Lộ diện tên ngân hàng vay liên ngân hàng không trả gần 400 tỷ.

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi ACL8x, 30/11/2011.

1093 người đang online, trong đó có 437 thành viên. 11:13 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 16061 lượt đọc và 140 bài trả lời
  1. ACL8x

    ACL8x Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    06/05/2010
    Đã được thích:
    1
    Thứ Tư, 30/11/2011 | 09:42

    Đọc sách | Thảo luận: 0 | A A A
    Góc nhìn Nhà đầu tư:
    Một góc nhìn khác về tái cơ cấu hệ thống ngân hàng

    (*********) – Thời gian gần đây, tái cơ cấu ngân hàng (NH) đang trở thành mục tiêu cấp bách trong bối cảnh hệ thống ngân hàng Việt Nam đối mặt với khó khăn về thanh khoản và nợ xấu tăng cao. Tuy nhiên, nếu đặt khó khăn về thanh khoản khi tái cơ cấu ở các NH nhỏ lên hàng đầu thì dường như chưa ổn.

    http://*********.vn/ImageView.aspx?ThumbnailID=50813

    Theo quan điểm của tôi, mặc dù các NH nhỏ gặp khó khăn về thanh khoản vì không thể huy động nhiều nhưng nợ cho vay lại khá minh bạch về độ rủi ro. Cho vay ở đây được hiểu theo khái niệm kinh doanh tiền tệ, thế chấp sòng phẳng - khác với các “đại ngân hàng” cho vay vẫn còn mang đậm nét “hỗ trợ phát triển kinh tế”, tín chấp với các doanh nghiệp Nhà nước, điển hình là 7 tổng công ty có thể vay vốn gấp 10 lần vốn điều lệ.
    Mặt khác, do vốn huy động ít, dễ mất thanh khoản nên nợ xấu NH nhỏ dễ lộ diện, khó ẩn giấu lâu ngày đến nổi ‘phình to” nên việc xử lý NH nhỏ với tổng tài sản không lớn sẽ không ảnh hưởng nhiều đến cục diện chung.
    Còn đối với các “đại ngân hàng”, tuy không thiếu thanh khoản vì huy động được nhiều vốn, nhất là tiền gởi các cơ quan đơn vị Nhà nước, nhưng “thấp thoáng” sau các vụ bể nợ lớn đều có “nợ xấu” của các đại ngân hàng. Do vốn huy động nhiều nên việc “giấu nợ xấu lâu ngày” có thể thực hiện được. Việc tích tụ nợ xấu tại các đại ngân hàng nếu không được minh bạch và xử lý dần sẽ gia tăng mâu thuẫn về khả năng thanh khoản trong tương lai và ảnh hưởng đáng kể đến cục diện chung.
    Vì thế, nên nhìn tái cơ cấu ở góc độ lành mạnh hóa hoạt động tín dụng (bao gồm huy động và cho vay) của hệ thống NH. Hay nói cách khác là không để “nợ xấu” phát sinh ở khoản vay mới, đồng thời minh bạch hóa các khoản nợ xấu lộ diện và “đang còn được giấu” để xử lý dần theo hướng thu hẹp quy mô, tiến dần đến một tỷ lệ nợ xấu cho phép.
    Muốn thực hiện điều này, chúng ta cần phân tích những cơ chế, nguyên nhân sản sinh ra tình hình nợ xấu, đồng thời cần vận dụng những biện pháp đặc biệt để xử lý. Theo tôi, một số cơ chế có thể được đưa ra xem xét với góc độ là nguyên nhân gây ra nợ xấu:
    Một là cho vay thực hiện dự án với thế chấp là chính dự án đó. Nếu dự án thất bại, kinh doanh không hiệu quả thì nợ xấu khó thu hồi vì không ai nhận sang nhượng dự án thất bại đó. Việc triển khai dự án nên là vốn tự có, không nên là vốn vay. Thực tế chỉ ra rằng nếu doanh nghiệp dùng vốn vay để đầu tư một nhà máy xi măng và thế chấp bằng chính nhà máy đó thì NH sẽ mất vốn đáng kể khi nhà máy thua lỗ.
    Hai là cho vay phải có thế chấp bằng bất động sản dễ thanh khoản và có giá trị đảm bảo thu hồi nợ. Việc nhận thế chấp kho hàng, động sản có thể dẫn NH đến mất trắng như vụ việc 5 ngân hàng cùng nhận thế chấp kho thủy sản tại Cần Thơ hoặc tàu Hoa Sen mua vào hơn 1 ngàn tỷ nhưng bán lại chỉ dưới 1 trăm tỷ đồng.
    Ngoại trừ cho vay nông nghiệp, nông thôn, việc NH nhận thế chấp bằng những mảnh đất xa xôi khó bán (mơ hồ trong việc định giá – dẫn đến khó bán và thất thoát vốn khi thanh lý), thế chấp bằng tài sản là những máy móc thiết bị (ranh giới giữa giá thiết bị khi sản xuất có lãi và giá thanh lý phế liệu khi máy móc lạc hậu, sản xuất gây lỗ là quá lớn), thế chấp bằng kiến trúc xí nghiệp khó định giá sẽ dẫn NH đến việc ôm thế chấp trong khi phải trả lãi huy động vốn đều đặn. Do vậy, NH chỉ nên nhận thế chấp đất đô thị theo bảng giá Nhà nước thì sẽ hạn chế rủi ro.
    Theo tôi, đã đến lúc ngưng cơ chế tín chấp nếu muốn NH đảm bảo thu được nợ. Và trong tình hình này, cũng nên tạm ngưng việc định giá tài sản theo giá thị trường và do nhân viên NH tự định nhằm hạn chế những hậu quả xấu từ vấn đề “đạo đức nghề nghiệp” của một số nhân viên NH.
    Ba là hạn chế cho vay mặt hàng, ngành hàng đang bị đầu cơ, bong bóng giá. Trước thực trạng giá bất động sản bị đầu cơ, cầu ảo thì lẽ ra nên hạn chế tín dụng vào lĩnh vực này từ vài năm trước.
    Bốn là không nên cho vay chỉ dựa vào tài sản thế chấp mà mục đích kinh doanh không rõ ràng nhằm tránh việc người vay dùng tiền cho vay lại lãi suất cao, sẽ dẫn đến vỡ nợ. Đằng sau các vụ bể hụi, tín dụng đen xảy ra thời gian qua phần lớn là tiền vay ngân hàng.
    Năm là không cho vay qua môi giới. Với loại hình này người vay nợ được “dịch vụ” lo hết thủ tục, chỉ ký tên và nhận tiền tại NH. Loại hình này thường là người có nhà nhưng không kinh doanh (giấy phép kinh doanh chỉ là thuần đăng ký cho hợp thủ tục). Họ đứng ra vay vốn rồi giao lại cho người môi giới kinh doanh tiền để nhận một tỷ lệ lãi hàng tháng với khái niệm “nhà mình vẫn ở, sổ đỏ NH giữ dùm, có tiền lãi hàng tháng” nhưng trên thực tế số tiền trên đi vào tín dụng đen. Khi bể nợ, việc thu hồi của NH sẽ gặp tranh chấp, khó khăn.
    Sáu là cần có một mặt bằng lãi suất phù hợp để người vay có khả năng kinh doanh hiệu quả, đủ trả lãi vay. Lãi suất quá cao thời gian qua là nguyên nhân lớn đối với nợ xấu.
    Bảy là các NH không nên được tự đầu tư (mua bán chứng khoán, góp vốn vào các công ty hay kinh doanh bất động sản…). Vốn chủ sở hữu chỉ dùng để bổ sung nguồn cho vay nhằm đảm bảo cân đối thanh khoản và bù đắp rủi ro.
    Đối với việc thu hẹp quy mô nợ xấu hiện hữu, NHNN cần tổng rà soát các khoản cho vay lớn, các khoản đầu tư lớn của từng NH, nhằm phát hiện và buộc NH phải thực hiện thanh lý tài sản thế chấp thu hồi nợ. Mục đích của việc này là nhằm tránh lãi vay phát sinh quá lớn dẫn đến thiếu hụt thanh toán nợ, đồng thời phải trích lập dự phòng rủi ro ngay với các khoản nợ có khả năng mất vốn. Thực hiện lành mạnh hóa tình hình tài chính dần với mọi NH, tránh để tình trạng NH giấu nợ xấu, dùng lãi phân phối hết cho cổ đông, khi lộ diện mất vốn lớn thì không đủ nguồn bù đắp. Trường hợp ABBank hạch toán lỗ trong quý 3/2011 nhằm trích lập dự phòng rủi ro là trường hợp cần nhân rộng trong việc tái cơ cấu NH hiện nay.
    Sông Ray




