Lúc lên tàu ta là "đồng chí" - Khi xuống tàu ta vẫn là " anh em" ( phần IV )

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi SuSuCaRot, 11/10/2014.

1293 người đang online, trong đó có 517 thành viên. 23:23 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 54574 lượt đọc và 1856 bài trả lời
  1. SuSuCaRot

    SuSuCaRot Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    06/11/2013
    Đã được thích:
    133.650
    SSu mới đi chùa về ạ! [-O<@};-:drm1
  2. Binhminhseden

    Binhminhseden Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    04/04/2014
    Đã được thích:
    20.023
    Hẻm hiểu?? có thể giải thích rõ hơn ko?
    chileeSuSuCaRot thích bài này.
  3. bannhabancua

    bannhabancua Thành viên gắn bó với f319.com Not Official

    Tham gia ngày:
    28/08/2014
    Đã được thích:
    2.369
    bác giả nhời e như thế này á.nghĩa nà bác đang nàm trái với giáo lí nhà Phật đấy.
    câu hỏi của e ko bịa đặt mà đó nà sự thật.đi chùa nhiều chưa chắc đã hiểu Đức Phật đâu.
    Binhminhseden thích bài này.
  4. SuSuCaRot

    SuSuCaRot Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    06/11/2013
    Đã được thích:
    133.650
    Thủ tướng lên đường thăm và làm việc tại châu Âu
    [​IMG]

    [​IMG]
    TIN MỚI
    [​IMG]3 doanh nghiệp hỗ trợ 4,5 tỷ bắn pháo hoa ngày Giải phóng Thủ đô
    Cháy ở Công ty xổ số kiến thiết Thủ Đô
    Bộ GTVT thi tuyển Vụ trưởng Vụ An toàn giao thông

    Chuyến thăm của Thủ tướng bắt đầu từ ngày 12/10 đến 18/10.


    Sáng 12/10, Thủ tướng Chính phủ *************** dẫn đầu Đoàn đại biểu Việt Nam lên đường thăm chính thức Vương quốc Bỉ, Liên minh châu Âu (EU), Cộng hòa Liên bang Đức (từ ngày 13-15/10), tham dự Hội nghị Cấp cao Á-Âu lần thứ 10 (ASEM 10) tại Milan, Cộng hòa Italy (từ ngày 16-17/10) và thăm Tòa thánh Vatican (ngày 18/10/2014).

    Quan hệ Việt Nam-Bỉ phát triển tốt đẹp

    Chuyến thăm chính thức Vương quốc Bỉ của Thủ tướng Chính phủ *************** theo lời mời của Thủ tướng Bỉ Elio Di Rupo nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác song phương giữa 2 nước trên các lĩnh vực, nhất là hợp tác trong lĩnh vực cảng biển, dịch vụ kho vận, tăng trưởng xanh, công nghệ cao, viện trợ phát triển; đồng thời hai bên cũng sẽ trao đổi các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm.

    Thời gian qua, quan hệ Việt Nam-Bỉ tiếp tục có những bước phát triển tốt đẹp trên các lĩnh vực; hai bên duy trì trao đổi đoàn cấp cao; phối hợp chặt chẽ trên các diễn đàn đa phương, nhất là tại Liên hiệp quốc và trong khuôn khổ ASEM, ASEAN-EU. Quan hệ thương mại, đầu tư gia tăng liên tục, kim ngạch thương mại hai chiều năm 2013 đạt 1,8 tỷ USD, tăng 17% so với năm 2012; trong 6 tháng đầu năm 2014 đạt khoảng 1,2 tỷ USD. Đầu tư trực tiếp của Bỉ vào Việt Nam đạt trên 155 triệu USD.

    Việt Nam là nước châu Á duy nhất nhận viện trợ phát triển của Bỉ (khoảng 78 triệu USD cho giai đoạn 2011-2015). Hiện hai bên đang tập trung hợp tác trong những lĩnh vực ưu tiên như phát triển cơ sở hạ tầng cảng biển và dịch vụ hậu cần, giao thông vận tải, công nghệ xanh, y tế, giáo dục…

    Làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác Việt Nam-EU

    Quan hệ Việt Nam-EU phát triển thực chất và toàn diện với việc hai bên chính thức ký Hiệp định khung Đối tác và hợp tác toàn diện (PCA) và đang hướng tới kết thúc đàm phán Hiệp định thương mại tự do (EVFTA).

