Khủng hoảng tài chính : Thế giới , ĐNA và Việt Nam

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi rooney25, 09/10/2008.

791 người đang online, trong đó có 316 thành viên. 22:32 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 738 lượt đọc và 3 bài trả lời
  1. rooney25

    rooney25 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/08/2008
    Đã được thích:
    513
    Khủng hoảng tài chính : Thế giới , ĐNA và Việt Nam

    KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH: THẾ GIỚI, ĐÔNG NAM Á VÀ VIỆT NAM

    Bài Viết Của Bạn Đọc -- 08 tháng 10, 2008

    Giới thiệu: Bài tổng hợp này do Chiphe (aka Chiphe3, Chiphe8) viết rải rác trong một số comments gần đây về kinh tế thế giới và Việt nam. Tựa do BQT mạng đặt

    ĐỊA CHẤN TÍN DỤNG VÀ BÃO TÁP SUY THOÁI

    Ngày 6/10 sẽ tiếp tục đi vào lịch sử kinh tế thế giới như một trong những ngày tồi tệ nhất. Tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới sụt giảm một cách thê thảm. Chỉ số DJI của Mỹ tụt xuống dưới 10.000 điểm. Trong ba tiếng đầu, DJI mất gần 800 điểm, nhưng vào những giờ cuối đã lấy lại được một chút phong độ, tuy nhiên cũng không đưa DJI lên được trên mức 10.000.

    Tất cả các thị trường Châu Á sụt giảm ít nhất là 4%, với Jakarta là gần 10%. Úc và NZ đều có chung số phận với 5% sụt giảm. Nga vẫn tiếp tục có những địa chấn lớn trên 10%. Châu Mỹ La tinh gần tâm chấn ở Mỹ hiển nhiên là phải gánh chịu hậu quả với 5 % lao dốc. Ngày thứ hai đi vào lịch sử chứng khoán Châu Âu như là ngày tồi tệ nhất trong vòng 20 năm trở lại đây với đà lao dốc không phanh tốc độ đến gần 9%. Cùng lúc các thông tin về kinh tế vĩ mô của tháng 9 cũng tràn ngập màu sắc bi quan. Tăng trưởng của Mỹ trong quý 4 được revised lại là -1%, Nhật 0.3%, Châu Âu -1%.

    Tin tức ảm đạm tràn ngập các trang báo. CNN, BCC, Blomberg news dành gần hết thời gian để đăng tải tin về khủng hoảng. Khi chỉ số DJI tụt xuống dưới 10.000, có thể nghe thấy rất rõ tiềng ồ lên thất vọng từ sàn chứng khoán phố Uôn. Cuộc điều trần của Lehman Brosthers tại QH Mỹ dường như đổ thêm dầu vào lửa với những lời lẽ buộc tội gay gắt của các nghị sĩ với lòng tham không đáy của các CEO. Sự hoảng sợ lan tràn. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là tại tâm chấn Mỹ thì sự hoảng sự dường như được kiềm chế hơn là ở các nơi xa địa chấn như Châu Á, Nga, và Châu Âu.

    Có thể thấy một điều rất rõ là Mỹ hành động luôn quyết đoán và mạnh mẽ trong khủng hoảng. Cái này tôi đã nhận thấy từ lâu và đã nhận xét nhiều lần. Nếu phải mất gần một năm Nhật mới thông qua được bailout để đối phó với cuộc khủng hoảng tín dụng tài chính những năm 80 thì Mỹ chỉ mất hai tuần. Nếu Châu Âu, với một đồng tiền chung, vẫn phải đối phó chật vật theo tính chất piece-meal với khủng hoảng bằng cách bailout và quốc hữu hóa từng ngân hàng một khi bị sụp, thì Mỹ chủ động thông qua một mother bailout làm trọn gói luôn và đỡ phải chạy theo từng ngân hàng khi sụp.

    Mỹ còn mạnh tay hơn Châu Âu khi hôm qua FED tuyên bố tăng gấp đôi số tiền TAF (Term Auction Facility ) lên đến 900 tỉ đô la để khuyến khích các ngân hàng cho vay.

    Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là bailout của Mỹ được thông qua đúng thời cơ. Nếu nói được thông qua hai tuần trước đây ngay khi TED đề nghị thì có lẽ sẽ không có cái thứ hai tồi tệ như ngày hôm qua. Chỉ một ngày chậm là thị trường đã khác đi rất nhiều vì hiện nay thị trường tài chính bị điều khiển bởi fear factor là chính và nếu chậm một ngày thì fear factor sẽ bị priced-in into stocks and business plan và cứ thế lan rộng.

    Fear factor dường như tác động mạnh hơn ở thị trường Châu Á. Bất chấp sự lành mạnh và tinh thanh khoản cao ở các nước Châu Á, các hedge funds dường như đã quá tay khi xả hàng ồ ạt, nhất là trong các lĩnh vực sản xuất xuất khẩu và commodity market vì họ dự đoán nhu cầu ở các thị trường lớn như Châu Âu và Mỹ sẽ giảm và vì vậy tăng trưởng trong các ngành này ở Châu Á sẽ giảm. Với sự xả hàng ào ạt như vậy, về thực chất là thị trường chứng khoáng Châu Á nói chung là oversold. Đây là thời điểm tốt để mua vào vì các fundemetals của các nước Châu Á như TQ, Ấn độ, kể cả Việt Nam là tốt. Fear factor đã có tác đông quá đà.

    Cái đáng lo ngại ở thị trường tài chính tiền tệ Châu Á là sự phá giá của đồng nội tệ trong giai đoạn ngắn hiện nay khi chương trình bailout 700 tỉ chưa thực sự được thực hiện. Mỹ hiện nay, thay vì trở thành nơi in tiền cho toàn bộ thế giới, đã biến thành một nam châm hút tiền khổng lồ.

    Do bên bờ vực phá sản, các chi nhánh ngân hàng, công ty của Mỹ và Châu Âu co cụm vốn về nước. Tỉ lệ guarantee cho người gửi tăng lên đến 250.000 cũng khiến đồng đô la kéo từ mọi nơi về Mỹ vì đây chỗ trú ẩn an toàn hơn so với các nơi, nhất là Châu Á khi khoản bảo đảm tiền gửi không thể bao bằng Mỹ. Ngoài ra, các TED bills cũng là option an toàn cho dù với lãi xuất thấp. Vì vậy, bất chấp lãi xuất thấp và khả năng FED sẽ hạ tiếp lãi xuất khiến lãi xuất của Mỹ sẽ thấp nhất trong G-7, sau Nhật, thì đồng đô la vẫn tiếp tục bị hút về Mỹ.

    Trong khi đó, một số nước đang phát triển tăng cường mua đô la đẻ cũng cố dự trữ ngoại tệ của mình. Điều này dẫn đến nghịch lý là trong khi Mỹ bị khủng hoảng thì đô la lại lên giá so với các đồng nội tệ khác (nếu so với vàng, đô la vẫn bị mất giá).

    Hôm qua đồng đô la lên giá mạnh nhất trong vòng 8 tháng. Các nước Châu Á bị tác động rất mạnh. Điển hình là Hàn quốc khi ngân hàng trung ương phải tung hàng tỉ đô la để giữ cho đồng nội tệ khỏi bị phá giá quá mức.

    Vì vậy, trong cơn địa chấn này, những hành động quá mạnh của Mỹ tạo ra một cơn lốc cuốn đồng đô la ào ào về Mỹ, khiến các đồng nội tệ khác sụt giá thảm hại. Đây là nét đặc thù của khủng hoảng lần này.

    Cơn lốc này cũng xuất hiện ở Châu Âu khi do thiếu sự phối hợp đồng bộ, một số ngân hàng TW có bảo lãnh tiền gửi cao hơn, và vì vậy, người gửi ở các nước thành viên khác ào ạt gửi tiền vào những nơi có bảo lãnh tiền gửi cao.