    Góc nhìn Nhà đầu tư:
    Một góc nhìn khác về tái cơ cấu hệ thống ngân hàng

    (*********) – Thời gian gần đây, tái cơ cấu ngân hàng (NH) đang trở thành mục tiêu cấp bách trong bối cảnh hệ thống ngân hàng Việt Nam đối mặt với khó khăn về thanh khoản và nợ xấu tăng cao. Tuy nhiên, nếu đặt khó khăn về thanh khoản khi tái cơ cấu ở các NH nhỏ lên hàng đầu thì dường như chưa ổn.

    http://*********.vn/ImageView.aspx?ThumbnailID=50813

    Theo quan điểm của tôi, mặc dù các NH nhỏ gặp khó khăn về thanh khoản vì không thể huy động nhiều nhưng nợ cho vay lại khá minh bạch về độ rủi ro. Cho vay ở đây được hiểu theo khái niệm kinh doanh tiền tệ, thế chấp sòng phẳng - khác với các “đại ngân hàng” cho vay vẫn còn mang đậm nét “hỗ trợ phát triển kinh tế”, tín chấp với các doanh nghiệp Nhà nước, điển hình là 7 tổng công ty có thể vay vốn gấp 10 lần vốn điều lệ.
    Mặt khác, do vốn huy động ít, dễ mất thanh khoản nên nợ xấu NH nhỏ dễ lộ diện, khó ẩn giấu lâu ngày đến nổi ‘phình to” nên việc xử lý NH nhỏ với tổng tài sản không lớn sẽ không ảnh hưởng nhiều đến cục diện chung.
    Còn đối với các “đại ngân hàng”, tuy không thiếu thanh khoản vì huy động được nhiều vốn, nhất là tiền gởi các cơ quan đơn vị Nhà nước, nhưng “thấp thoáng” sau các vụ bể nợ lớn đều có “nợ xấu” của các đại ngân hàng. Do vốn huy động nhiều nên việc “giấu nợ xấu lâu ngày” có thể thực hiện được. Việc tích tụ nợ xấu tại các đại ngân hàng nếu không được minh bạch và xử lý dần sẽ gia tăng mâu thuẫn về khả năng thanh khoản trong tương lai và ảnh hưởng đáng kể đến cục diện chung.
    Vì thế, nên nhìn tái cơ cấu ở góc độ lành mạnh hóa hoạt động tín dụng (bao gồm huy động và cho vay) của hệ thống NH. Hay nói cách khác là không để “nợ xấu” phát sinh ở khoản vay mới, đồng thời minh bạch hóa các khoản nợ xấu lộ diện và “đang còn được giấu” để xử lý dần theo hướng thu hẹp quy mô, tiến dần đến một tỷ lệ nợ xấu cho phép.
    Muốn thực hiện điều này, chúng ta cần phân tích những cơ chế, nguyên nhân sản sinh ra tình hình nợ xấu, đồng thời cần vận dụng những biện pháp đặc biệt để xử lý. Theo tôi, một số cơ chế có thể được đưa ra xem xét với góc độ là nguyên nhân gây ra nợ xấu:
    Một là cho vay thực hiện dự án với thế chấp là chính dự án đó. Nếu dự án thất bại, kinh doanh không hiệu quả thì nợ xấu khó thu hồi vì không ai nhận sang nhượng dự án thất bại đó. Việc triển khai dự án nên là vốn tự có, không nên là vốn vay. Thực tế chỉ ra rằng nếu doanh nghiệp dùng vốn vay để đầu tư một nhà máy xi măng và thế chấp bằng chính nhà máy đó thì NH sẽ mất vốn đáng kể khi nhà máy thua lỗ.
    Hai là cho vay phải có thế chấp bằng bất động sản dễ thanh khoản và có giá trị đảm bảo thu hồi nợ. Việc nhận thế chấp kho hàng, động sản có thể dẫn NH đến mất trắng như vụ việc 5 ngân hàng cùng nhận thế chấp kho thủy sản tại Cần Thơ hoặc tàu Hoa Sen mua vào hơn 1 ngàn tỷ nhưng bán lại chỉ dưới 1 trăm tỷ đồng.
    Ngoại trừ cho vay nông nghiệp, nông thôn, việc NH nhận thế chấp bằng những mảnh đất xa xôi khó bán (mơ hồ trong việc định giá – dẫn đến khó bán và thất thoát vốn khi thanh lý), thế chấp bằng tài sản là những máy móc thiết bị (ranh giới giữa giá thiết bị khi sản xuất có lãi và giá thanh lý phế liệu khi máy móc lạc hậu, sản xuất gây lỗ là quá lớn), thế chấp bằng kiến trúc xí nghiệp khó định giá sẽ dẫn NH đến việc ôm thế chấp trong khi phải trả lãi huy động vốn đều đặn. Do vậy, NH chỉ nên nhận thế chấp đất đô thị theo bảng giá Nhà nước thì sẽ hạn chế rủi ro.
