Năm lý do để lạc quan về du lịch Việt Nam

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi nganguyen6, 22/05/2008.

365 người đang online, trong đó có 146 thành viên. 05:52 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 629 lượt đọc và 4 bài trả lời
  1. nganguyen6

    nganguyen6 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    09/06/2006
    Đã được thích:
    0
    Năm lý do để lạc quan về du lịch Việt Nam

    Năm lý do để lạc quan về du lịch Việt Nam
    n Tuấn Dương

    Du lịch Việt Nam vừa tổng kết một năm thắng lợi, khi toàn ngành đã hoàn thành các mục tiêu kế hoạch năm 2007.

    Cả nước đón 4,2 triệu lượt khách quốc tế, 19,2 triệu lượt khách nội địa. Thu nhập 56.000 tỷ đồng. Nhịp độ tăng trưởng khá cao, tăng hơn năm trước 17%.

    Đây là lần đầu tiên du lịch Việt Nam đạt kỷ lục tăng trưởng về lượng khách quốc tế: một năm tăng được 600.000 khách đến. Hàng chục năm trước đây, con số này đều ổn định ở mức 300.000. Năm cao nhất cũng không quá 500.000. Chất lượng và hiệu quả kinh doanh du lịch cũng đã tăng đáng kể, vì lượng khách tăng chủ yếu từ các thị trường có sức chi trả cao.

    Du lịch hiện đã trở thành ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, là ngành xuất khẩu tại chỗ lớn trong các ngành kinh tế quốc dân. Du lịch là ngành xuất khẩu đứng trong nhóm 5 những ngành hàng có giá trị xuất khẩu cao nhất (sau dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản), với kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD mỗi năm.

    Tại Hội nghị tổng kết du lịch năm 2007, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh đưa ra mục tiêu đón 5 triệu khách quốc tế trong năm 2008 và du lịch sẽ về trước kế hoạch 1 năm, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch 2010 ngay trong năm 2009. Ông cũng đưa ra những căn cứ cho mục tiêu này.

    Thứ nhất, 4-5 triệu khách là cao so với ta hơn 10 năm trước, nhưng là thấp, thậm chí rất thấp so với Malaysia 17 triệu, Thái Lan 13 triệu, Singapore 10 triệu khách hiện nay. Năm 2007 đã tăng thêm được 600.000, thì năm 2008 hoàn toàn có thể tăng 800.000 và 2009 sẽ là 1 triệu. Chỉ tiêu kế hoạch năm 2010 hoàn toàn có thể đạt ngay trong năm 2009.

    Tăng thêm 1 triệu khách không có nghĩa là du lịch Việt Nam phải quảng bá, xúc tiến trực tiếp đến 1 triệu người mà là dựa vào số lượng khách đến Việt Nam đã đông hơn, hãy quảng bá tại chỗ thật tốt để "một đồn mười". Chính người đã đến sẽ tuyên truyền cho người sẽ đến.

    Thứ hai, chỉ tiêu tăng trưởng du lịch không chỉ là lượng khách mà là hiệu quả, là tổng thu nhập du lịch hàng năm. Có nước, về lượng khách thì không có tên trên bản đồ thế giới, nhưng về thu nhập thì đứng hàng "top ten" như Australia chẳng hạn. Đối với Việt Nam, ta rất cần chú trọng hướng đi này.

    Hiện nay, một khách du lịch đến, ta thu về 800 USD (tương đương xuất khẩu 4 tấn gạo). Hoàn toàn cần thiết và có thể nâng chỉ tiêu này lên 1.000 USD hoặc cao hơn nữa, và như vậy, đến 2010 thu nhập du lịch Việt Nam sẽ không chỉ là 4,5 tỷ USD mà là 6-7 tỷ USD hoặc cao hơn nữa.

    Thứ ba, chỉ tiêu tăng trưởng cả qui mô, số lượng lẫn hiệu quả đó sẽ không là cao nếu nắm bắt được và tận dụng tối đa những cơ hội, thời cơ mới đã xuất hiện. Việt Nam ngày càng nổi lên như một điểm đến an toàn thân thiện. Du lịch gắn liền với hòa bình, an ninh và ổn định. Vị thế Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

    Hiệu ứng của năm APEC Việt Nam, thành viên WTO, ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, hàng loạt Diễn đàn, Hội nghị quốc tế, sự kiện ngoại giao, kinh tế, văn hóa, thể thao quốc tế tổ chức tại Việt Nam... Những nhân tố mới này là thời cơ chung của cả nền kinh tế, nhưng trước hết và trực tiếp nhất là ngành du lịch phải nắm lấy và biến thành sức mạnh vật chất, thành động lực tăng trưởng.

