Một điều tối kị của trò chơi cổ phiếu

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by nantoantap, May 27, 2012.

227 người đang online, trong đó có 91 thành viên. 00:53 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 1)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. nantoantap

    nantoantap Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Jul 14, 2010
    Likes Received:
    18
    Bất động sản đầu cơ" đang là con quỷ hút máu người

    Giả định mô hình thu nhỏ giản đơn, 1 nền kinh tế có lượng cung tiền 100 đ cho vận hành toàn bộ nền kinh tế.

    Thời điểm trước đầu cơ BDS, giá trị BDS là 30 đồng, đây là giá trị của toàn bộ BDS trong nền kinh tế. Cụ thể hơn, toàn bộ lượng tiền lưu thông của nền kinh tế (100 đ) phải dành ra 30 đ cho việc đại diện giá trị cho BDS. Các hoạt động kinh tế khác xoay sở trong phạm vi 70 đồng còn lại.

    Thời điểm (sau) đầu cơ nhà đất nổ ra, giá trị BDS vọt lên 80 đồng (giá trị BDS tăng thêm 50 đ), vậy là lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế phải dành ra 80 đồng cho việc đại diện giá trị BDS, còn đâu toàn bộ hoạt động sản xuất của nền kinh tế phải tự xoay sở trong 20 đồng còn lại. Đây là nguyên do khiến nền kinh tế rơi vào tình trạng thiếu tiền như hiện nay, mặc dù 100 đ vẫn ở đó chứ không mất đi. Lượng tiền 50 đ đáng lẽ đang được lưu thông trong kênh sản xuất, tiêu dùng của doanh nghiệp và người dân thì nay bị BDS đầu cơ "túm vào, bắt cóc", nhằm phục vụ cho việc luân chuyển lòng vòng trong BDS.

    Ví dụ thằng A có căn nhà trị giá 3 tỷ (theo giá thị trường) và bán cho thằng B. Lượng tiền của thằng B giảm 3 tỷ và trong ví thằng A lại tăng thêm 3 tỷ. Thằng A thu được 3 tỷ có thể dùng để tiêu dùng hay đầu tư, nhưng thằng B bị mất 3 tỷ mua nhà nên không có cơ hội dùng 3 tỷ đó vào tiêu dùng hay đầu tư được nữa. Vậy là Hoà, nền sản xuất hay tiêu dùng của nền kinh tế vẫn không đổi trước và sau khi căn nhà được chuyển nhượng.

    Vấn đề xảy ra khi giá nhà đất tăng cao và nhanh, căn nhà lúc này có giá 8 tỷ, tăng thêm 5 tỷ so với trước đây, cũng đồng nghĩa lượng tiền 5 tỷ đã bị BDS chiếm dụng,bị "bắt cóc" vào 1 cái trò chơi lòng vòng, không lối thoát này. Và tiền phục vụ cho sản xuất, dịch vụ, tiêu dùng đã bị "cướp" mất 5 tỷ.

    Về mặt nguyên tắc, giá quả cam tăng thêm 1000 đ thì tức là nền kinh tế "bị" tốn thêm 1000 đ vào việc đại diện giá trị cho quả cam. Nhưng quả cam là thành quả và nằm trong chuỗi quá trình sản xuất, tiêu dùng nên cho dù nền kinh tế bị "bắt cóc" 1000 đ vào việc đại diện giá trị cho quả cam, thì 1000 đ này vẫn góp công tạo ra GDP.

    Kết luận: Sự tăng giá thị trường BDS đầu cơ đã "cướp bóc trắng trợn" 1 lượng tiền từ nền kinh tế, khiến cho nền kinh tế bị hụt 1 lượng máu đáng kể nhằm duy trì sự vận hành của các kênh sản xuất tiêu dùng khác. Thử hỏi 1 nền kinh tế nhỏ bé như vậy, rất cần vốn và tiền để thúc đẩy sản xuất tiêu dùng, mà đã phải lãng phí 70% giá trị vào cái trò chơi luẩn quẩn, không lối thoát thế này thì động lực đâu cho sự phát triển nữa???
    Tai hại hơn, tiền cho sản xuất kinh doanh đã bị "bắt cóc" vào BDS quá nhiều, thì nay lại tiếp tục hứng chịu thêm 1 đòn thắt chặt nữa !?
    kevin pham likes this.
    kevin pham đã loan bài này
  2. nantoantap

    nantoantap Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Jul 14, 2010
    Likes Received:
    18
    Nghiên cứu tình huống: Masan thâu tóm Vinacaphe Biên Hòa
    Nguồn tin: VIETNAMICA FINANCE | 25/05/2012 10:15:24 SA

    In tin |
    Lưu vào sổ tay |
    RSS


    M&A giữa MSN và VCF được thông tin khá nhiều và đầy đủ. Những nét chính của thương vụ này giúp hiểu rõ hơn cách thức tiến hành một giao dịch thâu tóm trong môi trường kinh doanh Việt Nam, chiến lược mở rộng qua M&A của Masan Group, và cả những gợi ý về chuyển động tương lai của MSN.

    Vì sao MSN muốn thâu tóm VCF?

    Các mặt hàng tiêu dùng: tương ớt, nước chấm, nước tương, mì ăn liền là những sản phẩm chủ lực của Masan. Năm 2010, MSN nắm giữ 70% thị phần nước tương và 45% thị phần mì gói. Đối thủ cạnh tranh gay gắt với Masan là Thực phẩm Á Châu và Acecook. Tính từ 2006, MSN đã tăng trưởng rất mau chóng ở những ngành hàng này. Bởi vậy, khi không gian tăng trưởng không còn rộng rãi nữa, MSN có nhu cầu tiến sang các ngành hàng tiêu dùng khác – cà phê là mặt hàng giàu tiềm năng.

    [​IMG]


    MSN luôn có lượng tiền mặt dồi dào, khoảng 16% tổng tài sản trong những năm 2009-10 và tăng mạnh lên 28,34% vào cuối năm 2011.
    Dư thừa tiền mặt (đơn vị: tỷ đồng)
    Năm 2009 2010 2011
    Tiền mặt và các khoản tương đương tiền 1,123.616 3,395.575 9,573.953
    Tổng tài sản 7,017.094 21,129.538 33,672.819
    Tỷ trọng trong tổng tài sản 16.01% 16.07% 28.34%
    Nguồn: BCTC hợp nhất Masan Group 2009, 2010 và 2011

    Giai đoạn 2008-2012, MSN huy động lượng vốn lớn từ các định chế tài chính quốc tế, ước đạt 1 tỷ USD.