    Theo tôi, đã đến lúc ngưng cơ chế tín chấp nếu muốn NH đảm bảo thu được nợ. Và trong tình hình này, cũng nên tạm ngưng việc định giá tài sản theo giá thị trường và do nhân viên NH tự định nhằm hạn chế những hậu quả xấu từ vấn đề “đạo đức nghề nghiệp” của một số nhân viên NH.
    Ba là hạn chế cho vay mặt hàng, ngành hàng đang bị đầu cơ, bong bóng giá. Trước thực trạng giá bất động sản bị đầu cơ, cầu ảo thì lẽ ra nên hạn chế tín dụng vào lĩnh vực này từ vài năm trước.
    Bốn là không nên cho vay chỉ dựa vào tài sản thế chấp mà mục đích kinh doanh không rõ ràng nhằm tránh việc người vay dùng tiền cho vay lại lãi suất cao, sẽ dẫn đến vỡ nợ. Đằng sau các vụ bể hụi, tín dụng đen xảy ra thời gian qua phần lớn là tiền vay ngân hàng.
    Năm là không cho vay qua môi giới. Với loại hình này người vay nợ được “dịch vụ” lo hết thủ tục, chỉ ký tên và nhận tiền tại NH. Loại hình này thường là người có nhà nhưng không kinh doanh (giấy phép kinh doanh chỉ là thuần đăng ký cho hợp thủ tục). Họ đứng ra vay vốn rồi giao lại cho người môi giới kinh doanh tiền để nhận một tỷ lệ lãi hàng tháng với khái niệm “nhà mình vẫn ở, sổ đỏ NH giữ dùm, có tiền lãi hàng tháng” nhưng trên thực tế số tiền trên đi vào tín dụng đen. Khi bể nợ, việc thu hồi của NH sẽ gặp tranh chấp, khó khăn.
    Sáu là cần có một mặt bằng lãi suất phù hợp để người vay có khả năng kinh doanh hiệu quả, đủ trả lãi vay. Lãi suất quá cao thời gian qua là nguyên nhân lớn đối với nợ xấu.
    Bảy là các NH không nên được tự đầu tư (mua bán chứng khoán, góp vốn vào các công ty hay kinh doanh bất động sản…). Vốn chủ sở hữu chỉ dùng để bổ sung nguồn cho vay nhằm đảm bảo cân đối thanh khoản và bù đắp rủi ro.
    Đối với việc thu hẹp quy mô nợ xấu hiện hữu, NHNN cần tổng rà soát các khoản cho vay lớn, các khoản đầu tư lớn của từng NH, nhằm phát hiện và buộc NH phải thực hiện thanh lý tài sản thế chấp thu hồi nợ. Mục đích của việc này là nhằm tránh lãi vay phát sinh quá lớn dẫn đến thiếu hụt thanh toán nợ, đồng thời phải trích lập dự phòng rủi ro ngay với các khoản nợ có khả năng mất vốn. Thực hiện lành mạnh hóa tình hình tài chính dần với mọi NH, tránh để tình trạng NH giấu nợ xấu, dùng lãi phân phối hết cho cổ đông, khi lộ diện mất vốn lớn thì không đủ nguồn bù đắp. Trường hợp ABBank hạch toán lỗ trong quý 3/2011 nhằm trích lập dự phòng rủi ro là trường hợp cần nhân rộng trong việc tái cơ cấu NH hiện nay.
    Sông Ray
  2. ACL8x

    ACL8x Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    06/05/2010
    Đã được thích:
    1
    Thứ Tư, 30/11/2011 | 09:32

    Đọc sách | Thảo luận: 0 | A A A
    Tái cấu trúc ngân hàng: Thời cơ cải tổ toàn diện

    Nên bắt đầu tái cấu trúc hệ thống NHTM từ đâu và cần tập trung vào những vấn đề nào? Để giải đáp những câu hỏi này, phóng viên Thời báo Ngân hàng đã có cuộc phỏng vấn ông Phạm Hồng Hải - Giám đốc Kinh doanh vốn và thị trường tiền tệ - Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC Việt Nam.