    Thứ tư, du lịch Việt Nam tuy còn trong giai đoạn đầu phát triển, song sức mạnh toàn ngành đã khác. Nhận thức của xã hội, cộng đồng dân cư, các ngành, các cấp về du lịch đã được nâng cao. Lực lượng du lịch đã dồi dào. Có tới 800.000 lao động trực tiếp, gián tiếp trong lĩnh vực du lịch. Trong đó, 6.000 hướng dẫn viên, đã khá về nghiệp vụ, thạo nhiều ngoại ngữ. Hàng ngàn doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa, 600 hãng có giấy phép lữ hành quốc tế.

    Hơn 2.000 khách sạn đã đủ tiêu chuẩn gắn sao. 256 khách sạn từ 3-5 sao. Các tập đoàn quản lý khách sạn nổi tiếng thế giới đã có mặt tại Việt Nam. 235 dự án FDI với tổng số vốn đầu tư trên 6 tỷ USD đang phát huy tác dụng. Các nhà đầu tư trong nước cũng có các dự án lớn trong lĩnh vực du lịch. Hành lang pháp lý trong du lịch đã khá đầy đủ. Công tác quảng bá xúc tiến du lịch đã dần thạo nghề và tích luỹ được nhiều kinh nghiệm. Đã đến lúc du lịch Việt Nam phát huy mọi nguồn lực để đi lên với tốc độ mới lớn hơn.

    Thứ năm, mục tiêu phát triển, chỉ số tăng trưởng của du lịch Việt Nam cần và có thể đặt ra ở mức cao hơn cả số và chất lượng còn dựa trên nhân tố rất quan trọng, quyết định tất cả, là tổ chức bộ máy quản lý ngành. Quản lý Nhà nước về du lịch không còn ở cấp Tổng cục mà được nâng lên cấp Bộ. Nhiều vấn đề trước đây Tổng cục lực bất tòng tâm, nay sẽ được giải quyết ở cấp Bộ. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch - 3 trong 1, không phải là phép cộng hành chính đơn thuần mà là phép nhân sức mạnh.

    Công tác quản lý Nhà nước được nâng lên cấp Bộ sẽ có điều kiện tốt hơn trong chỉ đạo điều hành kế hoạch phát triển, trong đầu tư xây dựng sản phẩm du lịch. Vốn đầu tư trùng tu nâng cấp di sản văn hoá, di tích lịch sử sẽ được tập trung, cùng chiều nhằm sớm tạo ra sản phẩm, tour tuyến du lịch đưa vào sử dụng hàng năm kịp thời.

    Sự kiện du lịch lớn nhất trong khu vực, lần đầu tiên sẽ được tổ chức tại Việt Nam sau đúng một năm nữa - Diễn đàn Du lịch ASEAN (ATF) bao gồm cả Hội nghị Bộ trưởng Du lịch ASEAN, ASEAN + 3, Hội chợ Du lịch quốc tế TRAVEX - cũng sẽ phải được tổ chức tốt hơn, chuyên nghiệp hơn, khi có Bộ.

    Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao. Quản lý Nhà nước về Du lịch là cấp Bộ sẽ có điều kiện giải quyết tốt các mối quan hệ liên ngành, liên vùng này, trước hết là những vấn đề về giao thông, đường không, đường bộ, đường biển, là thủ tục đi lại, là các trung tâm thương mại, mùa giảm giá, chính sách hoàn thuế giá trị gia tăng để khuyến khích xuất khẩu qua du lịch...

    Chắc chắn việc thiết kế hợp lý và vận hành thông suốt Bộ mới sẽ là nhân tố quyết định đảm bảo tổ chức thực hiện thành công những mục tiêu nhiệm vụ đang đặt ra cho ngành du lịch Việt Nam.

    http://vneconomy.vn/?home=detail&page=category&cat_name=15&id=c8ab73925450e2
  2. nganguyen6

    nganguyen6 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    09/06/2006
    Đã được thích:
    0
    Khách quốc tế đến Việt Nam tăng "kép"
    Dương Ngọc

    Khách quốc tế đến Việt Nam có tác động "kép". "Kép" ở đây không chỉ được hiểu theo nghĩa là hai, mà cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn, hàm chứa nhiều tác động hơn là ba, là bốn hay nhiều hơn nữa. Vậy ba, bốn hay nhiều hơn nữa là những gì?
    Trước hết, lượng khách quốc tế đến Việt Nam gia tăng gần như liên tục. Năm 2007 đã tăng 18% so với năm 2006, cao gần gấp đôi năm 2000 và gấp trên 1,3 lần năm 1995.

    Thứ hai, khách quốc tế đến từ hàng trăm nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Có 13 nước và vùng lãnh thổ có số khách đến Việt Nam đạt trên 100 nghìn lượt người.