    [​IMG]

    Lượng tiền vốn lớn gây áp lực phải tăng trưởng mạnh mẽ hơn. Tự thân MSN có nhu cầu tìm mua tài sản để tăng quy mô trong khoảng thời gian ngắn.

    MSN lựa chọn VCF với những lý do:

    •2010: VCF đang là nhãn hiệu cà phê hàng đầu Việt Nam với 40% thị phần cà phê hòa tan (35% do Nescafe và phần còn lại thuộc về Trung Nguyên và hãng khác).




    •Tăng trưởng thông qua M&A luôn được đề cao trong chiến lược hoạt động của MSN. Một thương vụ M&A tích hợp theo kiểu tổ hợp (conglomerate integration – kết hợp giữa các doanh nghiệp cùng thị trường, không cạnh tranh nhau về sản phẩm) sẽ giúp MSN gia tăng sự phong phú trong ngành hàng tiêu dùng và có được nguồn cung yếu tố đầu vào để bổ trợ cho hoạt động của MSN. VCF là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu hơn 50% vốn cổ phần sẽ được những ưu đãi nhất định trong việc sử dụng các nguồn lực kinh doanh.




    •VCF có cơ cấu cổ đông khá tập trung: Tổng công ty Cà phê (Vinacafe) nắm giữ 50,26% cổ phần; 8,63% do CTCK Beta nắm giữ; 7,7% thuộc về NĐT Trần Quang Lộc, đại diện sở hữu cho một nhóm cổ đông khác; hơn 7% thuộc về CB-CNV VCF[v].


    MSNđạt được gì khi thâu tóm VCF

    Thâu tóm VCF phù hợp với mục tiêu đã đề ra của MSN là trở thành “công ty tiêu dùng hàng đầu Việt Nam trên doanh số, lợi nhuận và thương hiệu mạnh”.

    VCF là thương hiệu cà phê hiện có thị phần cà phê hòa tan lớn nhất Việt Nam, có giá trị thương hiệu đáng kể. Thị trường cà phê Việt Nam được dự báo sẽ có mức tiêu thụ tăng khoảng 8 – 10% trong thời gian tới (mức trung bình thế giới từ 6%–7%).

    Tăng hiện diện hình ảnh và thương hiệu MSN, bổ sung giá trị cổ phiếu MSN, phục vụ chiến lược xa hơn là niêm yết trên thị trường quốc tế.

    Mua lại VCF, MSN sẽ giải ngân được lượng tiền khổng lồ đã huy động những năm trước các định chế tài chính, phần nhiều nhất là từ Hoa Kỳ.

    VCF có gì sau M&A

    Giai đoạn 2005-2010, VCF luôn đứng đầu thị trường cà phê Việt Nam về thị phần cà phê hòa tan (năm 2005 chiếm 50% thị phần, năm 2010 chiếm 40%).

    Lợi nhuận tổng tài sản và vốn chủ sở hữu VCF 2009 – 2010(8)

    Trước thời điểm chấp nhận đề nghị chào mua của MSN, VCF đang kinh doanh có lãi (lũy kế 6 tháng đầu năm 2011 lãi ròng 122.5 tỷ đồng) và đang dự kiến đưa nhà máy công suất chế biến 3200 tấn/năm đi vào hoạt động năm 2012. VCF cũng không có nhu cầu gọi thêm vốn kinh doanh.

    Lợi ích cho VCF từ thương vụ M&A này không rõ ràng.

    Diễn biến thương vụ

    •2006 – 2007: MSN muốn sở hữu 20% nhưng không thành do giá thị trường VCF lúc này bị đẩy lên quá cao.




    •2010: tại Đại hội đồng cổ đông thường niên, ông Tô Hải – Tổng Giám đốc CTCK Bản Việt được đề cử làm thành viên HĐQT VCF nhiệm kỳ 2010 – 2015. Chứng khoán Bản Việt cũng là đơn vị tư vấn niêm yết và tư vấn phát hành cho MSN.




    •28/1/2011: VCF chào sàn HOSE với giá mở cửa: 58.000đ/cp, giá đóng cửa: 53.500đ/cp.




    •Tháng 5/2011: Tổng công ty cà phê Việt Nam tuyên bố giảm tỷ lệ sở hữu tại VCF từ 50.26% (13,359,375cổ phiếu) xuống còn 38.9% (9,914,375 cổ phiếu), trên thị trường bắt đầu xuất hiện tin đồn MSN thôn tính VCF*.




    •Trước 8/2011, MSN âm thầm thu gom VCF trên TTCK với mức giá khoảng 50.000đ/CP.




    •31/8/2011, MSN gửi thông báo chào mua công khai 13,320,000 cổ phiếu của VCF tương đương 50.11% vốn điều lệ, dự kiến thực hiện từ ngày 12/9-11/10/2011 (tính đến thời điểm này MSN chưa sở hữu cổ phần nào của VCF). Tin đồn thâu tóm xuất hiện ngày càng nhiều. Các phiên giao dịch sau đó, cổ phiếu VCF tăng trần liên tiếp.




    •6/9/2011, MSN gửi thông báo chào mua tới SGDCK Hồ Chí Minh, mức giá đưa ra là 80.000đ/cổ phiếu (trong khi giá VCF đang được giao dịch trong khoảng 90.000đ/cổ phiếu). Cuối phiên giao dịch cùng ngày, MSN tăng trần lên 100.000đ/cổ phiếu và khối lượng khớp là 126.000.




    •7/9/2011, đại diện 37,3% vốn góp Nhà nước tại VCF khẳng định Nhà nước sẽ không bán phần vốn này và cũng không khuyến khích công nhân viên bán cổ phiếu họ đang nắm giữ. Tổng giám đốc VCF cũng cho biết công ty không có ý định gọi thêm vốn cổ đông trong tương lai gần vì vốn điều lệ mới điều chỉnh cho phép công ty đáp ứng đầu tư các dự án đã đề ra[xv]. Giá và khối lượng giao dịch MSN chững lại.