    Tái cấu trúc hệ thống NHTM trong bối cảnh kinh tế vĩ mô còn nhiều bất ổn phải chăng là một thách thức lớn?
    Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại Việt Nam hiện là một việc hết sức cấp bách và cần thiết. Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển lành mạnh khi được sự hỗ trợ của một hệ thống ngân hàng khỏe mạnh. Diễn biến của khủng hoảng tài chính toàn cầu, những ảnh hưởng của nó tới Việt Nam và bản thân các khó khăn nội tại của nền kinh tế Việt Nam cho thấy, đây là thời cơ để tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng một cách toàn diện nhất. Nếu nền kinh tế phát triển tốt và vẫn thuận lợi như trước đây, đòi hỏi tái cấu trúc hệ thống ngân hàng sẽ không thực sự bức thiết đến như vậy.
    Chủ trương, chính sách và hoàn cảnh thị trường đã rất thuận lợi cho sự cải tổ về cơ bản hệ thống ngân hàng Việt Nam. Điều quan trọng là quyết tâm và sự kiên định trong quá trình thực hiện. Vấn đề đặt ra hiện nay là lựa chọn cách thức tái cấu trúc như thế nào để hiệu quả cao nhất và không gây xáo trộn cho hệ thống ngân hàng.
    Quá trình tái cấu trúc ngân hàng nên bắt đầu từ đâu, thưa ông?
    Theo tôi, cần phải làm rõ các phân khúc thị trường cho từng loại ngân hàng; xây dựng tiêu chí tái cấu trúc và minh bạch hóa tình hình tài chính của các ngân hàng trước khi tiến hành tái cấu trúc. Sự minh bạch này sẽ đóng góp vào việc xác định giá trị thực sự của các khoản nợ xấu.
    Tái cấu trúc ngân hàng cũng nên đi cùng với tái cấu trúc nợ doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần hỗ trợ cho ngân hàng yếu để tránh một cuộc khủng hoảng tín dụng trong ngắn hạn cũng như hạn chế nguy cơ khủng hoảng về tâm lý trong dài hạn; sau đó mới xử lý vấn đề chuyển quyền sở hữu. Ngoài ra, một trong những điểm cũng rất quan trọng là kế hoạch tái cấu trúc của NHNN cần được công khai và các hành động phải kiên quyết.
    Và tái cấu trúc cần phải tập trung vào những nội dung nào?
    Theo tôi, có 4 vấn đề trọng yếu cần tập trung trong quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM, gồm: Thứ nhất, liên quan đến số lượng và quy mô của các ngân hàng trong nền kinh tế Việt Nam. Thực tế cho thấy, số lượng ngân hàng hiện nay vừa thừa nhưng lại vừa thiếu. Thừa do có quá nhiều ngân hàng (hơn 100 ngân hàng) phục vụ cho nền kinh tế với quy mô dân số và mức độ phát triển như hiện nay, trong khi lại thiếu các ngân hàng lớn và hoạt động hiệu quả. Mua bán, sáp nhập sẽ là "công cụ lọc" để hình thành nên những ngân hàng có nguồn vốn đủ mạnh và hoạt động hiệu quả phục vụ cho nền kinh tế. Thứ hai, liên quan tới tính minh bạch trong báo cáo tài chính của các ngân hàng bao gồm cả các ngân hàng lớn. Hiện tượng một số ngân hàng có biểu hiện giấu hoặc chuyển lỗ; không hạch toán đúng chi phí dự phòng rủi ro; không hạch toán đúng các khoản chi phí và thu nhập... không phải không có. Nếu không sàng lọc và tái cấu trúc sớm, nguy cơ các vụ đổ vỡ hàng loạt trong hệ thống tổ chức tín dụng có thể xảy ra và khi đó sẽ khó kiểm soát. Thứ ba, liên quan đến nhân sự quản lý của ngân hàng. Hiện tại, với sự phát triển rất nhanh của các ngân hàng trong những năm qua, nhiều ngân hàng không có đủ lực lượng quản lý được đào tạo bài bản về quản trị ngân hàng. Điều này dẫn đến một số vụ lừa đảo gần đây gây thất thoát tài sản của ngân hàng. Nhu cầu hiện tại là đào tạo lực lượng nhân sự trong lĩnh vực ngân hàng và việc đào tạo đòi hỏi phải có chiến lược và tầm nhìn dài hạn. Thứ tư, liên quan đến quản lý và giám sát đối với hoạt động của các ngân hàng, yêu cầu đặt ra là phải nhất quán trong điều tiết hoạt động của các tổ chức tín dụng nhưng không làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường.
    Theo ông, đâu là những chỉ tiêu cơ bản cần làm rõ đối với các ngân hàng trong quá trình tái cấu trúc?
    Ví dụ như tỷ lệ nợ khó đòi trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, khả năng thanh khoản... Các tỷ lệ này cần được báo cáo và kiểm soát chặt chẽ, minh bạch thông qua sự giám sát của NHNN và các đơn vị kiểm toán độc lập; được thông báo công khai làm cơ sở cho việc xếp hạng tín nhiệm.
    Cần làm gì để áp dụng được các thông lệ tốt của quốc tế vào việc tái cấu trúc ngân hàng Việt Nam?
    Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất đặt vấn đề về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng bởi rất nhiều các quốc gia trong khu vực châu Á đã trải qua thời kỳ này, đặc biệt sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Tôi tin rằng, các ngân hàng nước ngoài với tiềm lực về vốn, công nghệ, quản trị và kinh nghiệm trong việc tái cấu trúc (đặc biệt trong quản trị, điều hành sau sáp nhập, mua lại) sẽ sẵn sàng chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm với các ngân hàng Việt Nam trong việc thực hiện tái cơ cấu hệ thống - một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng nhưng cũng hết sức khó khăn.
    Theo tôi, Chính phủ Việt Nam có thể thành lập Ban tư vấn về cải cách ngân hàng với sự tham gia cố vấn của các tổ chức tài chính và luật quốc tế. Thực tế hiện nay, Chính phủ đã rất cởi mở trong việc tham khảo những thông lệ quốc tế tốt nhất áp dụng trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng thông qua các kênh như: Diễn đàn doanh nghiệp; các hội thảo và các cuộc thảo luận với các chuyên gia tài chính quốc tế…
    Lộ trình tái cấu trúc hệ thống NHTM, theo ông, sẽ kéo dài trong bao lâu?
    Cũng rất khó bình luận về thời gian của công cuộc tái cấu trúc. Vấn đề là phải định dạng chi tiết và cẩn thận để đề ra một kế hoạch và lộ trình cần thiết. Tôi lấy ví dụ công cuộc cải cách ngành Ngân hàng ở Trung Quốc bắt đầu từ năm 1997 và diễn ra chủ yếu trong thời gian 1997 - 1999. Hồng Kông (Trung Quốc) đã trải qua cuộc khủng hoảng ngân hàng thời kỳ 1983 - 1986 và cuộc tái cấu trúc ngân hàng diễn ra từ 1986. Nhưng cho tới tận cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước, Cơ quan Quản lý tiền tệ của Hồng Kông (HKMA) vẫn nỗ lực sửa đổi những quy định luật pháp cho phù hợp với thông lệ quốc tế, tức là quá trình cải tổ lĩnh vực ngân hàng vẫn tiếp tục diễn ra trong một thời gian dài…
    Xin cảm ơn ông!
    Đỗ Lê thực hiện
    thời báo ngân hàng




