"Mở cửa" vốn vay bằng báo cáo tài chính minh bạch

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi CafeChunhat, 09/09/2010.

2168 người đang online, trong đó có 867 thành viên. 09:00 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 300 lượt đọc và 7 bài trả lời
  1. CafeChunhat

    CafeChunhat Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    13/07/2010
    Đã được thích:
    0
    Hiện cả nước có gần 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm 90% tổng số doanh nghiệp Việt Nam, đây là lực lượng sản xuất quan trọng đã tạo ra gần 50% GDP cho nền kinh tế, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Song, đến nay phần lớn những doanh nghiệp này lại đang loay hoay, khó tiếp cận các nguồn vốn, nhất là vốn ngân hàng.

    Tại hội thảo “Vai trò kiểm toán trong việc gia tăng cơ hội tiếp cận nguồn vốn của doanh nghiệp” do Hiệp hội Kế toán công chứng Anh tại Việt Nam (ACCA) phối hợp với báo Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức ngày 9/9, giới ngân hàng và kiểm toán cho rằng, việc tiếp cận vốn vay cũng không quá khó, nếu doanh nghiệp hiểu rõ và nắm bắt được các điều kiện mà ngân hàng cần.

    Bên cạnh đó, những doanh nghiệp này cũng cần phải trang bị được cho mình báo cáo tài chính minh bạch, rõ ràng. Đây là điều kiện quan trọng để các doanh nghiệp này có thể tiếp cận các nguồn vốn, kêu gọi đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh.

    Doanh nghiệp khó tiếp cận vốn vay

    Ông Trần Thanh Phong, Giám đốc Công ty nhựa và in Phú Thịnh cho biết, là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên việc tiếp cận vốn ngân hàng rất khó khăn, song do nhu cầu vốn để mở rộng hoạt động và mong muốn được sử dụng nguồn vốn ngân hàng, công ty nhiều lần tìm đến ngân hàng, nhưng đều bị từ chối.

    Hiện nguồn vốn lưu động của công ty đều do tự phải xoay sở bằng cách vay từ tín dụng ngoài ngân hàng. Lãi vay phải trả lên đến 1 tỷ đồng mỗi năm, dẫn đến chi phí hoạt động tăng, lãi giảm.

    Cũng theo ông Phong, các ngân hàng cần có chính sách “mở” hơn trong việc xét duyệt hồ sơ cấp tín dụng, nhất là yếu tố tài sản đảm bảo. Có như vậy mới giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa có thêm điều kiện tiếp cận vốn vay ngân hàng.

    “Thực tế hiện nay, trong các điều kiện tín dụng mà ngân hàng đưa ra, tài sản đảm bảo luôn là yếu tố đòi hỏi đầu tiên, vì thế rất khó khăn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa”, ông Phong nói.

    Theo một kết quả điều tra của Cục phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), chỉ có 1/3 doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng; 1/3 khó tiếp cận và 1/3 không tiếp cận được. Trong số doanh nghiệp tại Việt Nam không tiếp cận được vốn vay ngân hàng thì 80% không đáp ứng đủ điều kiện cho vay.

    Chính vì sự khó khăn này nên có nhiều ý kiến cho rằng các ngân hàng đang “gây khó dễ” với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Giải thích điều này, bà Nguyễn Thị Hương Nga, Trưởng Ban rủi ro tín dụng Ngân hàng ANZ cho rằng, điều này rất phi lý, nhất là trong bối cảnh các ngân hàng đang phải cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Thực tế, khi xem xét hồ sơ vay vốn của doanh nghiệp, ngân hàng thường quan tâm đến các yếu tố như phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư của doanh nghiệp, năng lực vốn sở hữu hiện tại của doanh nghiệp, tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh dựa trên các báo cáo tài chính…

    Chuyên gia tài chính độc lập Nguyễn Đại Lai thẳng thắn: Nguồn vốn của ngân hàng còn hạn hẹp, năng lực thẩm định còn hạn chế do đó phải thận trọng trong các quyết định cho vay. Điều làm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận vốn vì ngân hàng e ngại về “tư cách” vay vốn, về năng lực trả nợ của họ. Vì hầu hết khố doanh nghiệp này là thành phần kinh tế tư nhân và cổ phần, không có “bà đỡ” phía sau bảo đảm như doanh nghiệp nhà nước.

    Minh bạch tài chính doanh nghiệp qua kiểm toán

    Cũng theo các chuyên gia, nhiều doanh nghiệp vẫn biết rằng muốn nâng cao năng lực tài chính doanh nghiệp thì việc thông qua các báo cáo kiểm toán là tối ưu nhất, vì đây là công cụ kiểm tra tài chính cần và có thể làm tốt chức năng kiểm tra, đánh giá và xác nhận thông tin tài chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chưa thực hiện kiểm toán.