    •6/10/2011, liên tiếp hai cổ đông lớn của VCF tuyên bố sẽ nhượng toàn bộ cổ phần đang nắm giữ là ông Trần Quang Lộc (7,7% cổ phần tương đương 2,047 triệu cổ phiếu) và công ty chứng khoán Beta (8,63% vốn điều lệ, tương đương 2,29 triệu cổ phần). VCF cử đại diện gặp gỡ MSN để tìm hiểu kỹ mục tiêu của bên chào mua và tìm tiếng nói chung để phát triển Vinacafe Biên Hòa.




    •7/10/2011, thông qua bên thứ ba (được cho là CTCK Bản Việt), MSN mua lại toàn bộ cổ phiếu VCF mà Vinacapital, VF1, Quỹ Vietcombank, Vietnam Holding tương đương 20% cổ phần. Như vậy, cùng với số cổ phần VCF mà Tổng công ty cà phê Việt Nam đã thoái hồi tháng 5/2011 mà có thể MSN đã thu gom thông qua môi giới (tương đương hơn 3.445 triệu cổ phiếu), MSNcoi như đã thâu tóm thành công với tỷ lệ sở hữu trên 50%.




    •18/10/2011, MSN tuyên bố chính thức trở thành cổ đông VCF từ ngày 11/10/2011 sau khi mua thành công 13.32 triệu cổ phiếu tương đương 50.11% vốn điều lệ công ty.


    Phản ánh của thị trường

    Trong khoảng thời gian trước khi có đề nghị mua (từ cuối tháng 6 đến cuối tháng 8), MSN có mức giá khá vững từ 90.000đ/CP – 110.000đ/CP nhưng khối lượng giao dịch không lớn. Thanh khoản và giá chỉ thực sự tăng mạnh từ cuối tháng 8/2011 trở đi cho tới đầu tháng 10/2011.

    Nguồn: Stockbiz.vn

    Giao dịch VCFtrên thị trường với khối lượng lớn chủ yếu là từ tháng 5 đến gần cuối tháng 6/2011. Đầu tháng 5/2011, xuất hiện tin đồn thâu tóm – đây là thời gian VCF được giao dịch nhiều nhất, giá bắt đầu tăng mạnh từ dưới 50.000đ/CP lên hơn 70.000đ/CP.

    Nguồn: Stockbiz.vn
    Giá MSN và VCF chỉ thực sự tăng mạnh từ khi bắt đầu có đề nghị mua của MSNvào cuối tháng 8/2011. Với mức giá cao và liên tục tăng trong tình hình thị trường chứng khoán đang đi xuống, mà khối lượng giao dịch không đáng kể, có nhiều hoài nghi về khả năng “làm giá” MSN và VCF.

    Sau M&A

    Giá mua hơn 1,607.7 tỷ đồng so với giá trị ghi sổ 699.479 tỷ đồng trước thời điểm chào mua đã được VCF ghi nhận lại phần chênh lệch trị giá 929.648 tỷ đồng trong BCTC. Toàn bộ phần này làm tăng giá trị tài sản cố định vô hình và được phép tính khấu hao. Phần lớn nhất, trị giá 543.799 tỷ đồng ghi nhận cho nhãn hiệu. Như vậy, nhãn hiệu của VCF được đánh giá xấp xỉ 77,8% giá trị của các tài sản có thể nhận biết được tại thời điểm mua.

    Không có thông tin đánh giá về mức độ hợp lý của định giá thương hiệu và phương pháp hạch toán.

    [​IMG]

    Với VCF, cơ cấu sở hữu đã thay đổi, song hoạt động kinh doanh về cơ bản không có sự thay đổi đáng kể. Một năm sau M&A, VCF (thực chất là MSN) đã đưa ra kế hoạch kinh doanh đầy tham vọng: tới 2016 sẽ chiếm 80% thị phần cà phê hòa tan trong nước, (gấp đôi so với hiện tại) và 51% thị phần cà phê rang xay với mức tăng trưởng từ 70% – 90%/năm.



    Về hoạt động kinh doanh, năm 2011, Vinacafe vẫn là thương hiệu hàng đầu trên thị trường cà phê Việt Nam hiện đang cạnh tranh khốc liệt.

    Với Masan, chỉ vài ngày sau khi khẳng định đã thâu tóm phần đa tỷ lệ sở hữu ở VCF, MSN đã thông qua kế hoạch huy động vốn và hỗ trợ niêm yết cổ phần đang lưu hành của công ty ở nước ngoài. MSN đã dần đạt được mục tiêu tiến ra TTCK nước ngoài đề ra trước đó.

    8/2/2012, MSN công bố kết quả kinh doanh của năm 2011
  3. 123phuonganh

    123phuonganh Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Feb 29, 2012
    Likes Received:
    97
    Anh phím đê, em chốt nữa tấn cà và theo anh. [};-
  4. nantoantap

    nantoantap Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Jul 14, 2010
    Likes Received:
    18
    Bài học từ “Thập kỷ mất mát của Nhật Bản” và giải pháp cho nền kinh tế Việt Nam hiện nay (Phần 1)
    17/05/2012 — Tran Hai Yen
    Research Group
    http://pgbankresearch.wordpress.com

    ------------------

    Chính sách tiền tệ từ đầu năm đến nay liên tục nhằm vào mục tiêu giảm mặt bằng lãi suất với mục đích tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn vay ngân hàng. Cụ thể vào ngày 13/3 và 11/4 vừa qua, trần lãi suất huy động đã lần lượt giảm về mức 13% và 12%/năm. Ngày 4/5, NHNN ban hành Thông tư số 14 quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ, áp dụng với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; xuất khẩu; doanh nghiệp vừa và nhỏ; và công nghiệp hỗ trợ và đối với vốn vay ngắn hạn là 15%. Việc giảm lãi suất được thực hiện theo cùng lộ trình lạm phát giảm trong các tháng đầu năm. Đến tháng 4/2012, CPI ở mức khá thấp, chỉ tăng 0,05% so với tháng 3 và ở mức 10,54% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm, lạm phát cả nước chỉ tăng khoảng 2,6%. Tuy vậy, lại đang tồn tại một nghịch lý: Tuy lãi suất đã giảm nhưng doanh nghiệp vẫn không thể tiếp cận được với vốn ngân hàng. Về phía ngân hàng, mặc dù nguồn vốn dư thừa nhưng lại không dám cho vay.

    Theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, tính lũy kế từ đầu năm đến 16/4, tín dụng vẫn đang tăng trưởng âm 1,71%. Với 8 tháng còn lại, tín dụng sẽ tăng trưởng tối đa 12% và cả năm sẽ ở khoảng 10%, làm tổng vốn đầu tư xã hội giảm khoảng 50 nghìn tỷ đồng so với kế hoạch. Từ phân tích trên, Ủy ban kết luận chính sách tiền tệ hầu như đã không còn dư địa để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế đạt mục tiêu 6%. Do đó, nhiều chuyên gia kinh tế tăng tính đến một chính sách tài khóa, đặc biệt là chính sách nới lỏng đầu tư công. Theo họ, đã đến lúc Chính phủ ban hành một gói kích cầu và điều này có nghĩa là, phải chấp nhận nợ công có thể tăng lên. Chính vì vậy, đây là vấn đề đang gây nhiều tranh cãi.

    Vừa qua, Chính phủ đã thông qua gói hỗ trợ 29.000 tỷ đồng mà Bộ Tài chính đề xuất để giúp đỡ các doanh nghiệp. Cụ thể là giảm 30% thuế TNDN năm 2012 cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các loại hình doanh nghiệp khác, trừ doanh nghiệp kinh doanh tài chính, bảo hiểm, xổ số và doanh nghiệp có thu nhập từ sản xuất hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt; Giãn thuế GTGT tháng 4,5,6 với thời hạn giãn 6 tháng cho mọi doanh nghiệp; Giảm 50% tiền thuê đất của các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ; Đẩy manh phân bổ chi đầu tư XDCB, giải ngân và bổ sung thêm 1.000 tỉ đồng cho vay kiên cố hóa kênh mương và cho phép giải ngân một phần kinh phí tạm dừng mua sắm từ năm 2011-2012 nhằm tiêu thụ hàng tồn kho cho doanh nghiệp.


    Đây cũng cũng có thể hiểu là một gói kích cầu. Do đó, nhiều nhà kinh tế đặt câu hỏi nếu tiếp tục tăng đầu tư công thì lấy nguồn ở đâu để cân bằng ngân sách?.


    Giảm lãi suất mà tăng trưởng kinh tế vẫn chưa được cải thiện, doanh nghiệp không tiếp cận được vốn, chính phủ tính đến việc chọn giải pháp tăng đầu tư công – Trường hợp của Việt Nam hiện nay đang có những dấu hiệu gần giống những năm của thập nhiên 1990 của Nhật Bản mà người ta gọi là “thập kỷ mất mát”. Khi mà lãi suất càng giảm thì tăng trưởng kinh tế càng chậm lại, sản xuất trì trệ và Nhật Bản đã phải trả giá trong vòng 14 năm liên tiếp. Vậy nguyên nhân tại sao Nhật Bản lại rơi vào tình trạng đình đốn như vậy? Bài học nào được rút ra và các giải pháp nào sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách có những nhìn nhận về những việc cần và không cần làm? Tất cả sẽ được làm rõ trong bài phân tích này.


    Câu chuyện của Nhật Bản

    “Thập kỷ mất mát” hay “thập niên bị tước mất” (A Lost Decade) là tên gọi thời kỳ trì trệ kinh tế kéo dài của Nhật Bản suốt thập kỷ 1990. Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ sự phát triển bong bóng đầu cơ trong những năm 1980, khi các nhà đầu tư rót tiền ồ ạt vào thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán. Giá của các tài sản này vọt lên tới những mức khác thường. Có thời điểm trong năm 1988, diện tích đất ở dưới Cung Hoàng đế Imperrial Palace ở trung tâm thủ đô Tokyo trị giá hơn cả toàn bang Califfornia (Hoa Kỳ). Còn chỉ số Nikkei vào cuối năm 1989 đã chạm ngưỡng 39.000 điểm, so với con số 8.900 điểm hiện nay. Đến năm 1990, nền kinh tế bị tăng trưởng quá nóng và hậu quả dẫn đến bong bóng tài sản vỡ vào những năm 1990-1991, tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhật Bản giảm mạnh. Bình quân hàng năm trong suốt thập niên 1990, tổng sản phẩm quốc nội thực tế của Nhật Bản lẫn tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người chỉ tăng 0,5%, thấp hơn so với hầu hết các nước công nghiệp tiên tiến khác. Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng nhanh qua từng năm.