    Tái cấu trúc ngân hàng: Thời cơ cải tổ toàn diện

    Nên bắt đầu tái cấu trúc hệ thống NHTM từ đâu và cần tập trung vào những vấn đề nào? Để giải đáp những câu hỏi này, phóng viên Thời báo Ngân hàng đã có cuộc phỏng vấn ông Phạm Hồng Hải - Giám đốc Kinh doanh vốn và thị trường tiền tệ - Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC Việt Nam.

    Tái cấu trúc hệ thống NHTM trong bối cảnh kinh tế vĩ mô còn nhiều bất ổn phải chăng là một thách thức lớn?
    Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại Việt Nam hiện là một việc hết sức cấp bách và cần thiết. Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển lành mạnh khi được sự hỗ trợ của một hệ thống ngân hàng khỏe mạnh. Diễn biến của khủng hoảng tài chính toàn cầu, những ảnh hưởng của nó tới Việt Nam và bản thân các khó khăn nội tại của nền kinh tế Việt Nam cho thấy, đây là thời cơ để tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng một cách toàn diện nhất. Nếu nền kinh tế phát triển tốt và vẫn thuận lợi như trước đây, đòi hỏi tái cấu trúc hệ thống ngân hàng sẽ không thực sự bức thiết đến như vậy.
    Chủ trương, chính sách và hoàn cảnh thị trường đã rất thuận lợi cho sự cải tổ về cơ bản hệ thống ngân hàng Việt Nam. Điều quan trọng là quyết tâm và sự kiên định trong quá trình thực hiện. Vấn đề đặt ra hiện nay là lựa chọn cách thức tái cấu trúc như thế nào để hiệu quả cao nhất và không gây xáo trộn cho hệ thống ngân hàng.
    Quá trình tái cấu trúc ngân hàng nên bắt đầu từ đâu, thưa ông?
    Theo tôi, cần phải làm rõ các phân khúc thị trường cho từng loại ngân hàng; xây dựng tiêu chí tái cấu trúc và minh bạch hóa tình hình tài chính của các ngân hàng trước khi tiến hành tái cấu trúc. Sự minh bạch này sẽ đóng góp vào việc xác định giá trị thực sự của các khoản nợ xấu.
    Tái cấu trúc ngân hàng cũng nên đi cùng với tái cấu trúc nợ doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần hỗ trợ cho ngân hàng yếu để tránh một cuộc khủng hoảng tín dụng trong ngắn hạn cũng như hạn chế nguy cơ khủng hoảng về tâm lý trong dài hạn; sau đó mới xử lý vấn đề chuyển quyền sở hữu. Ngoài ra, một trong những điểm cũng rất quan trọng là kế hoạch tái cấu trúc của NHNN cần được công khai và các hành động phải kiên quyết.
    Và tái cấu trúc cần phải tập trung vào những nội dung nào?
    Theo tôi, có 4 vấn đề trọng yếu cần tập trung trong quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM, gồm: Thứ nhất, liên quan đến số lượng và quy mô của các ngân hàng trong nền kinh tế Việt Nam. Thực tế cho thấy, số lượng ngân hàng hiện nay vừa thừa nhưng lại vừa thiếu. Thừa do có quá nhiều ngân hàng (hơn 100 ngân hàng) phục vụ cho nền kinh tế với quy mô dân số và mức độ phát triển như hiện nay, trong khi lại thiếu các ngân hàng lớn và hoạt động hiệu quả. Mua bán, sáp nhập sẽ là "công cụ lọc" để hình thành nên những ngân hàng có nguồn vốn đủ mạnh và hoạt động hiệu quả phục vụ cho nền kinh tế. Thứ hai, liên quan tới tính minh bạch trong báo cáo tài chính của các ngân hàng bao gồm cả các ngân hàng lớn. Hiện tượng một số ngân hàng có biểu hiện giấu hoặc chuyển lỗ; không hạch toán đúng chi phí dự phòng rủi ro; không hạch toán đúng các khoản chi phí và thu nhập... không phải không có. Nếu không sàng lọc và tái cấu trúc sớm, nguy cơ các vụ đổ vỡ hàng loạt trong hệ thống tổ chức tín dụng có thể xảy ra và khi đó sẽ khó kiểm soát. Thứ ba, liên quan đến nhân sự quản lý của ngân hàng. Hiện tại, với sự phát triển rất nhanh của các ngân hàng trong những năm qua, nhiều ngân hàng không có đủ lực lượng quản lý được đào tạo bài bản về quản trị ngân hàng. Điều này dẫn đến một số vụ lừa đảo gần đây gây thất thoát tài sản của ngân hàng. Nhu cầu hiện tại là đào tạo lực lượng nhân sự trong lĩnh vực ngân hàng và việc đào tạo đòi hỏi phải có chiến lược và tầm nhìn dài hạn. Thứ tư, liên quan đến quản lý và giám sát đối với hoạt động của các ngân hàng, yêu cầu đặt ra là phải nhất quán trong điều tiết hoạt động của các tổ chức tín dụng nhưng không làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường.