    Lại một lần nữa nó đặt ra vấn đề phối hợp giữa các ngân hàng trung ương và chính phủ. Điều đáng buốn là đề nghị của TTg Pháp về một cuộc họp thượng đỉnh Châu Âu sau đó mở rộng ra toàn cầu bị Đức bác bỏ.

    Cho dù một cuộc họp thượng đỉnh hoặc một cuộc họp khẩn cấp như vậy có thể chưa đem lại điều gì về vật chất để đối phó với khủng hoảng. Nhưng ít nhất nó gửi đi một tín hiệu về quyết tâm của các nước hành động trong một concerted maner rather than piece-meal efforts at the expense of others.

    Trong bối cảnh trên, cuộc họp thường niên IMF-World Bank tại Mỹ ngày 10-13 October và cuộc họp G-7 bên lề ngày 10 October sẽ là nơi lý tưởng để toàn bộ các ngân hàng trung ương thế giới ra một tuyên bố chung/chính sách chung về khủng hoảng toàn cầu. Đây cũng là thời điểm để Mỹ và các nước G-7 chứng minh cho thế giới vai trò lãnh đạo kinh tế của họ. Câu hỏi cũng đặt ra là cơ chế giám sát kinh tế toàn cầu hiện nay có hợp lý không vì khủng hoảng này cho thấy toàn bộ các cơ chế giám sát toàn cầu đã không hoạt động gồm IMF hay G-7. IMF có điều kiện về pháp lý vì là tổ chức toàn cầu nhưng lại không đủ uy tín và lực. Trong khi G-7 có uy tín, có lực, thì lại thiếu vắng những nền kinh tế quan trọng như TQ, Brazil, Ấn Độ, và Nga.

    BÃO SUY THOÁI ĐÃ VÀO KHU VỰC ĐÔNG NAM Á (ĐNA)

    Quay trở lại trong khu vực ĐNA. Bão đã tràn vào trong khu vực. Indonesia lại là nước hứng chịu đầu tiên. Tuy nhiên, khác với năm 1997, các nền kinh tế ASEAN ở trong tình trạng sẵn sàng đối phó với điều kiện tốt hơn hẳn. Dự trữ ngoại hối của các ngân hàng TW đủ mạnh để đập tan bất cứ speculative attack nào. Không những thế, cơ chế hoán đổi ASEAN+3 cũng là một hàng rào phòng thủ tiếp theo tạo điều kiện cho các nước đương đầu với khủng hoảng. Nhìn chung, real economy vẫn hoạt động tốt, không bị ảnh hưởng. Individial wealth ít bị tác động vì thế domestic consumptino là mạnh. Khu vực ĐNA không có các buble lớn như BDS, chứng khoán. Một số nước với buble như Signapore, Việt Nam, Thái Lan thì đã ở trong giai đoạn cuối, đó là các ngân hàng đã có thời gian chuẩn bị để đối phó. Tóm lại, buble BDS và chứng khoán của khu vực đã được xì ra từ đầu năm. Các buble này cũng không tác động đến real economy và individual wealth. Nói cách khác, tác động của BDS và CK lên các nền kinh tế DNA là hạn chế và chỉ một số người bị ảnh hưởng trực tiếp.

    Nguy cơ lớn nhất với các nước ĐNA vẫn là lạm phát, nội tệ mất giá. Tuy nhiên, với các nền kinh tế tăng trưởng quá nóng như Việt Nam, cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay khiến commodity prices giảm nhiều, trong đó có xăng dầu, đã khiến các yếu tố kéo lạm phát giảm rất nhiều.