    Các nhà chính sách của Nhật Bản thời kỳ đó đã có những hành động gì?
    Về chính sách tiền tệ: NHTW Nhật Bản bị phê phán là đã chậm trễ trong việc nới lỏng chính sách tiền tệ và áp dụng một “chính sách tiền tệ đơn điệu”. Đến năm 1991, NHTW bắt đầu ứng phó với khủng hoảng bằng cách đưa ra một số chính sách tiền tệ thông thường là cắt giảm lãi suất chiết khấu. Đến khi quyết định giảm lãi suất, thì lại giảm không đủ mức; thậm chí còn vội vàng nâng lãi suất ngày khi nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi vào cuối năm 1993. Sau đó, ngoại trừ một lần ngắt quãng vào năm 1994, NHTW hạ lãi suất 8 lần trong khoảng giữa năm 1991 và giữa năm 1995. Sau đó, NHTW chuyến sang lãi suất cơ bản với mức lãi suất mục tiêu là 0,5%.
    Lạm phát giảm dần. Các chuyên gia kỳ vọng kinh tế sẽ đi lên theo tính chất chu kỳ và vì thế không cần can thiệp mạnh bằng chính sách.
    Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Nhật tăng mạnh. Các ngân hàng triển khai chính sách giãn nợ đối với các khách hàng thiếu khả năng trả nợ của mình. Hy vọng các khách hàng sẽ trả được nợ nếu không bị phá sản nên các ngân hàng thường tiếp tục cho khách hàng đang mắc nợ mình tiếp tục vay để khỏi bị phá sản (điều này càng hay xảy ra nếu khách hàng là những người đi vay lớn, và ngân hàng nhận thấy đấy là những khách hàng “too big to fail”). Mặt khác, ngân hàng e ngại rằng từ chối cho vay sẽ có thể khiến các nhà đầu tư vào ngân hàng suy diễn rằng tình hình kinh doanh của ngân hàng đang không tốt. Do biết ngân hàng sẽ không dám không cho mình vay tiếp nên nỗ lực cải thiện hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng giảm đi, và một cách tự nhiên họ càng có nguy cơ phá sản. Do đó, nguồn vốn cho vay đưa vào các khu vực không có hiệu quả, trong khi các khu vực hoạt động khác lại không đủ nguồn lực đầu tư mở rộng sản xuất. Nền kinh tế ngày càng trì trệ, nợ xấu cần tăng cao, hệ thống tài chính yếu kém.
    Đến năm 1997, cùng chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á, nền kinh tế Nhật Bản lại rơi vào suy thoái, Ngân hàng Nhật Bản đã không còn khả năng giảm lãi suất. Mặc dù Chính phủ đã can thiệp và hỗ trợ, bơm tiền cho các tổ chức tài chính, tín dụng nhưng các doanh nghiệp tư nhân vẫn không vững tâm và bắt đầu thắt chặt chi tiêu, giảm đầu tư máy móc, thiết bị. Lãi suất chiết khấu từ tháng 9/1995 tuy đã ở mức thấp chưa từng có là 0,5%, song các doanh nghiệp vẫn không dám đi vay để đầu tư. Đầu tháng 9/1998, một lần nữa, NHTW Nhật Bản lại phải tuyên bố giảm mức lãi suất này xuống còn 0,25%. Nền kinh tế Nhật Bản bị kẹt trong những trục trặc có tính chu kỳ lẫn cơ cấu và thể chế do không thích nghi được với những thay đổi nhanh chóng và biến động phức tạp của tình hình mới, gây trở ngại cho phát triển kinh tế. Năm 1998, Ngân hàng trung ương Nhật Bản thực hiện một bước đi khác thường là giảm lãi suất xuống gần bằng 0%.
    Từ năm 1998, nền kinh tế chính thức rơi vào trạng thái giảm phát. Nền kinh tế bắt đầu hình thành dự tính rằng xu hướng giảm phát sẽ tiếp tục, dẫn đến lãi suất thực tế tăng lên. Đầu tư và tiêu dùng tư nhân bắt đầu giảm mạnh và giảm phát càng nghiêm trọng hơn. Đây chính là “bẫy giảm phát” mà Nhật Bản mắc phải. Giảm phát làm cho gánh nặng nợ của doanh nghiệp lớn thêm vì nợ quá hạn gia tăng, lợi nhuận của doanh nghiệp giảm, tiền công thực tế trở nên cao hơn. Do đó, doanh nghiệp càng trở nên dè dặt trong đầu tư thiết bị khiến cho nhu cầu đầu tư tư nhân giảm làm tổng cầu giảm theo.
    Về chính sách tài khóa: Kể từ năm 1992, Chính phủ Nhật Bản bắt đầu tăng chi tiêu tài chính công để vực dậy nền kinh tế. Tuy nhiên, chính sách này không được thiết kế với mục tiêu tối đa hóa tác động vĩ mô của nó. Giá trị các gói kích cầu nhỏ, không đủ vực dậy nền kinh tế mà chỉ nhằm vào các công trình công cộng và giảm thuế chung chung , không dành cho chi tiêu vào mạng lưới an sinh xã hội và giảm thuế tiêu dùng. Do đó lại làm xấu thêm vấn đề nợ của Nhà nước. Với hy vọng cân bằng ngân sách, năm 1997 chính phủ nước này tăng thuế tiêu dùng từ 3% lên 5% – động thái được xem như là một thảm họa vì góp phần đẩy nền kinh tế tái rơi vào suy thoái.
  5. nantoantap

    nantoantap Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Jul 14, 2010
    Likes Received:
    18

    Chuyện xưa nay hiếm thấy:

    CK toàn cầu giảm

    GOLD giảm

    Dầu giảm


    >>> TỐT CHO VN

    Hàng hóa tăng:

    [​IMG]

    >>> TỐT CHO VN
  6. nantoantap

    nantoantap Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Jul 14, 2010
    Likes Received:
    18
  7. nantoantap

    nantoantap Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Jul 14, 2010
    Likes Received:
    18
  8. nantoantap

    nantoantap Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Jul 14, 2010
    Likes Received:
    18
  9. nantoantap

    nantoantap Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Jul 14, 2010
    Likes Received:
    18
    Phóng sự: Tạm bợ đời thợ

    LTS: Dù nhan nhản người đã 10, 15 lăm năm làm công nhân, chỉ phải mất thêm chừng nửa số thời gian đã tích luỹ bảo hiểm là có thể hưởng lương hưu. Cũng không ít người đưa cả đại gia đình dài đến bốn thế hệ với hàng chục con người, từ bỏ ruộng vườn, mồ mả tổ tiên lên sống tại những đô thị, cha mẹ, con cái cùng sóng bước vào cổng xí nghiệp. Có kẻ đã tha hương đến quá nửa tuổi đời, bỏ phần nhiều sức khoẻ, tuổi xuân ở các khu công nghiệp, thành vợ – chồng, sinh con đẻ cái. Nhưng hình như với họ, đời công nhân vẫn chỉ là tạm bợ. Tạm bợ từ miếng ăn, chỗ ở, công việc đến tình yêu, lẽ sống và kiếp người. Đặc biệt, trong thời điểm kinh tế khó khăn này, sự tạm bợ đó càng trở nên mong manh hơn bao giờ hết. Sau đây là ghi nhận của phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị sau những ngày làm công nhân cùng với hơn 1.000 con người khác tại doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ tên L. ở một khu công nghiệp thuộc tỉnh Bình Dương.

    Bài 1: Những bữa ăn cầm hơi

    SGTT.VN - Đúng 11 giờ 30, tiếng còi hơi réo lên inh tai như còi tàu thuỷ báo hiệu đến giờ nghỉ trưa, gần 200 con người đổ xô ra cổng, họ chen vai nhau, bước tất bật, vội vàng. Bốn tiếng rưỡi lao động buổi sáng đã xong, công nhân được nghỉ một tiếng ăn trưa.