    Bà Lê Thị Hồng Len, Trưởng đại diện ACCA Việt Nam cho biết: Nguyên nhân là do chi phí doanh nghiệp sẽ “đội” lên đáng kể khi phải thực hiện kiểm toán, thậm chí nhiều doanh nghiệp còn trốn tránh vì cảm giác đây là một cuộc sát hạch, một sự kiểm tra gây khó.

    Bà Len cho rằng, không có kiểm toán, niềm tin vào năng lực tài chính của các công ty sẽ bị ảnh hưởng. Báo cáo kiểm toán có thể giúp đánh giá chính xác về tình trạng sức khoẻ tài chính và quản lý của công ty cho các bên liên quan. Như vậy, để nâng cao năng lực tài chính doanh nghiệp, dù luật có yêu cầu hay không thì kiểm toán doanh nghiệp vẫn là điều nên làm.

    Để giải quyết tốt vấn đề trên, tại hội thảo, các chuyên gia cho rằng: trước hết cần nâng cao năng lực tài chính của cả ngân hàng và doanh nghiệp.

    Muốn vậy, tài chính của doanh nghiệp phải lành mạnh, minh bạch có độ tin cậy cao với ngân hàng, đảm bảo mọi khoản vốn và tài sản được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Để thực hiện được, doanh nghiệp cần phải có một hệ thống kiểm soát nội bộ, các quy trình, quy tắc quản trị… và kiểm toán nội bộ cũng như kiểm toán dịch vụ từ bên ngoài.

    Một số ngân hàng đưa ra kinh nghiệm, các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi có nhu cầu vốn, nên tiếp cận các chi nhánh hoặc điểm giao dịch quy mô nhỏ và vừa của ngân hàng, thay vì cứ đến hội sở hoặc điểm giao dịch lớn, vì thông thường, tại các điểm giao dịch nhỏ, khách hàng có khoản vốn vay vừa phải sẽ được tư vấn và chăm sóc tốt hơn.

    Tuy nhiên, theo những ngân hàng này, để được xét duyệt hồ sơ tín dụng cấp vốn vay, các doanh nghiệp cần chú trọng 4 điều kiện tín dụng: kinh nghiệm và nhân thân; ngành, lĩnh vực hoạt động; dòng tiền của doanh nghiệp; tài sản đảm bảo của doanh nghiệp khi tiếp cận vốn vay.

    Theo đánh giá của các ngân hàng, khả năng lãi suất cho vay thỏa thuận sẽ tiếp tục giảm thêm và dần dần đi vào ổn định. Vì thế, các doanh nghiệp có phương án sản xuất, kinh doanh và đáp ứng đủ điều kiện tín dụng nên mạnh dạn tiếp cận vốn vay ngân hàng./.
  2. CafeChunhat

    CafeChunhat Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    13/07/2010
    Đã được thích:
    0
    Nhưng các công ty báo cáo tài chính minh bạch thì ít được làm giá![:p][:p][:p][:p][:p][:p]
  3. CafeChunhat

    CafeChunhat Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    13/07/2010
    Đã được thích:
    0
    Cứ vàng thau lẫn lộn cổ phiếu tốt xuống cổ phiếu lởm lên không biết thị trường sẽ đi về đâu?
  4. nantoantap

    nantoantap Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    14/07/2010
    Đã được thích:
    18
    Về cái máng lợn.
  5. nantoantap

    nantoantap Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    14/07/2010
    Đã được thích:
    18
    Dòng tiền chảy mạnh sang sàn Hà Nội

    Mở cửa phiên hôm nay, cả 2 chỉ số đều tăng điểm mạnh. Thanh khoản tại HNX áp đảo so với HoSE.
    Tại sàn Hà Nội, HNX Index đã tăng mạnh ngay từ khi mở cửa, tính đến 9h5’, HNX Index tăng 4,31 điểm (3,25%) len 136,9 điểm. Toàn thị trường có hơn 220 mã tăng giá trong khi chỉ có khoảng 20 mã giảm.
    Đáng chú ý nhất là giao dịch tại HNX rất lớn: tính đến 9h5, tổng cộng đã có hơn 15,3 triệu đơn vị được khớp, trị giá 380 tỷ đồng.
    Trong khi đó, tại HoSE tính tới thời điểm này mới chỉ có hơn 6,54 triệu đơn vị được khớp, trị giá 160 tỷ đồng.
    Phần nhiều những mã có khối lượng khớp lớn là những mã đang tăng trần như HBS, VCG, PVC, PVL, ORS.. Khá nhiều mã penny đang tăng trần.
  6. nantoantap

    nantoantap Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    14/07/2010
    Đã được thích:
    18
    Việt Nam tụt hạng mạnh về môi trường kinh doanh

    Trong báo cáo về môi trường kinh doanh toàn cầu “Best countries for business” năm nay của tạp chí Forbes, Việt Nam đã tụt 5 bậc, xuống vị trí 118 trong tổng số 128 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng.

