Khủng hoảng kinh tế Việt Nam 2008: sự sai lầm về chính sách và vai trò của tập đoàn kinh tế quốc doa

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi toctem1979, 27/11/2009.

Trạng thái chủ đề:
Đã khóa
711 người đang online, trong đó có 284 thành viên. 18:28 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 989 lượt đọc và 0 bài trả lời
  1. toctem1979

    toctem1979 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    10/06/2008
    Đã được thích:
    0
    Khủng hoảng kinh tế Việt Nam 2008: sự sai lầm về chính sách và vai trò của tập đoàn kinh tế quốc doanh* Vũ Quang Việt

    Khủng hoảng kinh tế Việt Nam 2008: sự sai lầm về chính sách và vai trò của tập đoàn kinh tế quốc doanh*

    Vũ Quang Việt

    *Đây là bản viết lại bài ?oVietnam?Ts Economic Crisis:
    Policy Follies and the Role of State-Owned Conglomerates?
    trong Southeast Asian Affairs 2009, tr. 389-417
    Nhập đề

    Năm 2007 đã để lại một dấu ấn quan trọng trong lịch sử kinh tế khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) vào ngày 11 tháng 1 năm 2007 sau khi gói đề nghị của Việt Nam được Đại Hội đồng của WTO chấp nhận vào ngày 7 tháng 11 năm 2006. Đối với giới lãnh đạo chính trị và dân chúng Việt Nam, trở thành thành viên WTO là cuộc vượt rào cản cuối cùng để Việt Nam hoàn toàn có thể hòa nhập với cộng đồng thế giới, đặc biệt khi mà Mỹ lúc đó vẫn có khả năng ngăn chận chuyện này, và như thế chặn đường phát triển kinh tế của Việt Nam nhằm mục đích đòi hỏi các nhân nhượng về chính trị. Việc gia nhập WTO do đó được các nhà lãnh đạo ********************** coi là một thắng lợi lớn. Và như tất cả các cuộc thắng lợi lớn trong quá khứ, dù là đối với Pháp hay với Mỹ, họ như được uống liều thuốc thánh, trở nên mê hoặc với các kế hoạch vĩ đại bất chấp thực tế.

    Lần này, chính quyền của Thủ tướng *************** tin rằng việc nhanh chóng bắt kịp các nước trong khu vực đã nằm trong tầm tay. Kế hoạch năm 2008 đặt mục tiêu tăng GDP ở mức 8.5-9%, bằng cách vừa tập trung kêu gọi nước ngoài đầu tư trực tiếp và đầu tư tài chính gián tiếp, vừa tăng cường vai trò của các tập đoàn quốc doanh và các công ty con của chúng bằng cách cung cấp đất công, tiền ngân sách và tín dụng một cách dễ dãi.

    Về mặt chính trị, nội các của Thủ tướng *************** rất có thể đã tin rằng kế hoạch kinh tế này sẽ được sự ủng hộ của đảng viên và các chính quyền địa phương cả nước bởi vì nó mang lại lợi ích cho họ qua việc phát triển của các tập đoàn và tổng công ty quốc doanh bằng cách cấp tiền vốn ngân sách, phân phát quyền sử dụng đất, tạo ra cổ phần trong hàng trăm các công ty nửa tư nửa công mà các tập đoàn và tổng công ty nhanh chóng dựng nên. Nhưng ngay trong năm 2008 kế hoạch này cũng nhanh chóng,làm lạm phát nhảy vọt, thị trường chứng khoán suy sụp và nền kinh tế bị đe dọa trầm trọng bởi khả năng xảy ra khủng hoảng cán cân thanh toán. Việc này chưa làm mất ghế, nhưng đã làm mất uy tín của vị thủ tướng trẻ, người hình như có đầy tham vọng tập trung quyền điều hành kinh tế vào cá nhân mình. Vào tháng 11 năm 2008, chính phủ Việt Nam đã phải giảm chỉ tiêu tăng GDP xuống 6,7%,[1] nhưng rồi cuối cùng cũng chỉ đạt được 6,2%.

    Phần đầu của bài viết sẽ đánh giá những nét quan trọng về kết quả đạt được trong nền kinh tế. Phần này sẽ là cơ sở để tìm hiểu về hệ quả chính trị có thể có trong phần hai.

    I. Thành tích kinh tế

    Tăng trưởng kinh tế

    Nói về GDP, kinh tế Việt Nam có những thành tích khá, tính từ năm 2002. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm thời kỳ 2002-2007 là 8,1%. Mặc dù không quá thấp hơn tốc độ bình quân hàng năm của Trung Quốc (là 8,8%), tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam cao hơn bình quân của Ấn Độ (6,8%). Nói chung, tốc độ của Việt Nam là cao hơn hầu hết các nước khác ở Đông Nam Á (xem Bảng 1).


    BẢNG 1
    Tốc độ tăng GDP và lạm phát ở các nước Đông Nam Á,
    Trung Quốc và Ấn Độ, 2002-2007

    Quốc gia


    GDP 2007 (tỷ USD)


    GDP đầu người năm 2007 (USD)


    Bình
    quân
    năm 2002-
    2007


    2002


    2003


    2004


    2005


    2006


    2007
    Tốc độ
    tăng GDP Tốc độ lạm phát năm tính theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

    Brunei


    12


    31,759


    1.7


    -2.3


    0.3


    0.9


    1.2


    0.1


    0.3

    Cambodia


    9


    598


    11.4


    3.2


    0.3


    3.9


    5.8


    4.7


    -

    Indonesia


    433


    1,869


    5.5


    11.9


    6.8


    6.1


    10.5


    13.1


    6.4

    Lào


    4


    711


    6.9


    10.2


    16.0


    10.8


    6.8


    7.3


    -

    Malaysia


    187


    7,027


    6.0


    1.8


    1.1


    1.4


    3.1


    3.6


    2.0

    Myanmar


    19


    379


    5.4


    57.1


    36.6


    4.5


    10.5


    18.9


    34.6

    Philippines


    144


    1,639


    5.5


    3.0


    3.5


    6.0


    7.6


    6.3


    2.8

    Singapore


    161


    36,370


    7.1


    -0.4


    0.5


    1.7


    0.5


    1.0


    2.1

    Thailand


    245


    3,841


    5.6


    0.6


    1.8


    2.8


    4.5


    4.6


    2.2

    Viet Nam


    71


    815


    8.1


    3.9


    3.2


    7.8


    8.4


    7.4


    8.3

    Ấn Độ


    1,141


    976


    6.8


    4.3


    3.8


    3.8


    4.2


    6.2


    6.3

    Trung Quốc


    3,400


    2,604


    8.8


    -0.8


    1.2


    3.9


    1.8


    1.5


    4.8

    Nguồn: Số liệu GDP và CPI ở các nước Đông Nam Á là từ ASEAN Secretariat, nhưng CPI của Việt Nam là số liệu đã điều chỉnh lại củaTổng cục Thống kê Việt Nam. Số liệu GDP bình quân đầu người, GDP bằng USD là từ Cục Thống kê LHQ. CPI của TQ và Ấn Độ là từ Asian Development Bank (ADB).
Trạng thái chủ đề:
Đã khóa

Chia sẻ trang này