    [​IMG]
    Tôm rim – bữa ăn trưa sang và hiếm hoi của công nhân.​

    Ăn dưới 10.000 đồng

    Trong xưởng giờ chỉ còn lại gần chục người, hầu hết là phụ nữ. Uể oải, bà Thành ngồi bệt xuống nền, bật nắp hộp cơm bằng nhựa mang theo, bên trong, chừng hai lưng cơm và miếng cá khô chiên cháy bằng ba ngón tay. Ít nhất, đã ba ngày nay, phần ăn của bà không thay đổi. Cạnh đó, phần ăn của bà Ba sang hơn, hai trái trứng vịt luộc, thêm chén canh suông. Hảo, người dân tộc thiểu số, chạy đi múc miếng nước đổ vào ấm điện (xưởng dùng để nấu nước sôi tẩy rửa) và bóc mì gói làm canh. Trong gần chục gô cơm trưa hôm đó, chỉ duy nhất một phần có thịt, bốn miếng nhỏ cỡ ngón tay cái. Một người biết đi chợ cũng tính ngay được không phần ăn nào quá 10.000 đồng, cho dù, công ty trả tiền ăn 13.000 đồng/bữa.

    Chỉ chừng năm phút, tất cả đã nuốt xong cơm. Bà Thành bước ra bình nước, cầm ca, ngửa cổ uống đến “ực” một cái. Trước cái nhìn tò mò của một công nhân mới, bà cười ngượng: “Hôm nay lại cá khô”. Bốn tiếng rưỡi toàn đứng và đi, bước thêm vài ba trăm mét về phòng trọ dưới trời nắng như đổ lửa cũng trở nên nặng nhọc với người đã ngoài 40 tuổi.

    Cách đó ngoài trăm bước chân, quán cơm bụi cũng tấp nập, nhưng toàn là dân phụ hồ. Dù xưởng có gần 200 công nhân, chỉ có hai người ghé ăn, một đang bệnh nặng, một bị hỏng xe. 15.000 đồng một phần, cơm thêm, trà đá thoải mái. Người bệnh tên Diễm An xuýt xoa: “Mắc hơn nấu nhưng em đi không nổi”. Cuối năm ngoái, cô bị tai nạn, tưởng chết, một mảng hộp sọ còn đang gửi ở bệnh viện chờ khi có đủ tiền mới lắp vô. Trưa nay không thấy cô “tự bồi dưỡng” bằng một hộp sữa tươi Vinamilk như mấy ngày trước vì buổi sáng, cô đã uống nó thay ăn.

    Bữa sang

    Thường lệ, cứ gần 6 giờ sáng, Tráng đi chợ mua đồ ăn cho cả ngày. Mang tiếng là “đi chợ” nhưng chỉ là bước ra cái quán tạp hoá gần đó. Rau: bữa thì bó muống già, khi lại cây cải thảo bằng bắp tay, hoặc mấy trái cà chua, dưa leo… Tất cả đều chia đôi, bữa trưa nhiều hơn chút. Mặn: vài ba quả trứng vịt, đậu hũ hoặc cá khô. Ngày hôm trước, sau khi cho tôi, người mới ở cùng phòng được nếm bữa trưa bằng hai quả trứng chiên mặn chát cộng nửa lon cá hộp và bữa tối bằng tô mì gói một trứng vào 9 giờ đêm (sau khi tăng ca về), nên hôm nay Tráng đãi tôi món tôm rim. Hành trình đi mua tôm sáng hôm đó lại phức tạp, cửa hàng tạp hoá không bán đồ tươi sống (thịt, cá) nên Tráng phải gửi 40.000 đồng để chủ quán mua giúp, trưa ghé lấy. Vừa đảo 15 con tôm sú nhỉnh hơn đầu đũa trong cái chảo đã cụt cán, người thanh niên 25 tuổi này chặc lưỡi: “Tôm to ghê!” “Hôm nay ăn sang thế?”, tôi hỏi. “Đãi anh đấy! Lâu lâu mà”, Tráng nói. Vào bữa, cả chủ và khách cùng để ý nhau “gắp đi anh”, mỗi chén cơm một con, khách ăn ba, chủ ăn hai. Số tôm còn lại ăn đến tối hôm sau mới hết.

    Đã bảy năm bám trụ ở công ty, Tráng đã có tiền trách nhiệm, tháng nào thấp nhất cũng lãnh được 3,5 triệu đồng, khi nào có tăng ca, tiền lương tăng thêm khoảng 1 triệu đồng nữa. Kế hoạch chi tiêu của chàng thanh niên chỉ nặng 45kg này gói khá gọn: ăn một ngày (hai bữa) tối đa 20.000 đồng, kể cả mắm muối. Mỗi tháng, tiền phòng trọ cộng tiền điện nước: 400.000 đồng, ăn sáng: 250.000 đồng, mọi thứ lặt vặt khác: 100.000 – 200.000 đồng nữa. Không càphê, quán xá, một ngày hút ba điếu thuốc loại rẻ nhất, thỉnh thoảng nhậu tại phòng với mấy bạn trong khu trọ, tiền rượu là chính, 12.000 đồng/lít. Chấm hết. Nhẩm tính, mỗi tháng một công nhân chỉ xài hết 1/3 thu nhập của mình.

    Tuy đi chợ từ sáng sớm, nhưng không ai nấu ăn sáng, họ chỉ cắm nồi cơm, rửa rau, ướp đồ ăn để trưa về nấu cho nhanh. Như hầu hết công nhân ở đây, cả hai anh em chúng tôi ghé vào xe bánh mì ngay cổng xưởng mua hai ổ, loại lớn 8.000 đồng, nhỏ 7.000 đồng. Đồ ăn sáng có năm loại: xôi (rẻ nhất), bánh mì, bún, mì – hủ tíu gõ, phở. Giá cao nhất 10.000 đồng/tô. Tráng chậm rãi gặm, vừa đến nửa ổ, cậu ta gói lại “để dành đến nửa buổi ăn tiếp” vì lúc đó ai cũng đói. Tráng hay ăn bánh mì vì vừa đỡ 3.000 đồng, vừa để dành được.

    Bồi dưỡng mì gói

    Tối nay tăng ca, công nhân được nghỉ nửa tiếng đi ăn, từ 6 – 6 giờ 30 phút. Chẳng ai về nhà ăn cơm kịp vì thời gian ngắn quá, mọi người ra quán hoặc nhịn. Lại những món buổi sáng, có thêm cháo vịt. Ngoài Tráng, tôi rủ thêm hai vợ chồng công nhân, bốn tô cháo dọn ra, rau trộn sẵn, kèm ba miếng thịt vịt mỏng và miếng tiết heo. Bàn bên cạnh, mấy cô cậu công nhân trẻ, vừa ăn vừa tán tỉnh nhau, nhưng khi tính tiền cũng phần ai nấy trả. Góc bên kia, Hảo đang đứng một mình, cô nhịn. Bà Thành ngồi lại trong xưởng, sáng nay bà mang thêm hai củ khoai lang luộc.