    Về chính trị, hai bên duy trì thường xuyên trao đổi và tiếp xúc cấp cao; lãnh đạo cấp cao hai bên luôn khẳng định coi trọng quan hệ và mong muốn tăng cường hợp tác nhiều mặt tương xứng với tiềm năng và vị thế của hai bên.

    EU là đối tác hàng đầu của Việt Nam về thương mại, đầu tưvà viện trợ phát triển. Trao đổi thương mại song phương liên tục tăng từ 15-20% hằng năm. Trong 6 tháng đầu năm 2014, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 17,5 tỷ USD (tăng khoảng 13% so với cùng kỳ năm 2013). Tính đến tháng 6/2014, 23/28 nước thành viên EU có đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốn đăng ký đạt gần 18,4 tỷ USD. EU và các nước thành viên là nhà tài trợ song phương lớn thứ 2 về ODA và là nhà cung cấp viện trợ không hoàn lại lớn nhất cho Việt Nam.

    Chuyến thăm EU của Thủ tướng Chính phủ *************** nhằm trao đổi phương hướng hợp tác Việt Nam-EU trong thời gian tới, thúc đẩy sớm kết thúc đàm phán EVFTA và thảo luận về việc tăng cường phối hợp tại các diễn đàn đa phương như Liên Hợp Quốc, ASEM, ASEAN-EU.

    Triển khai Kế hoạch hành động chiến lược Việt Nam-Đức

    Quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam-Đức phát triển sâu rộng trên nhiều lĩnh vực. Hai bên thường xuyên trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao. Đức tiếp tục là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam trong châu Âu. Kim ngạch thương mại hai chiều trong 6 tháng đầu năm 2014 đạt khoảng 3,6 tỷ USD. Tính đến tháng 8/2014, đầu tư trực tiếp của Đức vào Việt Nam đạt 1,25 tỷ USD với 232 dự án còn hiệu lực, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất thiết bị, năng lượng, hóa chất, y dược… Đức cam kết cung cấp 100 triệu USD viện trợ phát triển cho Việt Nam trong giai đoạn 2014-2015, tập trung vào 3 lĩnh vực ưu tiên là môi trường, năng lượng và dạy nghề. Năm 2015, hai nước sẽ kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1975-2015).

    Chuyến thăm chính thức Cộng hòa Liên bang Đức của Thủ tướng Chính phủ *************** nhằm triển khai Kế hoạch hành động chiến lược Việt Nam-Đức; thúc đẩy hợp tác giữa 2 nước trong các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực lao động, đào tạo nghề, giáo dục và các dự án đã lớn đã ký kết; chuẩn bị các hoạt động kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Đức trong năm 2015 và trao đổi các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm.

    Việt Nam-Thành viên tích cực của ASEM

    Nhận lời mời của Thủ tướng Cộng hòa Italy Matteo Renzi, Thủ tướng Chính phủ *************** sẽ tham dự Hội nghị Cấp cao Á-Âu lần thứ 10 (ASEM 10) tại Milan, Cộng hòa Italy từ ngày 16-17/10.

    Với chủ đề “Đối tác trách nhiệm vì tăng trưởng và an ninh bền vững”, Hội nghị cấp cao ASEM 10 có sẽ tập trung thảo luận 4 nội dung chính là: các vấn đề kinh tế-tài chính và kết nối Á-Âu; các vấn đề toàn cầu; các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm; định hướng tương lai ASEM. Ngoài ra, trước thềm Hội nghị cấp cao ASEM 10 sẽ diễn ra cuộc họp cấp cao không chính thức ASEAN-EU.

    Qua 18 năm tham gia ASEM, Việt Nam luôn là một thành viên tích cực, năng động và có trách nhiệm, phát huy được vai trò và vị thế tại Diễn đàn, nổi bật nhất là việc tổ chức thành công Hội nghị cấp cao ASEM 5 (2004) và 5 Hội nghị Bộ trưởng trong các lĩnh vực: kinh tế, công nghệ-thông tin, ngoại giao, giáo dục, lao động.

    Để tiếp tục nâng tầm quan hệ giữa Việt Nam với EU và các đối tác quan trọng khác trong ASEM cũng như đóng góp cho quan tâm chung, trong năm 2014, Việt Nam sẽ tiếp tục có những đề xuất, sáng kiến tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như thực hiện các “Mục tiêu Thiên niên kỷ” (xóa nghèo), đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực, quản lý nguồn nước, ứng phó thiên tai, thúc đẩy hợp tác cụ thể Mekong-Danube.