    Với sự tụt hạng này, Việt Nam thiếu chút nữa thì rơi vào top 10 đứng từ dưới lên, theo đánh giá của Forbes.

    Năm ngoái, Việt Nam còn được tạp chí chuyên xếp hạng của Mỹ Forbes xếp ở vị trí 113 trong báo cáo thường niên “Best countries for business”, không thay đổi so với vị trí của năm 2008.

    Báo cáo năm nay của Forbes đánh giá cao nền kinh tế Việt Nam ở nhiều điểm như những nỗ lực của Chính phủ trong việc phát triển nền kinh tế theo hướng thị trường và hội nhập quốc tế, tỷ lệ đóng góp của lĩnh vực nông nghiệp vào GDP giảm từ 25% vào năm 2000 xuống còn 21% vào năm 2009, tỷ lệ đói nghèo cũng giảm xuống, các biện pháp kích thích tăng trưởng được áp dụng tích cực trong thời gian diễn ra suy thoái toàn cầu…

    Tuy nhiên, Forbes cũng chỉ ra rằng, suy thoái toàn cầu đã khiến nền kinh tế hướng ra xuất khẩu của Việt Nam yếu đi. Bên cạnh đó, thâm hụt cán cân vãng lai và môi trường đầu tư nước ngoài còn hạn chế là những điểm yếu của kinh tế Việt Nam, có khả năng gây áp lực mất giá thêm đối với tiền đồng. Cán cân thương mại của Việt Nam được Forbes ghi nhận ở mức âm 6,4%, GDP/đầu người là 2.900 USD/năm, tỷ lệ nợ công so với GDP là 53,7%.

    Xếp hạng môi trường kinh doanh của Forbes được thực hiện dựa trên việc đánh giá các tiêu chí gồm mức độ tự do hóa thương mại, tự do tiền tệ, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, năng lực sáng tạo, trình độ công nghệ, tình trạng quan liêu, mức độ bảo vệ nhà đầu tư, tình trạng tham nhũng, tự do cá nhân, gánh nặng thuế má…

    Yếu tố đánh giá khiến Việt Nam giảm điểm trong báo cáo năm nay là yếu tố bảo vệ nhà đầu tư. Ở hạng mục này, Việt Nam xếp hạng 125, tụt so với năm ngoái. Còn lại, ở các tiêu chí khác, xếp hạng của Việt Nam không có sự thay đổi.

    Có 128 quốc gia và vùng lãnh thổ được Forbes xếp hạng năm nay, từ chỗ có 127 quốc gia và vùng lãnh thổ được tạp chí này đưa vào báo cáo năm ngoái.

    Quốc gia “đội sổ” về môi trường kinh doanh năm nay, theo Forbes, là đất nước Nam Mỹ Venezuela. Những quốc gia và vùng lãnh thổ còn lại trong top 10 môi trường kinh doanh kém nhất của báo cáo phần lớn là các quốc gia châu Phi, gồm Zimbabwe, Chad, Burundi, Cameroon, Bolivia, Cote d’Ivoire, Tajikistan, Syria và Gambia.

    Nếu xét về mức độ yếu kém của môi trường kinh doanh thì Việt Nam chỉ thua top 10 này. Quốc gia láng giềng Cambodia của Việt Nam xếp ở vị trí thứ 115 trong danh sách, trên Việt Nam 3 bậc. Các nước khác trong khu vực Đông Nam Á đều có thứ hạng khả dĩ hơn như Philippines (91), Indonesia (74), Thái Lan (56), Malaysia (31), Singapore (5)… Trung Quốc xếp ở vị trí thứ 90 trong danh sách.

    Đan Mạch là quốc gia được Forbes đánh giá là có môi trường kinh doanh tốt nhất thế giới hiện nay. Năm nay là năm thứ ba liên tiếp, quốc gia châu Âu này dẫn đầu danh sách “Best countries for business” của Forbes. Đan Mạch được báo cáo ghi nhận có thu nhập quốc gia tính trên đầu người 36.000 USD/năm, cán cân thương mại dương 2,9%, tỷ lệ nợ công so với GDP là 41,6%.

    Trong top 10 môi trường kinh doanh tốt nhất còn có các quốc gia và vùng lãnh thổ Hồng Kông, New Zealand, Canada, Singapore, Ireland, Thụy Điển, Nauy, Mỹ và Anh.