    8 giờ 30 tối, ngày làm việc đã cạn. Sau 12 tiếng đồng hồ chỉ đứng và đi, đôi chân bây giờ như muốn rụng ra. Cả hai ghé vô quán mua ba gói mì, hai quả trứng gà công nghiệp (một gói mua giùm cho một công nhân đang có bầu ở cùng dãy trọ) và hai bịch dầu gội. “Sao không mua luôn cả thùng mì, vừa rẻ hơn vừa đỡ mất công”, tôi hỏi. “Mua nhiều sẽ ăn nhiều, nhanh hết”, Tráng nói. Khát nước quá, tôi lấy thêm hai chai nước Trà xanh không độ trước sự can ngăn của Tráng. Tu được nửa chai, cậu ta dừng lại, vặn nắp “để dành buổi tối”. Ở phòng, bình nước 20 lít giá 7.000 đồng sau ba tháng uống đã cạn trơ từ hai hôm trước, nhưng phải đợi chủ nhật, Tráng mới đi mua vì “giờ chưa đến tháng”.

    Tôi cầm gói mì mua giùm sang phòng trọ kế đó cho bà bầu, tên Hoa Định, vừa để làm quen. Năm nay cô 38 tuổi, người ngoài Bắc, đã làm cho công ty 11 năm. Vừa vác bụng bầu bảy tháng, vừa pha mì, Hoa Định kể: “Bây giờ có thai em còn ăn, ngày trước em nhịn luôn”. Tô mì gói và vài lát dưa leo nghi ngút khói, cô ăn uể oải, hết một nửa thì dừng lại, có lẽ vì ngán. 12 tiếng đứng máy khoan đã vắt kiệt sức của người sắp làm mẹ này, nhưng trong ánh mắt cô, luôn đau đáu một nỗi giày vò “chẳng có ai bên cạnh khi em chuyển dạ…”

    BÀI VÀ ẢNH: VĨNH HOÀ

    Bài 2: Bán sức mua bệnh
  10. nantoantap

    nantoantap Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Joined:
    Jul 14, 2010
    Likes Received:
    18
    Bài 2: Bán sức mua bệnh

    SGTT.VN - Một tuần qua, công ty tăng ca cả sáu ngày, ba ngày mười tiếng, ba ngày 12 tiếng, ngày chủ nhật làm tám tiếng. Những bữa ăn cầm hơi, làm cho tiếng dép cuối ngày kéo lê trên mặt đường nặng và dài hơn ban sáng. Phải trải qua 10 – 12 giờ chỉ đứng và đi, mới hiểu vì sao công nhân ở đây chọn cái tư thế ngồi rất xấu, lực dồn về mũi bàn chân, áp ngực và bụng vào đùi, cằm và tay kê đầu gối để giãn cơ và khớp. Nhưng ai cũng mong tăng ca nhiều để có thêm tiền.

    [​IMG]
    Thú vui duy nhất mỗi ngày của Tráng là vừa ăn trưa (cơm và rau trộn chung) vừa cho con ba ba lớn chừng lòng bàn tay vài hạt cơm.​

    Cơn đói vàng mắt

    Mới 9 giờ 30 sáng, sau hai tiếng rưỡi làm việc, như bao người khác, mỗi khi rảnh đôi tay, bà Thành lại rờ bụng mình. “Đói chứ sao nữa!”, bà lẩm bẩm. Mà đói thật, cái bụng bắt đầu sôi ọc ọc mỗi khi đi uống nước, chẳng qua lúc bận tay người ta tạm quên đi. Ổ bánh mì hay tô bún lõng bõng buổi sáng giờ đã tiêu đi đâu hết. Lúc này, Tráng móc nửa ổ bánh ăn tiếp, ăn lén vì bị cấm trong giờ làm việc.

    Tốc độ làm việc bây giờ chỉ bằng hai phần ba của ban sáng, dù công việc cũng nhẹ nhàng. Các tổ, các chuyền bắt đầu rề rà, bước đi chậm chậm, cái đưa tay chuyền hàng, cái ngoái cổ nghe tiếng gọi cũng chậm. Tiếng bắn vít, tiếng cưa rọc, bào, chà nhám… thưa đi. Lúc này, nơi uống nước và nhà vệ sinh đông người hơn. Trong các tổ, bắt đầu đứng nghỉ vì một thành viên đi vệ sinh hay uống nước. Cầm ca nhỏ trong tay, bà Ba vặn vòi, nhưng khi nước đầy, bà lại đổ đi, hai ba lần mới uống, cách ngửa cổ và tiếng nuốt không phải của kẻ khát. Uống xong, bà treo cái ca cẩn thận và đi chậm như đếm bước trở lại chuyền. “Chậm chậm thôi chú!”, bà Ba luôn miệng nhắc nhở kẻ mới vô. Ở khu vệ sinh, năm cái toalét luôn đóng kín, người ta vô đó ngồi hút hết điếu thuốc khiến nhiều người phải đứng ngoài chờ, chờ lâu nhưng chẳng ai thấy khó chịu. Những lời khuyên rất chân thành và liên tục dành cho kẻ mới vô làm: “Cứ làm tàn tàn!”

    10 giờ 30, trong xưởng đã nóng như lò lửa, lúc này cái đói đã không còn giấu hình hài, nó hiện lên xám xịt trên khuôn mặt của hơn trăm con người. “Hôm nay đói ghê! Đói vàng cả mắt!”, Tráng xoa bụng và lắc đầu trước lời mời làm điếu thuốc cho đỡ đói. Con mắt bây giờ, thay vì nhìn xuống bàn lại chỉ nhìn vào người quản lý xem họ đang ở đâu và nhìn vào cái đồng hồ treo ở đầu xưởng. Lời khuyên “chậm chậm” được thay bằng lời đề nghị như đuổi “sao không đi uống nước, toalét, không hút thuốc à, lâu một chút nhé…” Càng đến gần giờ nghỉ, mọi thứ càng rề rà như phim quay chậm, người đi ra khỏi vị trí nhiều hơn người đứng. Chỗ ít bị để ý, không đẩy hàng mới ra làm.