    Việt Nam cũng sẽ tổ chức Hội thảo ASEM không chính thức về nhân quyền lần thứ 14 với chủ đề “Doanh nghiệp và quyền con người” (Hà Nội, 18-20/11), hoạt động lớn nhất Việt Nam đăng cai năm nay trên tư cách thành viên Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc, góp phần tăng cường đối thoại và hiểu biết giữa 2 châu lục.

    Thủtướng Chính phủ *************** tham dự Hội nghị cấp cao ASEM 10 lần này nhằm tiếp tục chủ động đóng góp vào các nội dung quan trọng của Hội nghị, nâng cao vị thế của Việt Nam; phối hợp trong các vấn đề phát triển, an ninh; tăng cường hợp tác song phương với các nước thành viên nhằm nâng tầm quan hệ đối tác.

    Tăng cường quan hệ Việt Nam-Vatican

    Thủ tướng *************** thăm Tòa thánh Vatican theo lời mời của Giáo hoàng Francis vào ngày 18/10 tới nhằm tiếp tục thúc đẩy hơn nữa quan hệ Việt Nam-Vatican.

    Thời gian qua, quan hệ Việt Nam-Vatican tiếp tục có những bước phát triển tích cực. Lãnh đạo cấp cao của Việt Nam như Thủ tướng Chính phủ ***************, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã gặp Giáo hoàng nhân các chuyến thăm tới Italy. Hai bên đã tổ chức 5 vòng đàm phán của Nhóm Công tác hỗn hợp về quan hệ Việt Nam-Vatican. Từ tháng 4/2011, Đặc phái viên không thường trú của Vatican tại Việt Nam đã thực hiện nhiều chuyến thăm mục vụ tại Việt Nam, tham gia các hoạt động tôn giáo lớn của Giáo hội Công giáo Việt Nam và thăm các địa phương.



    Theo Nguyễn Hoàng
    chilee, bannhabancuaBinhminhseden thích bài này.
  5. Binhminhseden

    Binhminhseden Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    04/04/2014
    Đã được thích:
    20.023
    Tội thay...tội thay.. NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MẦU NI PHẬT
    chileeSuSuCaRot thích bài này.
  6. SuSuCaRot

    SuSuCaRot Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    06/11/2013
    Đã được thích:
    133.650
    [-O<[-O<^:)^^:)^
    WATERTHUY586888168, chileeBinhminhseden thích bài này.
  7. Binhminhseden

    Binhminhseden Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    04/04/2014
    Đã được thích:
    20.023
    Nếu được, Tui muốn có 1 dịp nhân duyên nào đó cùng với @Binh Yen , @SuSuCaRot ... và 1 số đạo hữu trên diễn đàn này, nếu có thể tui sẽ mời 01 thầy ở chùa PHẬT BỬU TỰ TỔ ĐÌNH làm 01 chuyến công tác thiện nguyện đến với các hoàn cảnh bất hạnh và cũng trong dịp í, tui muốn mời bạn tham gia và tui sẽ nhờ thầy giảng hộ, tui mong là như vậy...nhưng hẻm biết có nhân duyên ko đây?? Những gì trong sự hiểu biết của tui thì tui đã nói và chia sẽ với bạn và mọi người rồi, có lẽ tui chưa đủ phước duyên để gánh được trọng trách để giải thích cho bạn được hiểu.. Mong rằng sẽ có 1 thời gian nào đó tui sẽ làm đc.. Cửa Phật luôn từ bi và mở cửa chào đón tất cả chúng sinh trong thiên hạ, bất kể đạo giáo nào.. vì vậy tui chưa làm được điều bạn yêu cầu.. tui cảm thấy thật là bạc phước..Hi vọng bạn thông cảm cho và mong bạn đừng làm khó cho topic của bạn @SuSuCaRot với những câu hỏi có liên quan như vậy nữa hen, thân ái..
    phamsonsuri, chilee, baotam762 người khác thích bài này.
  8. bannhabancua