    Theo ông, đâu là những chỉ tiêu cơ bản cần làm rõ đối với các ngân hàng trong quá trình tái cấu trúc?
    Ví dụ như tỷ lệ nợ khó đòi trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, khả năng thanh khoản... Các tỷ lệ này cần được báo cáo và kiểm soát chặt chẽ, minh bạch thông qua sự giám sát của NHNN và các đơn vị kiểm toán độc lập; được thông báo công khai làm cơ sở cho việc xếp hạng tín nhiệm.
    Cần làm gì để áp dụng được các thông lệ tốt của quốc tế vào việc tái cấu trúc ngân hàng Việt Nam?
    Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất đặt vấn đề về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng bởi rất nhiều các quốc gia trong khu vực châu Á đã trải qua thời kỳ này, đặc biệt sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Tôi tin rằng, các ngân hàng nước ngoài với tiềm lực về vốn, công nghệ, quản trị và kinh nghiệm trong việc tái cấu trúc (đặc biệt trong quản trị, điều hành sau sáp nhập, mua lại) sẽ sẵn sàng chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm với các ngân hàng Việt Nam trong việc thực hiện tái cơ cấu hệ thống - một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng nhưng cũng hết sức khó khăn.
    Theo tôi, Chính phủ Việt Nam có thể thành lập Ban tư vấn về cải cách ngân hàng với sự tham gia cố vấn của các tổ chức tài chính và luật quốc tế. Thực tế hiện nay, Chính phủ đã rất cởi mở trong việc tham khảo những thông lệ quốc tế tốt nhất áp dụng trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng thông qua các kênh như: Diễn đàn doanh nghiệp; các hội thảo và các cuộc thảo luận với các chuyên gia tài chính quốc tế…
    Lộ trình tái cấu trúc hệ thống NHTM, theo ông, sẽ kéo dài trong bao lâu?
    Cũng rất khó bình luận về thời gian của công cuộc tái cấu trúc. Vấn đề là phải định dạng chi tiết và cẩn thận để đề ra một kế hoạch và lộ trình cần thiết. Tôi lấy ví dụ công cuộc cải cách ngành Ngân hàng ở Trung Quốc bắt đầu từ năm 1997 và diễn ra chủ yếu trong thời gian 1997 - 1999. Hồng Kông (Trung Quốc) đã trải qua cuộc khủng hoảng ngân hàng thời kỳ 1983 - 1986 và cuộc tái cấu trúc ngân hàng diễn ra từ 1986. Nhưng cho tới tận cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước, Cơ quan Quản lý tiền tệ của Hồng Kông (HKMA) vẫn nỗ lực sửa đổi những quy định luật pháp cho phù hợp với thông lệ quốc tế, tức là quá trình cải tổ lĩnh vực ngân hàng vẫn tiếp tục diễn ra trong một thời gian dài…
    Xin cảm ơn ông!
    Đỗ Lê thực hiện
    thời báo ngân hàng

  3. fpts.com

    fpts.com Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    26/07/2011
    Đã được thích:
    4.665
    MCG, VSH... Cũng tùy theo cổ. Tôi cũng biết là chỉ khi nào Bác vào thì thị trường mới tăng thôi. Nên tôi cũng chờ khi nào Bác hô tôi mới vào. Ngắm con nào thì Pm nhé:)>-
  4. ddkhiem

    ddkhiem Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    28/07/2009
    Đã được thích:
    1
    ACB, DAB, STB, EIB thế nào các bác ơi... có an toàn để gửi tiền ko các bác???:-ss:-ss:-ss

    Hic giờ ra đường thằng bank nào cũng hoành tráng hết... trong ruột thì kinh lắm rồi...:-ss:-ss:-ss:-ss

    Thằng gì mới khánh thành 1 cái tòa nhà to như khủng long trên đường CMT8 Sài gòn ý...:-ss:-ss:-ss:-ss

    Vãi đạn...
  5. ACL8x

    ACL8x Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    06/05/2010
    Đã được thích:
    1
    VSH : Thấp nhất/Cao nhất 10.2 / 10.5 thì làm sao đủ tăng 3%?
    MCG :
    Thấp nhất/Cao nhất 8.6 / 9.4 Cũng không đủ 10% LN.
  6. ACL8x

    ACL8x Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    06/05/2010
    Đã được thích:
    1
    Bác không cần phải ai hô hết, bác cứ đọc thông tin hàng ngày, nếu có dòng tiền mới vào cứu thị trường thì vào, còn nếu không thì chờ đến tháng 2/2012 khi BCTC năm 2011 đã có với phần lớn các DN có KQKD rất tệ, lúc đó mới là đáy của TTCK, lựa chọn cp cơ bản tốt mua vào ăn cổ tức, đợi 1 năm sau ăn thêm chênh lệch giá vì lúc (HNX sẽ tăng từ 50 lên 75 kiếm 50% LN).
  7. ACL8x