    Nuôi bệnh


    Tráng kể, căn bệnh viêm mũi, viêm xoang đã đeo vào người mấy năm nay, nhưng những tiếng ho khan suốt đêm, liệu chừng chỉ là viêm xoang hay mũi. Dù mỗi xưởng có đến ba dàn máy hút bụi khổng lồ hoạt động suốt ngày, bụi từ chà nhám, khoét mộng gỗ vẫn bay dày đặc, nhìn giống như sương mù. Ai cũng đeo khẩu trang, nón mũ nhưng lúc nào cũng khụt khịt. Chứng bệnh viêm hô hấp lan rộng, nhưng có lẽ là điều bình thường vì ai làm một thời gian cũng bị.

    Cứ đến cuối giờ làm, mọi người tranh thủ đứng xúm xít ở chỗ vòi hơi xịt bụi, những mái tóc, lỗ mũi, quần áo bạc trắng. Vừa hỉ mũi, bà Trang, một công nhân chà nhám, vừa kể: “Chị bị lâu lắm rồi, tối về thở không được. Ban đầu còn uống thuốc, sau này bỏ luôn vì không tác dụng”. Sợ không tin, bà ngửa luôn cái khăn mặt vừa lau mũi ra, một vệt đàm mũi đặc quánh, màu vàng nhạt pha lẫn màu nâu.

    Trong các công đoạn sản xuất ra bàn ghế, nguy hiểm nhất là khâu cắt và khoét mộng. Một công nhân ở khâu này tên Danh, ngừng tay, chỉ ba người gần đó và hỏi kẻ tò mò: “Có thấy họ đeo bao và một bàn tay lớn, một bàn tay nhỏ không? Tất cả đều bị máy cưa đứt đó! Hồi tháng trước, có một ông bị, may sao mới cụt ba ngón, còn lại ngón trỏ và cái. Hai người trước bị thương đã lâu, đều cụt hết bốn ngón”. Đấy là tai nạn nặng, còn dập tay (đút vào máy chà nhám) hay dăm gỗ, vít cắm vào người là chuyện thường. Hỏi thêm mới biết các máy cắt, khoan, chà nhám cũng an toàn, nhưng do công nhân làm ẩu, chủ quan nên mới bị tai nạn. Liên tưởng đến những bữa ăn mà năng lượng nạp vào không tương xứng với sức bỏ ra và những cơn đói cuối buổi của người công nhân nơi đây, mới hiểu, chuyện tai nạn rất dễ xảy ra. Đói mờ mắt làm sao tập trung.

    Năm phút trước tan ca, đứng lùi lại chút để nhìn rõ hơn cái cổng xưởng, nơi gần một trăm con người đang nhấp nhổm chờ còi, mới thấy rõ cái vẻ tiều tuỵ, kết quả của những tháng ngày đói ăn, khát uống, mất vệ sinh. Đàn ông, thanh niên chỉ dăm ba người cao được 1,7m, hầu hết chỉ 1,6 trở xuống, ai cũng đều gầy gò trơ xương. Phụ nữ, những cô đang tuổi lớn và thời kỳ đẹp nhất của thời con gái ba vòng cứ phẳng lỳ, bà có tuổi bụng chướng to lên, như đang mang thai. Tất cả có một điểm chung là màu da xam xám, dấu hiệu của bệnh hô hấp và những bàn chân gân guốc, to bè vì đứng nhiều.

    [​IMG]
    Bịch rác hai ngày quên chưa vứt của Hoa Định: hai vỏ trứng, một hộp cá và bịch mì gói sau tăng ca.​

    Ở cùng chuột, gián

    Trở về phòng trọ sau một ngày bụi bặm, Tráng nhường kẻ mới vào làm tắm trước. Dưới ánh đèn mờ mờ, cái nhà tắm công cộng rộng 80cm, dài 4m, sâu như cái hang và nồng nặc mùi chất thải. Trên trần mạng nhện giăng kín, tường rêu xanh đen, nền ximăng đã tróc gần hết lấp xấp nước vì nghẹt lỗ thoát, chuột và gián thi nhau sục sạo, giành chỗ. Trong cùng, chiếc bồn cầu nhiều màu đã vỡ, phân và giấy vương vãi. Chiếc vòi cấp nước tắm duy nhất trên đỉnh đầu buộc ai tắm cũng phải gội. Tới lượt, Tráng bước vào, trên tay chỉ có bịch dầu gội giải quyết từ đầu tới chân, cậu ta không dùng xà bông.

    Tôi ngồi tại phòng bà bầu Hoa Định tán dóc trong khi chờ Tráng loay hoay nấu bữa cơm tối. Đóng cửa thì ngại, nên cô Hoa Định phân công tôi ngồi luôn ngay cửa ra vào để đuổi lũ chuột hay mò vào phòng, còn gián thì vô phương, thỉnh thoảng, một con lại bay đánh xè vào tường. Cái chỗ nằm của cô và của em bé tương lai chỉ rộng chừng 1,2m, nó vốn là chỗ tắm được cải tạo lại. Muốn vào ngủ, chỉ có thể bò, không khéo đầu sẽ đụng trần.

    9 giờ 30 tối, Tráng mắc mùng, tắt đèn và đóng chặt cửa để chống trộm và chuột, gián bò vào. Phòng trọ hơn 8m2 bỗng thành cái hòm. Chỗ đáng ra để nằm lại là nơi dựng chiếc xe máy Tàu cũ kỹ. Góc gần quạt lại để đồ, thành thử hai thằng đàn ông phải nằm sát lại nhau. Đầu đụng đám quần áo treo ở trên, chân thỉnh thoảng chạm vào cái thau hay cái nồi rách. Chiếc quạt chỉ còn trơ cánh quay như xua ruồi. Phòng trọ thành phòng xông hơi dù trên người hai đứa chỉ còn cái quần cụt. Cả đêm hôm ấy Tráng ho, tiếng ho khan như có cái gì đó đang mắc nghẹn trong cần cổ, trong lồng ngực lép kẹp.

    BÀI VÀ ẢNH: VĨNH HOÀ

Share This Page