    Một điểm thuận lợi nữa của ĐNA là các nhà đầu tư lớn như Nhật, EU đã nhắm vào khu vực và lên chiến lược đầu tư dài hạn trong 10 năm tới. Trong ĐNA, Nhật nhằm mạnh nhất vào Việt Nam. Chiến lược đầu tư vào Việt Nam của Nhật là nhất quán từ CP cho đến các tập đoàn lớn. Các động thái của Nhật rất rõ ràng và kiên quyết. Cho dù trong bất cứ hoàn cảnh nào thì Việt Nam vẫn sẽ là nơi Nhật re-allocate sản xuất của họ. Sắp tới sẽ có thể diễn ra những thương vụ M&A lớn ở Nhật và ở Việt Nam trong chiến lược đầu tư của Nhật. Hôm qua, Nhật cũng sát nhập JICA và JBIC vào thành một quỹ viện trợ ODA khổng lồ. Mục tiêu của quỹ này cũng là nhắm vào DNA, trong đó Viêt Nam vì chiến lược đầu tư của Nhật bao giờ cũng đi kèm với sự đổ bộ dọn đường của ODA.

    Nói rộng ra, trong lúc khủng hoảng diễn ra từng ngày từng giờ, rất cần có sự phối hợp giữa các nước thì chưa bao giờ nội bộ ASEAN lại bấn loạn như bây giờ. Nói cách khác, ASEAN đang có một cuộc khủng hoảng chính trị. Xung đột Thái Lan và Campuchia (note:mình sữa lại cho chính xác) đã dẫn đến những cuộc đụng độ vũ trang có đổ máu. Nội bộ Thái Lan tiếp tục chìm trong biểu tình bạo lực. Tranh chấp quần đảo Saba giữa Phillipines và Malaysia lại bùng phát. Chính phủ Philippines cấm toàn bộ máy bay bay qua không phận của Philippines đến Saba.

    Đây là một việc hết sức đáng buồn. Vào năm 1997 khi khủng hoảng tài chính xảy ra, ASENA đã có cuộc họp thượng đỉnh khẩn cấp để bàn cách đối phó, và đã đẻ ra sáng kiến Chiang Mai initiative về thỏa thuận hoán đổi. Năm 2003 khi đại dịch SARS bùng nổ, ASEAN đã phản ứng rất nhanh cũng với một cuộc họp thượng đỉnh khẩn cấp do Thái Lan triệu tập. Kết quả là một chương trình hành động và một quỹ được thành lập.

    Hiện nay ASEAN đang phải đối đầu với một cuộc khủng hoảng từ bên ngoài tràn vào. Cho dù fundementals của các nước ASEAN là hoàn toàn lành mạnh, tuy nhiên với một cuộc khủng hoảng có thể nói là the mother of all economic crisis như hiện nay thì ASEAN phải có ứng phó kịp thời.

    Tuy nhiên, các nước lãnh đạo của ASEAN đang bị các mâu thuẫn chính trị giằng xé cả trong lẫn ngoài. Thậm chí cuộc họp cấp cao ASEAN năm nay, đáng ra dự kiến tổ chức ở Thái Lan, biết đâu lại phải dời đến Việt Nam. Với điều kiện chính trị bất ổn như hiện nay ở Thái Lan từ nay đến cuối năm (trong nước thì bạo lực, ngoài nước thì tranh chấp biên giới) thì không biết Thái Lan có tổ chức được không.

    Nếu không thì sẽ phải đến lượt Việt Nam vì theo trật tự alphabetical order. Nhìn đi nhìn lại thì trong ASEAN hiện nay, có lẽ Việt Nam tạm thời là nơi tương đối bình yên giữa biển trời xáo động này.

    Trong sự thiếu vắng một nước đưa ra các sáng kiến hợp tác khu vực để đối phó với khủng hoảng, nên chăng Việt Nam có một sáng kiến gì đó trong lúc này. Tất nhiên các bác CP hiện nay chắc cũng đang bấn lên rồi hơi đâu mà sáng kiến. Nhưng nếu làm được vẫn có lợi, cho dù chỉ là một đề nghị để ít nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài thấy Việt Nam vẫn là nơi tương đối an toàn.

    Còn tiếp
  2. rooney25

    rooney25 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/08/2008
    Đã được thích:
    513
    VIỆT NAM SẼ BỊ TÁC ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO?

