàng đầu hiện nay là ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh và mua đủ vắc-xin.


    Thứ hai, hoạt động của doanh nghiệp tiếp tục gặp nhiều khó khăn. Việc dịch bệnh lây lan nhanh có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các doanh nghiệp trong nước. Số liệu về doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê cho thấy trong tháng 4 và tháng 5, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể có xu hướng tăng lên so với các tháng trong quý I/2021 và so với cùng kỳ năm 2020. Qua 5 tháng đầu năm 2021, số doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể tăng hơn 20%, doanh nghiệp tạm ngừng kinh đoanh có thời hạn tăng 23%, đây là những con số đáng lo lắng. Khả năng chống chịu của các doanh nghiệp gần như đã đến giới hạn sau hơn một năm phải đối phó với dịch bệnh, rất cần có sự hỗ trợ của nhà nước để vượt qua giai đoạn khó khăn này.

    Thứ ba, nguy cơ lạm phát gia tăng. Mặc dù tỷ lệ lạm phát trong tháng 4, tháng 5 chỉ tăng nhẹ và đang được kiểm soát tốt, nhưng sức ép lạm phát từ bên ngoài dự báo sẽ tăng lên trong giai đoạn tới. Các gói hỗ trợ của các nền kinh tế lớn của thế giới Mỹ, EU, Trung Quốc có tác động trễ và sẽ làm cho lạm phát tăng. Thêm vào đó, khi nền kinh tế mở cửa trở lại, cầu tiêu dùng hàng hóa dịch vụ tăng lên tạo sức ép tăng giá. Trong khi đó, về phía cung, kể từ đầu năm đến nay, giá cả các nguyên liệu đầu vào xu hướng tăng lên. Theo Ngân hàng Thế giới, "từ đầu năm đến hết tháng 4/2021, giá năng lượng (dầu thô và than đá) toàn cầu tăng 30% so với đầu năm, giá hàng hóa khác (phi năng lượng) tăng 16%, trong đó giá lương thực tăng 16%, giá phân bón tăng 24% và giá kim loại, khoáng chất tăng 25%".

    Quy mô tín dụng của nước ta đang ở mức cao so với trung bình các nước khu vực: Quy mô tín dụng so với GDP của Việt Nam cuối năm 2019 đạt 138% GDP, cao hơn so với bình quân ASEAN-9 (86% GDP). Cung tiền và tín dụng (%GDP) ở mức cao cùng với giá nguyên nhiên liệu thế giới tăng tạo áp lực làm tăng tỷ lệ lạm phát và điều này có thể ảnh hưởng đến ổn định kinh tế. Việc giảm cung tiền hay tín dụng có thể làm giảm phần nào áp lực gia tăng lạm phát nhưng ngược lại ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Nếu điều này xảy ra, Chính phủ sẽ phải đương đầu với quyết định khó khăn là lựa chọn giữa ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế.

    Thứ tư, nguy cơ bong bóng tài sản tài chính. Một vấn đề khác nảy sinh vào đầu năm 2021 là giá bất động sản tại nhiều địa phương tăng lên mạnh mẽ. Sự hình thành bong bóng bất động sản sẽ là rủi ro lớn cho sự ổn định của hệ thống tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 29/4/2021 đã có Công văn số 3029/NHNNTTGSNH đánh giá về "Một số vấn đề trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài", trong đó có nêu những dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro trong một số tổ chức tín dụng như:

    - Nợ xấu nội bảng có xu hướng tăng so với cuối năm 2019;

    - Tỷ lệ nợ xấu của một số công ty tài chính tiêu dùng ở mức cao và tăng lớn so với năm trước;

    - Tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ tín dụng, tốc độ tăng trưởng tín dụng bất động sản cao;

    - Đầu tư trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) nhằm mục đích xây dựng, kinh doanh bất động sản vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng đầu tư TPDN;

    - Một số ngân hàng thương mại có số dư đầu tư TPDN tăng lớn so với năm 2019, trong đó, mức tăng thêm tập trung chủ yếu vào lĩnh vực xây dựng và kinh doanh bất động sản;- Cấp tín dụng để đầu tư, kinh doanh chứng khoán tăng lớn so với năm trước (đặc biệt trong Quý IV/2020); - Chất lượng tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản, tín dụng phục vụ nhu cầu đời sống và dư nợ tín dụng qua thẻ tín dụng suy giảm mạnh so với cuối năm 2019;

    - Nợ xấu cấp tín dụng đối với khách hàng lớn (doanh nghiệp có tổng mức cấp tín dụng từ 500 tỷ đồng trở lên) tăng so với cuối năm 2019.

    Có thể thấy NHNN đã xác định rõ những vấn đề nguy cơ của hệ thống tài chính trong giai đoạn hiện nay, cần có các giải pháp kịp thời nhằm giải quyết các này trước khi chúng gây tác động tiêu cực đến sự phát triển ổn định của nền kinh tế.

    Bên cạnh đó chỉ số chứng khoán VN Index liên tục tăng và liên tiếp lập các kỷ lục trong tháng 4 và tháng 5 cũng đòi hỏi phải có sự giám sát chặt chẽ để tránh tình trạng bong bóng trong chứng khoán.

    Tuy vậy, tình hình thực tiễn và các xu hướng vận động của nền kinh tế cho thấy triển vọng của nền kinh tế trong giai đoạn còn lại của năm 2021 chủ yếu vẫn là tích cực. Nhưng để đạt được tốc độ tăng trưởng như mục tiêu đề ra cho cả năm 2021 (tăng trưởng đạt khoảng 6,5% và tỷ lệ lạm phát dưới 4%) đòi hỏi có những giải pháp chính sách mạnh mẽ và kịp thời để phát huy những mặt tiêu cực và khắc phục những hạn chế, khó khăn.
    Smart_StockerVN đã loan bài này

Chia sẻ trang này