    ACL8x Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    06/05/2010
    Đã được thích:
    1
    THỊ TRƯỜNG
    Thứ tư, 30/11/2011, 10:51 GMT+7
    [​IMG] E-mail [​IMG] Bản In
    Nhà băng ngại cho vay lẫn nhau

    Từ chối hoặc chỉ cho vay nếu có tài sản đảm bảo, một số ngân hàng có vốn nhàn rỗi ngày càng khắt khe hơn khi cấp tiền cho nhà băng nhỏ trên thị trường liên ngân hàng.
    > Lãi suất liên ngân hàng vọt lên 36,5% một năm
    > Lãi suất liên ngân hàng lên 30% kỳ hạn một tháng


    Một lãnh đạo cấp cao của VP Bank cho biết, nhiều ngân hàng thương mại còn vốn nhàn rỗi song không dám cho vay liên ngân hàng vì sợ rủi ro. Nguyên nhân là thời gian vừa qua, thị trường liên ngân hàng đã xuất hiện nợ xấu. Các nhà băng vay nhau song chây ỳ trả nợ, thậm chí chưa có khả năng trả - điều chưa có tiền lệ trong ngành ngân hàng, ngay cả giai đoạn khó khăn 2008.
    Theo ông, thị trường liên ngân hàng, từ khi lãi suất huy động dân cư bị áp trần, lúc nào cũng sôi động, song thời gian gần đây lại căng theo một hướng khác. Dù lãi suất vẫn ổn định ở 15-16% một năm, nhưng hầu hết những nhà băng có tiền đều không dám cho vay dài hạn, hoặc vay tín chấp.
    [​IMG]
    Ngân hàng "ông lớn" vẫn cho vay liên ngân hàng kiểu tín chấp, song một số đơn vị nhỏ lại dè chừng và yêu cầu phải có tài sản đảm bảo. Ảnh minh họa: Hoàng Hà. "Không ít nhà băng khi huy động được tiền từ dân cư đi cho vay ồ ạt. Sau đó, họ phải 'nhặt' từ liên ngân hàng để đắp. Đến khi liên ngân hàng bị rút là thấy luôn hệ quả", tổng giám đốc một nhà băng khác phân tích. Đây cũng là nguyên nhân thời gian gần đây, các ngân hàng rất dè chừng nhau.
    Nguồn tin từ VPBank cho biết, nhà băng này cũng cân nhắc kỹ khi cho vay liên ngân hàng và không chấp nhận các khoản tín chấp. Lãnh đạo một nhà băng có trụ sở chính ở Hà Nội tiết lộ: “Giờ chỗ nào cũng vậy, muốn vay liên ngân hàng thì phải có trái phiếu chính phủ, tin nhau cũng khó". Ông cho biết, trước đây, nhà băng này cho vay liên ngân hàng nhiều nhưng giờ tìm cách thu hồi hết nợ và co hẹp hoạt động này.
    Giám đốc một ngân hàng thương mại thuộc nhóm G12 tại Hà Nội xác nhận, đơn vị này cân nhắc ngay khi thị trường liên ngân hàng bất ổn. Ông này cũng cho hay, thời gian qua, có một số nhà băng nhỏ chấp nhận lãi suất cao để vay liên ngân hàng nhưng không trả được nợ khi đến hạn. Không nêu tên, nhưng vị này tiết lộ có ngân hàng đang lớn đang bị kẹt cả 10.000 tỷ đồng ở một đơn vị nhỏ, mà chưa đòi được.
    Trong khi đó, không ưu tiên kỳ hạn dài, song các ngân hàng lớn vẫn khẳng định, cho vay tín chấp bình thường trên thị trường liên ngân hàng. Phó tổng giám đốc Vietinbank Lê Đức Thọ cho biết, nhà băng này vẫn cân nhắc và xử lý hài hòa tỷ lệ các khoản vay tín chấp và vay có tài sản đảm bảo.
    Theo ông Thọ, với các ngân hàng có tình hình tài chính tốt, quản lý thanh khoản có kinh nghiệm, quy mô lớn, uy tín trong hoạt động tín dụng, Vietibank vẫn có thể cấp hạn mức cao. "Những đơn vị hoạt động không tốt bằng, trong trường hợp nhất định phải yêu cầu có bảo đảm trên cơ sở chất lượng, hiệu quả hoạt động của ngân hàng", lãnh đạo Vietinbank nói.
    Theo ông, một số nhà băng dè chừng với khoản vay tín chấp trên thị trường 2 thời gian gần đây, có thể do đã "dính" vay tín chấp không trả nợ đúng hạn. Điều này có phần khác biệt so với thông lệ, vì trên thị trường liên ngân hàng, thông thường các nhà băng cho nhau không yêu cầu có tài sản đảm bảo.
    Ông Nguyễn Ngọc Bảo, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank cũng phủ nhận thông tin không cho vay tín chấp. Ông Bảo cho biết, đến thời điểm này, Agribank vẫn cấp tín dụng trên thị trường liên ngân hàng bình thường và cân nhắc các khoản tín chấp với có tài sản đảm bảo.
    Hiện nay, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng kỳ hạn 1 tháng dao động 16 - 19% một năm, thay đổi theo từng ngày, cao hơn 2- 5% so với niêm yết trên website Ngân hàng Nhà Nước. Dù thế, mức này đã giảm gần một nửa so với mốc 30 - 40% cách đây hơn 1 tháng. "Đây cũng là tín hiệu cho thấy, cho vay liên ngân hàng đang dần quay về thông lệ", ông Lê Đức Thọ, Phó giám đốc Vietinbank nhìn nhận.
    Theo Ngân hàng Nhà nước, trong tuần từ 12/11 đến 18/11, lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm ở kỳ hạn dài. Mức giảm mạnh diễn ra với kỳ hạn 12 tháng và trên 12 tháng, lần lượt là 5,84% và 3,76% so với tuần trước. Các kỳ hạn ngắn, lãi suất có xu hướng tăng.
    Tuệ Minh
  8. ACL8x