    bannhabancua Thành viên gắn bó với f319.com Not Official

    Tham gia ngày:
    28/08/2014
    Đã được thích:
    2.369
    bác nà ng chăm đi chùa,cũng nà đệ tử của Ngài.tức nà người trong đạo.bác biết tại sao mà Đạo Phật tồn tại hơn 2500 năm k??tại sao có hơn 300 triệu phật tử trên thế giới k???đó là sự truyền Đạo,là giảng Đạo.giảng Đạo là giảng giải và giải thích để chúng sanh thức tỉnh,k ngộ nhận.danh từ Đạo Phật tên gọi xuất phát từ chữ Budhi có nghĩa là Thức Tỉnh.Muốn chúng sanh thức tỉnh thì phải giải thích bằng giáo lí của Đức Phật.em hỏi mà bác k lí giải được thì bác làm trái Đạo Phật rồi,hoặc nà bác k hiểu gì để giải thích cho e.vì em nà người ngoài Đạo,e có quyền tìm hiểu,có quyền hỏi bác và muốn được biết về Ngài
    Đức Phật k phải là 1 thần linh,Ngài là người bằng xương bằng thịt,có vợ có con đàng hoàng,Ngài là 1 vị hoàng tử trước khi ra đi tầm sư học Đạo.đừng mù quáng và đừng trả lời kiểu úi thui thui đấng cao trọng vọng k nên bàn đến,như vậy là hoàn toàn sai lầm bác nhá.
    chilee, SuSuCaRotbaotam76 thích bài này.
  9. baotam76

    baotam76 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    05/05/2010
    Đã được thích:
    3.088
    Bác hay đi chùa nhể.... nhớ cầu phật cho ae dc nhìu thèng công nhé.. nhứt là cổ cánh bds để xây nhà cho nhanh nghen
    chilee, BinhminhsedenSuSuCaRot thích bài này.
  10. Binhminhseden

    Binhminhseden Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    04/04/2014
    Đã được thích:
    20.023
    Xin phép @SuSuCaRot và các ACE trong topic
    Xin phép mod _ _
    Kính gửi: @bannhabancua
    Một số điều muốn gửi đến bạn, mong bạn đừng chê cười.. tội thay.. tội thay
    Tất-đạt-đa Cồ-đàm là tên phiên âm từ tiếng Phạn Siddhārtha Gautama của vị Phật lịch sử có thật trong quá khứ được xác nhận là có tồn tại tên là Thích-ca Mâu-ni. Tất-đạt-đa (sa. siddhārtha) có nghĩa là "người đã hoàn tất (siddha) ý nghĩa [cuộc sống] (artha)". Đôi lúc ta cũng tìm thấy cách dịch ý Nhất thiết nghĩa thành, Thành tựu chúng sinh dịch từ dạng dài của tên Phạn ngữ là sarvārthasiddha. Như vậy Tất-đạt-đa Cồ-đàm là tên của vị Phật lịch sử, từng sống trên trái đất, người sáng lập Phật giáo. Ngài cũng còn được gọi là Phật Tổ Như Lai.
    Bối cảnh và gia thế

    Tất-đạt-đa sinh khoảng năm 624 trước Công nguyên trong một gia đình hoàng tộc thuộc dòng Thích-ca (sa. śākya) tại Ca-tì-la-vệ (zh. 迦毘羅衛, sa. Kapilavastu) thuộc Nepal ngày nay. Cha của Tất-đạt-đa là vua Tịnh Phạn (zh. 淨飯, sa. śuddhodana), mẹ là hoàng hậu Ma-da (sa., pi. māyādevī), đản sinh Tất-đạt-đa trong khu vực vườn Lâm-Tỳ-Ni (zh. 嵐毘尼, sa. lumbinī), một thị trấn thuộc Ấn Độ. Đây là khu vực nằm giữa dãy Hi-mã-lạp sơn (sa. himālaya) và sông Hằng (sa gaṅgā), chịu ảnh hưởng khí hậu gió mùa: tháng 5 có thể nóng tới 40 °C, trong mùa đông nhiệt độ xuống tới 3 °C.

    Về mặt chính trị vùng đồng bằng sông Hằng thời đó có 4 vương quốc chính là:

    1. Kiêu-tát-la (zh. 憍薩羅, sa. kośala, pi. kosala), thủ đô là Xá-vệ (舍衛, sa. śrāvastī, pi. sāvatthī) nằm về phía bắc sông Hằng.
    2. Tiểu quốc Vaṃsā nằm phía Tây nam Kiêu-tát-la.
    3. Tiểu quốc Avanti ở miền nam của Vaṃsā và Kiêu-tát-la, trải dài tới phía nam sông Hằng. Sau này, có Ma-ha-ca-chiên-diên là một người dân nước này là đại đệ tử của đức Phật (sa. mahākātyāyana, pi. mahākaccāna).
    4. Vương quốc Ma-kiệt-đà (sa., pi. magadha) nằm về phía tây của Avanti và nam của sông Hằng.
    Ngoài ra còn rất nhiều các bộ tộc nhỏ ở phía đông của Kiêu-tát-la và phía bắc của Ma-kiệt-đà. Xã hội trong thời kỳ này phân hóa về tư tưởng rất phức tạp và bao gồm nhiều đẳng cấp xã hội, đạo Bà-la-môn đang hưng thịnh, những giai cấp thấp bị khinh rẻ và không được luật pháp bảo vệ.

    Có nhiều truyền thuyết về thái tử Tất-đạt-đa. Có thuyết cho rằng một đêm bà mẹ nằm mơ thấy một vị Bồ Tát với dạng con voi trắng nhập vào người mình. Thái tử sinh ra từ hông bên mặt của mẹ, sau đó đi bảy bước, một tay chỉ lên trời, tay kia chỉ xuống đất, nói:

    Aggo `ham asmi lokassa,
    Jeṭṭho `ham asmi lokassa,
    Seṭṭho `ham asmi lokassa,
    Ayam antimā jāti,
    Natthi dāni punabbhavo.


    Ta là người cao quý nhất thế gian
    Ta là người giỏi nhất thế gian
    Ta là người kiệt xuất nhất thế gian
    Đây là lần tái sinh cuối cùng
    Bây giờ không còn tái sinh!

    Ngay lúc sinh ra, Tất-đạt-đa đã có đầy đủ hảo tướng (Tam thập nhị hảo tướng). Các nhà tiên tri cho rằng Tất-đạt-đa sẽ trở thành hoặc một đại đế hay một bậc giác ngộ. 7 ngày sau khi sinh thì mẹ mất, Tất-đạt-đa được người dì là Ma-ha-ba-xà-ba-đề (zh. 摩呵波闍波提, sa. mahāprajāpatī) chăm sóc. Năm lên 16 tuổi, Tất-đạt-đa kết hôn với công chúa Da-du-đà-la (zh. 耶輸陀羅, sa. yaśodharā).

    Vua cha Tịnh Phạn dĩ nhiên không muốn thái tử đi tu nên dạy dỗ cho con rất kỹ lưỡng, nhất là không để Tất-đạt-đa tiếp xúc với cảnh khổ. Tuy thế, sau bốn lần ra bốn cửa thành và thấy cảnh người già, người bệnh, người chết và một vị tu sĩ, thái tử phát tâm rồi từ biệt hoàng cung, sống cảnh không nhà. Tương truyền rằng, bốn cảnh ngộ vừa kể là những cảnh tượng do các vị thiên nhân tạo ra nhằm nhắc nhở Tất-đạt-đa lên đường tu học Phật quả. Thái tử thấy rằng ba cảnh đầu tượng trưng cho cái Khổ trong thế gian và hình ảnh tu sĩ chính là cuộc đời của Tất-đạt-đa.
    Xuất gia và thành đạo

    Năm 29 tuổi, sau khi công chúa Da-du-đà-la hạ sinh một bé trai - được đặt tên là La-hầu-la (zh. 羅睺羅, sa. rāhula), thái tử Tất-đạt-đa quyết định lìa cung điện, cùng tu khổ hạnh với nhiều nhóm tăng sĩ khác nhau. Tất-đạt-đa quyết tâm tìm cách diệt khổ và tìm mọi đạo sư với các giáo pháp khác nhau. Theo truyền thống Ấn Độ bấy giờ chỉ có con đường khổ hạnh mới đưa đến đạt đạo. Các vị đạo sư khổ hạnh danh tiếng thời đó là A-la-la Ca-lam (阿羅邏迦藍, sa. ārāda kālāma, pi. āḷāra kālāma) và Ưu-đà-la La-ma tử (優陀羅羅摩子, sa. rudraka rāmaputra, pi. uddaka rāmaputta). Nơi A-la-la Ca-lam, Tất-đạt-đa học đạt đến cấp Thiền Vô sở hữu xứ (sa. ākiṃcanyāyatana, pi. ākiñcaññāyatana), nơi Ưu-đà-la La-ma tử thì học đạt đến cấp Phi tưởng phi phi tưởng xứ (sa. naivasaṃjñā-nāsaṃñāyatana, pi. nevasaññā-nāsaññāyatana).