    Rất khó dự đoán một cách chính xác trên cơ sở đo đếm được tác động của suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính của Mỹ với Việt Nam.

    Thứ nhất, nếu nhìn nhận từ góc độ kinh tế vĩ mô, các chỉ số kinh tế đều đã được ổn định, thặng dư tài khóa là khoảng 1.5% trên GDP, thu ngân sách tăng 10%,thâm hụt thương mại được giảm,FDI tăng gần gấp đôi, nợ nước ngoài ở mức an toàn (30% GDP), dự trữ ngoại hối tăng, lạm phát có xu hướng giảm?.Tóm lại là tổng cán cân thanh toán của Việt Nam hiện nay ở mức an toàn (Toàn bộ số liệu được lấy ở các báo cáo Outlook của WB, ADB, Bloomberg).

    Thứ hai, nguy cơ chính của kinh tế việt nam vẫn là lạm phát, và nguy cơ này vẫn sẽ tiếp tục trong năm 2009. Lạm phát của việt nam là do cả hai yếu tố bên ngoài (cost push) và bên trong (demand-pull).

    Nếu căn cứ trên hai yếu tố đó để dự đoán thì cost push sẽ giảm trong năm 2009 do giá dầu trên thế giới giảm. Vào đầu năm 2009, nhà máy lọc dầu Dung Quất dự kiến sẽ được đưa vào hoạt động nên sẽ tiếp tục làm giảm bớt gánh nặng lên ngân sách và hạn chế yếu tố cost-push với lạm phát.

    Yếu tố hai là demand-pull cũng đã và sẽ tiếp tục bị hạn chế vì với lãi xuất cao, nguồn vốn trôi nổi bị hút vào ngân hàng làm giảm chi tiêu.

    Tất nhiên đồng nghĩa với lạm phát giảm là tăng trưởng giảm, không thể một mặt vừa chống lạm phát và một mặt lại duy trì tăng trưởng được. Dự đoán tăng trưởng của Viêt Nam là 6.5% trong năm 2009. Con số QH đặt ra 7% là ảo tưởng.

    Trong ba lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, và dịch vụ thì tăng trưởng trong công nghiệp là sụt giảm mạnh nhất, tiếp theo là nông nghiệp. Dịch vụ có xu hướng tăng nhưng không đáng kể. Sự sụt giảm tăng trưởng trong các lĩnh vực là nhất quán với sự sụt giảm tăng trưởng chung của toàn quốc.

    Thứ ba, về trung hạn và dài hạn cái đáng lo ngại nhất với kinh tế việt nam là SMEs, sương sống và động lực phát triển kinh tế. Cần có cái hiểu đúng về SMEs. Nếu phân theo lao động, DN nhỏ là DN có lao động dưới 200 lao động. DN vừa là DN có lao động từ 200 đến 1000. DN lớn là trên 1000.

    Hầu hết các DN nhỏ Việt Nam, và một phần DN vừa đã không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng kể từ trước trước đây rất nhiều năm chứ không phải đợi đến khi lãi xuất tăng đến hơn 20% như hiện nay họ mới gặp khó khăn. Vì vậy, quan điểm rằng các DN nhỏ và vừa của Viêt Nam gặp khó khăn vì gần đây nhà nước tăng lãi xuất là chưa chính xác lắm.

    Trong vòng 10 năm qua, vấn đề tiếp cận SMEs tiếp cận nguồn vốn ngân hàng luôn là vấn đề gây tranh cãi rất lớn ở Việt Nam. Hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam từ trước đây đã ít có hỗ trợ với các SMEs. Ngay cả ngân hàng phát triển nông thôn cũng chỉ dành một phần rất nhỏ để hỗ trợ SMEs. Vì vậy cách đây hai năm, NGHH Việt Nam đã tập trung xây dựng một điều luật để hỗ trợ SMEs.