    ACL8x Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    06/05/2010
    Đã được thích:
    1
    Lại ngập lụt nguồn cung, tiền lại bị rút.
    BIDV sẽ IPO vào cuối tháng 12/2011




    [​IMG]
    Ông Trần Bắc Hà - Chủ tịch HĐTV BIDV

    Tính đến 30/11, lợi nhuận trước thuế đạt 4.100 tỷ đồng và tỷ lệ an toàn vốn CAR là 10%. Tỷ lệ nợ xấu là 2,8%.
    Chiều ngày hôm nay 30/11, BIDV tổ chức họp báo thông báo kế hoạch IPO của ngân hàng. Theo công bố thông tin tính đến thời điểm hiện tại vốn điều lệ BIDV là 28.251 tỷ đồng.

    Kế hoạch IPO sẽ được tiến hành theo 2 giai đoạn. Giai đoạn I dự kiến phát hành 22% vốn điều lệ trong đó thực hiện IPO là 3%, bán cho CBCNV là 1%, bán cho công đoàn BIDV 3%, còn lại 15% sẽ được bán cho đối tác chiến lược nước ngoài.

    Giai đoạn II sẽ tiếp tục bán cho đối tác nước ngoài không quá 20% vốn và phát hành thêm cổ phần ra công chúng, nhằm giảm dần tỷ lệ sở hữu của Nhà nước xuống không thấp hơn 65% vốn điều lệ đến năm 2015.

    Lịch dự kiến cho đợt I cổ phần hóa BIDV là ngày 2/12 công bố giá trị doanh nghiệp và ngày 21/12 đăng ký đấu giá.

    Dự kiến 28/12 sẽ tổ chức đấu giá và bán cho CBCNV trước ngày 31/12/2011.

    BIDV sẽ tổ chức ĐHCĐ lần đầu và chuyển đổi thành NHCP vào quý I/2012 và dự kiến niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh không muộn hơn quý III/2012.

    Công ty cổ phần chứng khoán BIDV (BSC) là đơn vị tư vấn cổ phần hóa

    Trong năm 2012 sẽ bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Hiện đang có 42 nhà đầu tư trên toàn cầu quan tâm tới việc mua cổ phần của BIDV. Tư vấn tài chính là Morgan Stanley

    Tính đến 30/11, BIDV có tổng tài sản 403 ngàn tỷ đồng, trong đó huy động vốn là 274 ngàn tỷ. Dư nợ tín dụng là 268,2 ngàn tỷ đồng.

    Lợi nhuận trước thuế đạt 4.100 tỷ đồng và tỷ lệ an toàn vốn CAR là 10%.

    Tỷ lệ nợ xấu là 2,8%

    Hiện giá khởi điểm của đợt IPO chưa được công bố do phải đợi phê duyệt của Chính phủ
    Phương Mai

    Theo TTVN
  9. ACL8x

    ACL8x Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    06/05/2010
    Đã được thích:
    1
    Tiền vào cứu thị trường thì không thấy mà chỉ thấy muốn rút tiền của thị trường.
    ACL8x
    Thành viên gắn bó và đang xây dựng TTVNOL cùng F319 ngày một tốt đẹp hơn
    [​IMG]



    [​IMG]

    Thành viên từ
    16:08, 06/05/10


    Được cảm ơn 275 lần


    [​IMG] Hôm nay, 17:07 #2 Trích:
    cure_chicken viết lúc 17:03 - 30/11/2011 [​IMG]
    Thứ tư, 30/11/2011 16:52

    (GA FIN)Tổng khối lượng phát hành trong giai đoạn 1 là 22% vốn điều lệ trên tổng vốn điều lệ là hơn 28 nghìn tỷ đồng.Ngày 30/11, ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) tổ chức họp báo công bố thông tin cổ phần hóa.

    Theo phương án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, BIDV cổ phần hóa theo hình thức giữ nguyên vốn Nhà nước hiện có, phát hành thêm cổ phần để tăng vốn điều lệ, trong đó tỷ lệ sở hữu của Nhà nước không thấp hơn 65% (tỷ lệ sở hữu của Nhà nước trên 78% trong giai đoạn 1, trên 65% trong giai đoạn 2).

    Vốn điều lệ của BIDV là 28.251,4 tỷ đồng, cơ cấu cổ phần phát hành cụ thể là:

    Tổng khối lượng phát hành trong giai đoạn 1 là 22% vốn điều lệ. Trong đó, phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) là 3% vốn điều lệ; Bán ưu đãi cho cán bộ, công nhân viên 1% vốn điều lệ; Bán cho tổ chức công đoàn 3% vốn điều lệ; Bán cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài 15% vốn điều lệ.

    Trong giai đoạn 2, BIDV sẽ phát hành thêm cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài với tổng mức không vượt quá 20% vốn điều lệ và phát hành thêm cổ phần ra công chúng, giảm dần tỷ lệ sở hữu của Nhà nước xuống không thấp hơn 65% đế năm 2015.

    BIDV sẽ lựa chọn 1 nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, dựa trên sự hỗ trợ của tư vấn tài chính Morgan Stanley.

    Theo GA FIN​

    http://vinase.com/forums/chung-khoan...html#post51150

    3% IPO cộng 1% bán cho CBCNV sẽ hút của thị trường 1.000 tỷ.
  10. hptarzan

    hptarzan Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    04/07/2009
    Đã được thích:
    205
    Những thằng liên quan đến quá hạn........cả đi vay lẫn cho vay.......đều dục............=))=))=))

Chia sẻ trang này