    Nhưng Tất-đạt-đa cũng không tìm thấy nơi các vị đó lời giải cho thắc mắc của mình, nên quyết tâm tự mình tìm đường giải thoát và có năm Tỳ-kheo (năm anh em Kiều Trần Như, sa. Koṇḍañña) đồng hành. Sau nhiều năm tu khổ hạnh gần kề cái chết, Tất-đạt-đa nhận ra đó không phải là phép tu dẫn đến giác ngộ, bắt đầu ăn uống bình thường, năm tỉ-khâu kia thất vọng bỏ đi. Cách tu cực khổ được Phật nhắc lại sau khi thành đạo như sau[1]:

    Này Aggivessana, rồi Ta tự suy nghĩ như sau: "Ta hãy giảm thiểu tối đa ăn uống, ăn ít từng giọt một, như súp đậu xanh, súp đậu đen hay súp đậu hạt hay súp đậu nhỏ." Và này Aggivessana, trong khi Ta giảm thiểu tối đa sự ăn uống, ăn từng giọt một, như súp đậu xanh, xúp đậu đen hay súp đậu hột hay xúp đậu nhỏ, thân của Ta trở thành hết sức gầy yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo; vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà; vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh; vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột một nhà sàn hư nát; vì Ta ăn quá ít, nên con ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu; vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nhiu khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nhíu khô cằn. Này Aggivessana, nếu Ta nghĩ: "Ta hãy rờ da bụng", thì chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: "Ta hãy rờ xương sống", thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Aggivessana, da bụng của Ta đến bám chặt xương sống. Này Aggivessana, nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại tiện, hay đi tiểu tiện" thì Ta ngã quỵ, úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Aggivessana, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thì này Aggivessana, trong khi Ta xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít. Lại nữa, này Aggivessana, có người thấy vậy nói như sau: "Sa-môn Gotama có da đen." Một số người nói như sau: "Sa-môn Gotama, da không đen, Sa-môn Gotama có da màu xám." Một số người nói như sau: "Sa-môn Gotama da không đen, da không xám." Một số người nói như sau: "Sa-môn Gotama da không đen, da không xám, Sa-môn Gotama có da màu vàng sẫm." Cho đến mức độ như vậy, này Aggivessana, da của Ta vốn thanh tịnh, trong sáng bị hư hoại vì Ta ăn quá ít."
    Không đạt giải thoát với cách tu khổ hạnh, Tất-đạt-đa từ bỏ phép tu này. Quả quyết rằng mình đã đi đến chỗ cùng cực của công phu tu khổ hạnh và khổ hạnh không dẫn đến giác ngộ, Tất-đạt-đa tìm phương pháp khác, và nhớ lại một kinh nghiệm thời thơ ấu, lúc đang ngồi dưới gốc cây mận[1]:

    Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta biết, trong khi phụ thân Ta, thuộc giòng Sakka (Thích-ca) đang cày và Ta đang ngồi dưới bóng mát cây diêm-phù-đề (pi. jambu), Ta li dục, li pháp bất thiện chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỉ lạc do li dục sinh, có tầm, có tứ." Khi an trú như vậy, Ta nghĩ: "Đạo lộ này có thể đưa đến giác ngộ chăng?" Và này Aggivessana, tiếp theo ý niệm ấy, ý thức này khởi lên nơi Ta: "Đây là đạo lộ đưa đến giác ngộ." Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: "Ta có sợ chăng lạc thụ này, một lạc thọ li dục, li pháp bất thiện?" Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: "Ta không sợ lạc thụ này, một lạc thọ li dục, li pháp bất thiện."

    Sau đó Tất-đạt-đa ăn uống bình thường trở lại, đến Giác Thành, ngồi dưới gốc một cây Bồ-đềBồ Ðề Ðạo Tràng (Bodh Gaya) và nguyện sẽ nhập định không rời chỗ ngồi cho đến lúc tìm ra nguyên nhân và cơ chế của Khổ. Sau 49 ngày thiền định—mặc dù bị Ma vương quấy nhiễu—Tất-đạt-đa đạt giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 35. Từ thời điểm đó, Tất-đạt-đa biết mình là Phật, là một bậc Giác ngộ, và biết rằng mình sẽ không còn tái sinh. Kinh nghiệm giác ngộ của Phật được ghi lại như sau trong kinh sách theo chính lời của ngài như sau[2]:

    "... Sau khi hoàn lại sinh lực (sau khi tu khổ hạnh vô ích), ta chú tâm giải thoát khỏi những tư tưởng tham ái, bất thiện và đạt được sơ thiền, sau đó nhị thiền, tam thiền và tứ thiền (Tứ thiền), nhưng những cảm giác hỉ lạc này không để lại dấu vết gì trong tâm ta.
    Khi tâm ta được an tịnh, thanh lọc, không bị dục vọng cấu uế, nhạy bén, chắc chắn, bất động, ta hướng nó về những kí ức và nhận thức về các kiếp trước. Ta nhớ lại nhiều tiền kiếp, một, hai, ba, bốn, năm,..., trăm ngàn kiếp trước, nhớ những chu kì của thế giới. 'Nơi đó ta đã sống, tên của ta đã như thế, gia đình của ta là như thế, nghề nghiệp của ta, giai cấp xã hội của ta... Ta đã chết như vầy...'. Sự hiểu biết (sa.
    vidyā, pi. vijjā) đầu tiên này ta đã đạt được trong canh đầu [3]...
    Sau đó ta chú tâm đến sự sinh thành và hoại diệt của chúng sinh. Với con mắt của chư thiên, trong sáng, siêu việt mọi giới hạn nhân thế, ta thấy chúng sinh hình thành và tiêu hoại,...chúng sinh tái sinh theo nghiệp lực. Ta nhận ra rằng 'Chúng sinh tạo nghiệp bất thiện qua ba ải thân khẩu ý đều chìm đắm sau khi chết, tái sinh trong đoạ xứ, địa ngục. Các chúng sinh nào tạo thiện nghiệp bằng thân khẩu ý được tái sinh trong thiện đạo, sau khi chết được lên cõi thiên'... Sự hiểu biết thứ hai này ta đã đạt được trong canh hai [4].
    Sau đó ta chú tâm nhận thức về sự tiêu diệt các lậu hoặc (漏, sa.
    āsrava, pi. āsava) và nhìn nhận như thật: 'Đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là phương pháp tiêu diệt khổ, đây là con đường tiêu diệt khổ', và khi ta nhận thức được điều này, tâm ta thoát khỏi dục vọng, ham muốn tồn tại, vô minh. Ta tự hiểu chân lí 'Tái sinh ta đã đoạn, cuộc sống tu tập của ta đã hoàn tất, ta đã hoàn thành những gì phải làm. Cuộc sống (khổ đau) này ta đã vượt qua'... Sự hiểu biết thứ ba này ta đã đạt được trong canh ba [5]...".
    Bậc giác ngộ lúc đó biết rằng kinh nghiệm giác ngộ của mình không thể dùng ngôn từ hay bất cứ một cách nào khác để truyền đạt nên Phật tiếp tục yên lặng ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ-đề. Cuối cùng, được sự thỉnh cầu nhiều nơi, Phật mới quyết định chuyển Pháp luân. Phật giờ đây mang danh hiệu Thích-ca Mâu-ni—"Trí giả của dòng dõi Thích-ca". Sau đó Phật gặp lại năm vị tỉ-khâu, các vị đó nhận ra rằng Phật đã hoàn toàn thay đổi. Qua hào quang toả ra từ thân Phật, các vị đó biết rằng người này đã đạt đạo, đã tìm ra con đường thoát khổ, con đường mà các vị đó không thể tìm ra bằng phép tu khổ hạnh. Các vị đó xin được giảng pháp và vì lòng thương chúng sinh, Phật chấm dứt sự im lặng.
    Hóa độ và tịch diệt
    Đức Phật bắt đầu giảng pháp bằng cách trình bày con đường dẫn đến kinh nghiệm giác ngộ và giải thoát. Trên cơ sở kinh nghiệm giác ngộ của mình, Đức Phật giảng Tứ diệu đế, Duyên khởi và quy luật Nhân quả (Nghiệp). Tại vườn Lộc uyểnSarnath gần Ba-la-nại (Benares hay Varanasi), Đức Phật bắt đầu những bài giảng đầu tiên, gọi là "Chuyển Pháp luân". Năm vị Tỳ-kheo đó trở thành năm đệ tử đầu tiên của Đức Phật và là hạt nhân đầu tiên của Tăng-già. Sau đó Phật thuyết pháp từ năm này qua năm khác. Đức Phật hay lưu trú tại Vương-xá (zh. 王舍城, sa. rājagṛha) và Phệ-xá-li (zh. 吠舍釐, sa. vaiśālī), sống bằng khất thực, đi từ nơi này qua nơi khác. Đệ tử của Phật càng lúc càng đông, trong đó có vua Tần-bà-sa-la (zh. 頻婆娑羅, sa. bimbisāra) của xứ Ma-kiệt-đà. Vị vua này đã tặng cho Tăng đoàn một tu viện gần kinh đô Vương-xá. Các đệ tử quan trọng của Phật là A-nan-đà, Xá-lợi-phấtMục-kiền-liên. Cũng trong thời gian này, đoàn Tỉ-khâu-ni (sa. bhikṣuṇī) được thành lập.