    Nước Mỹ đã tụt hạng thê thảm về môi trường kinh doanh trong báo cáo của Forbes, rớt từ vị trí thứ 2 trong báo cáo năm ngoái xuống vị trí thứ 9 năm nay. Quốc gia này bị Forbes cho “điểm trừ” ở các vấn đề dài hạn như thiếu đầu tư vào cơ sở hạ tầng, chi phí lương hưu và chăm sóc y tế gia tăng, dân số lão hóa, thâm hụt thương mại và ngân sách khổng lồ…
  7. Thaile

    Thaile Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/06/2010
    Đã được thích:
    0
    Tiền về với Chứng khoán rồi,cứ CP CK BDS mà múc.
  8. CafeChunhat

    CafeChunhat Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    13/07/2010
    Đã được thích:
    0
    Hỗ trợ lãi suất 4% cho vốn vay trung và dài hạn

    Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa ban hành Thông tư số 18/2010/TT-NHNN quy định chi tiết thi hành việc hỗ trợ lãi suất đối với các tổ chức, cá nhân vay vốn trung, dài hạn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB).
    Mức lãi suất hỗ trợ cho khách hàng vay được quy định là 4%/năm, tính trên số tiền vay và thời hạn cho vay thực tế, nằm trong khoảng thời gian từ 1/4/2009 đến 31/12/2011.
    Thời hạn vay được hỗ trợ lãi suất tối đa là 24 tháng, kể từ ngày giải ngân đối với các khoản vay theo hợp đồng tín dụng ký kết trước và sau ngày 1/4/2009 mà được giải ngân trong khoảng thời gian từ 1/4 đến 31/12/2009. Các khoản vay thuộc đối tượng được hỗ trợ lãi suất bị quá hạn trả nợ, được gia hạn nợ vay, thời hạn vay thực tế vượt quá 24 tháng thì không được tính hỗ trợ lãi suất đối với khoảng thời gian bị quá hạn trả nợ, gia hạn nợ và vượt quá 24 tháng.
    Theo nội dung Thông tư, mục đích hỗ trợ lãi suất là Nhà nước hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay trung, dài hạn bằng đồng Việt Nam của các tổ chức, cá nhân tại VDB để thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất-kinh doanh, kết cấu hạ tầng và các nhu cầu phát triển vốn thực hiện hợp đồng sản xuất nhằm giảm chi phí đầu tư, tăng năng lực sản xuất-kinh doanh, khả năng cạnh tranh sản phẩm, tạo việc làm.
    Thông tư quy định: Loại cho vay được hỗ trợ lãi suất là các khoản vay trung, dài hạn bằng đồng Việt Nam theo hợp đồng tín dụng ký kết trước và sau ngày 1/4/2009 mà được giải ngân (một hoặc nhiều lần) trong khoảng thời gian từ 1/4/2009 đến 31/12/2009 tại VDB theo quy định của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, bao gồm: Các khoản cho vay theo quy định của Chính phủ về tín dụng đầu tư của Nhà nước ban hành trước thời điểm Nghị định số 106/2008/NĐ-CP có hiệu lực thi hành; các khoản cho vay theo danh mục vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước quy định tại Nghị định số 106/2008/NĐ-CP.
    Các khoản cho vay theo quy định của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, gồm: Dự án đầu tư ra nước ngoài; dự án đường ôtô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng; thanh toán chi phí đền bù, di dân tái định cư dự án thuỷ điện Sơn La; dự án vay vốn Quỹ quay vòng ủy thác; tín dụng xuất khẩu có thời hạn vay vốn vượt quá 12 tháng và các dự án khác.
    Các khoản cho vay được giải ngân để phục vụ cho các dự án vay vốn đã được cơ quan có thẩm quyền và VDB phê duyệt, gồm: Thanh toán và tạm ứng chi phí của dự án vay vốn; hoàn trả vốn tự có mà khách hàng đã tạm ứng để chi trả cho dự án vay vốn; chuyển tiền vào tài khoản tiền gửi của khách hàng để thanh toán các chi phí của dự án vay vốn.
    Về nguyên tắc hỗ trợ lãi suất là VDB cho vay các nhu cầu vốn trung, dài hạn bằng đồng Việt Nam theo cơ chế cho vay hiện hành và thực hiện hỗ trợ lãi suất theo đúng quy định của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước.
    Phương thức thực hiện hỗ trợ lãi suất là khi thu lãi tiền vay, VDB giảm trừ số tiền lãi phải trả cho khách hàng vay bằng với số tiền lãi vay được hỗ trợ lãi suất. Ngân hàng Nhà nước chuyển số lãi tiền vay đã hỗ trợ lãi suất theo quy định tại Thông tư này.
    Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/9/2010./.

Chia sẻ trang này