    Nguồn vốn chính của SMEs từ trước tới nay vẫn là các informal funding sources, một số từ các tổ chức phi chính phủ. Ỏ đây tôi không bàn sâu về vấn đề này vì có ít liên quan đến chủ đề đang được đề cập. Tuy nhiên, nói như vậy để thấy ý kiến cho rằng việc tăng lãi xuất để hạn chế lạm phát sẽ ảnh hưởng đến nhiều SMEs là không chính xác vì bản thân SMEs đã chịu cảnh thiếu vốn từ hàng chục năm nay rồi.

    Cái tác động mạnh nhất với SMEs không phải là lãi xuất mà là lạm phát. Thông thường thị trường của các SMEs là thị trừong trong nước. Đầu ra và đầu vào của SMEs đều phụ thuộc vào giá cả trong nước là chính vì họ ít xuất khẩu. Vì vậy, nếu lạm phát tăng thì SMEs sẽ hứng chịu tác động nhiều nhất và sẽ phải đóng cửa nhiều nhất.

    Với các DN có trên 1000 lao động, thì thường được đánh giá là có credit worthiness vì vậy họ tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng. Đây mới là các DN bị ảnh hưởng mạnh trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, điều đáng nói là các DN tư nhân có số lượng CN trên 1000 ở Việt Nam là không nhiều so với các SMEs. Vì vậy tác động về mặt lao động sẽ ít và hạn chế hơn so với SMEs.

    Từ điểm phân tích trên, cho ta thấy nếu lấy chỉ số lao động làm chỉ số chính để so sánh tác động của lạm phát và lãi xuất cao thì ta sẽ thấy rất rõ là lạm phát sẽ có ảnh hưởng tiêu cực nhiều đến SMEs hơn rất nhiều so với lãi xuất. Vì bản thân SMEs đã chịu cảnh thiếu vốn trong hàng chục năm nay và nếu lạm phát tăng thì họ sẽ phải đóng cửa hàng loạt, chứ không phải lãi xuất tăng.

    Một điểm khác nữa với phần nhiều lao động của SMEs với các DN lớn là phần lớn các lao động là seasonal workers. Thu nhập của họ là sự kết hợp giữa salaried work và sản xuất nông nghiệp vì phần lớn họ còn ruộng. Do vậy, kể cả trong trưởng hợp phần salaried work của họ bị giảm, họ vẫn duy trì được earnings from farm work.

    Do vậy, nếu trọng tâm ưu tiên của Việt Nam để bảo vệ người lao động trong thời gian crisis và ẻmgency này thì là các DN tư nhân lớn, công nhân ở các Liên Doanh với nước ngoài, và thậm chí cả công nhân các tập đoàn nhà nước.

    Thứ tư, quả bóng BDS của Việt Nam đã được xì hơi. Điểm may mắn ở đây là nó được xì hơi rất sớm, chứ nếu nó nổ vào thời điểm này thì là điều đáng ngại. Tháng 9 và tháng 10 hiện nay là thời điểm dân BDS gọi là giải chấp. Hàng loạt dự án BDS sẽ bị bán ra. Các ngân hàng dính vào vụ BDS này hiển nhiên là gặp khó khăn chồng chất rồi. Tỉ lệ nợ BDS là khoảng 30%. Tuy nhiên, đây sẽ là một soft landing vì thị trường BDS và các ngân hàng đã có hơn 6 tháng để factor-in các tác động của nó.

    Bác nào còn mối lo về BĐS và lãi suất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì yên tâm rồi nhé , tất cả đã có câu trả lời từ trên ...
  3. Blues_aof

    Blues_aof Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    22/03/2006
    Đã được thích:
    4
    Khủng hoảng chó gì, mấy ông SBV thử cắt giảm LSCB tầm 1% xem, lên ầm ầm ngay
  4. quy_hoa_bao_dien

    quy_hoa_bao_dien Super Moderator Thành viên ban quản trị

    Tham gia ngày:
    10/03/2008
    Đã được thích:
    130
    Mịa ku này rỗi việc đíu chịu, chạy lên sàn mà tranh mua đi ngồi đây khấn làm đíu gì. Khấn nữa thì vưỡn xanh. Hê hê

Chia sẻ trang này