    Cuộc đời Đức Phật cũng gặp nhiều người xấu muốn ám hại. Trong số đó, có Đề-bà-đạt-đa là người em họ, muốn giành quyền thống lĩnh Tăng-già, nên rắp tâm tìm cách giết hại Đức Phật nhiều lần nhưng không thành. Tuy thế Đề-bà-đạt-đa thành công trong việc chia rẽ Tăng-già ở Phệ-xá-li. Đức Phật đi con đường trung đạo và tùy thuận chúng sanh, ngược lại Đề-bà-đạt-đa chủ trương một cuộc sống khổ hạnh cực đoan.

    [​IMG]
    Đức Phật nhập Niết-bàn trong rừng Sàla tại Câu Thi Na.
    Sống đến năm 80 tuổi, Đức Phật Thích-ca tịch diệt. Qua 45 năm giảng dạy [có tài liệu nói là 49 năm ]nghĩ rằng các đệ tử có thể chấp lời mình nói là chân lý, chứ không phải chỉ là phương tiện giác ngộ, Đức Phật tuyên bố chưa từng nói lời nào. Lời dạy cuối cùng của Đức Phật là: "Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, chịu biến hoại, hãy tinh tiến tu học (để đạt giải thoát)!". Theo kinh Đại bát-niết-bàn (pi. mahāparinibbāna-sutta), Đức Phật nhập diệt tại Câu-thi-na (zh. 拘尸那, sa. kuṣinagara) vào năm 486 (hay 483 trước Công nguyên). Trước đó sức khoẻ của Ngài đã trở nên rất yếu sau khi dùng bữa cúng dường tại nhà thí chủ Thuần-đà (zh. 純陀, pi. cunda), tuy nhiên sau đó Ngài có nhấn mạnh cho tôn giả A-nan-đà hiểu là Tăng chúng không nên khiển trách người thợ rèn đó đã có thiện ý tối thượng.

    Đức Phật tạo điều kiện cho các chư Tỳ-kheo cơ hội cuối cùng để chất vấn hay hỏi đáp Ngài nếu như có những vấn đề hay những điểm nào còn chưa sáng tỏ có thể đưa đến các kiến giải khác nhau về sau, tuy nhiên các vị đã im lặng, không có những câu hỏi hay thắc mắc nào.

    Trong cánh rừng Sàla ven phía nam thành phố, đêm rất tối và tĩnh mịch, Đức Phật nằm nghiêng bên phía hữu, đầu hướng về phía Bắc, mặt hướng về phía Tây và dần nhập Niết-bàn thông qua các mức thiền định, một trạng thái giải thoát hoàn toàn khổ đau của cuộc sống. Theo truyền thuyết Pali thì Đức Phật diệt độ ngày rằm tháng tư, văn bản Phạn ngữ cho rằng ngày rằm tháng 11. Trong buổi hoả thiêu thân xác của Đức Phật có nhiều hiện tượng lạ xảy ra. Xá-lợi của Phật được chia làm 8 phần và được thờ trong các tháp khác nhau.

    Mặc dù cuộc đời Đức Phật có nhiều huyền thoại bao phủ nhưng các nhà khảo cổ học và nhân chủng học - vốn hay có nhiều hoài nghi và thành kiến - cũng đều nhất trí công nhận Đức Phật là một nhân vật lịch sử và người đã khai sáng Phật giáo.
    NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÀU NI PHẬT.. CẦU MONG ĐỨC PHẬT BAN DUYÊN LÀNH CHO CON ĐỂ CON MAU CHÓNG CÓ ĐỦ THIỆN DUYÊN HIỂU THÊM VỀ ĐẠO..
    chilee, bannhabancua, baotam763 người khác thích bài này.

Chia sẻ trang này