    Khách quốc tế đến từ khắp nơi trên thế giới

    Đông nhất là khách Trung Quốc (574,6 nghìn lượt người), tiếp đến là Hàn Quốc (475,4 nghìn lượt người), Nhật Bản (418,3 nghìn lượt người), Mỹ (408, 3 nghìn lượt người), Đài Loan (319,3 nghìn lượt người), Australia (224,6 nghìn lượt người), Pháp (183,8 nghìn lượt người), Thái Lan (167 nghìn lượt người), Malaysia (153,5 nghìn lượt người), Campuchia (150,2 nghìn lượt người), Singapore (138,2 nghìn lượt người), Anh (107,5 nghìn lượt người), Đức (101,8 nghìn lượt người)...

    Những nước và vùng lãnh thổ có lượng khách quốc tế tăng cao hơn tốc độ chung, như Nga, Malaysia, Italia, Hồng Kông, New Zealand, Pháp, Hà Lan, Thái Lan, Đức, Bỉ, Singapore, Australia, Anh, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Canada, Phần Lan.

    Phần đông các nước và vùng lãnh thổ trên có thu nhập cao, nên khách chi tiêu bình quân một ngày nhiều hơn, ở dài ngày hơn.

    Thứ ba, do lượng khách tăng, khách đến từ các nước giàu tăng cao hơn, nên lượng ngoại tệ có từ chi tiêu của khách quốc tế đã tăng qua các năm và đây cũng là một kênh thu hút một lượng ngoại tệ không nhỏ.

    Năm 2005 đạt 2,3 tỷ USD, năm 2006 đạt 2,85 tỷ USD, năm 2007 ước đạt 3,33 tỷ USD và chiếm 55,2% tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ cả nước, cao nhất trong các nhóm dịch vụ xuất khẩu (dịch vụ vận tải hàng không 1.071 triệu USD, chiếm 17,8%, dịch vụ hàng hải 810 triệu USD, chiếm 13,4%, dịch vụ tài chính 332 triệu USD, chiếm 5,5%, dịch vụ bưu chính viễn thông 100 triệu USD, chiếm 1,7%, dịch vụ bảo hiểm 85 triệu USD, chiếm 1,1%, dịch vụ chính phủ 45 triệu USD, chiếm 0, 7%, dịch vụ khác 277 triệu USD, chiếm 4,6%).

    Cần chú ý, nếu các dịch vụ khác tính xuất khẩu ròng (tức là trừ đi phần nhập khẩu tương ứng) thì nhiều loại còn mang dấu âm (như dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ khác, hoặc một số loại dịch vụ mà nhập khẩu đã tính cước, phí I, F hàng nhập khẩu).

    Nguồn thu hút ngoại tệ, đầu tư

    Không những thế, lượng ngoại tệ thu hút được từ chi tiêu của khách quốc tế có chăng chỉ thấp thua lượng ngoại tệ thu được từ các kênh kiều hối (khoảng trên dưới 6 tỷ USD), kênh đầu tư trực tiếp nước ngoài (khoảng 4,6 tỷ USD), còn cao hơn kênh vốn đầu tư hỗ trợ phát triển chính thức (trên 2 tỷ USD), vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (nếu tính theo vốn gốc cũng chỉ hơn 2 tỷ USD).

    Thứ tư, đây là một hình thức giới thiệu có hiệu quả, trực tiếp thông qua chân đi, mắt thấy, tai nghe về một đất nước, một dân tộc không chỉ biết đến kháng chiến mà còn đổi mới thành công với nhiều thành tựu về ổn định chính trị, xã hội, phát triển kinh tế làm thay đổi bộ mặt đất nước; một dân tộc thân thiện với bạn bè quốc tế, một đất nước có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh nổi tiếng, nơi có nhiều món ăn ngon với giá cả tính bằng USD rất rẻ mà nhiều khách quốc tế đã gọi Việt Nam là "bếp ăn" của thế giới...

    Thứ năm, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng lên vừa là kết quả, vừa là thể hiện chính sách thông thoáng, khuyến khích, tạo điều kiện của Chính phủ Việt Nam để tạo sự thuận tiện cho khách đến Việt Nam.

    Thứ sáu, du lịch, khách đến vì công việc tăng cao cũng tạo điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam đầu tư, kinh doanh, làm ăn gia tăng khi Việt Nam mở cửa sâu, rộng hơn với thế giới, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO, tham gia các tổ chức, các định chế quốc tế,...

    Quan hệ ngoại giao đã lên đến 170 quốc gia, quan hệ đầu tư với trên 80 nước và vùng lãnh thổ, quan hệ xuất, nhập khẩu đã lên đến trên 200 nước và vùng lãnh thổ.

    Thứ bảy, du lịch,trong đó có du lịch quốc tế là ngành công nghiệp không khói - làm giàu, nhưng nếu khéo léo quản lý thì ít có tác động xấu đến môi trường,...Vì sao mật độ còn thấp so với khu vực?

    Tuy nhiên, nếu tính về số lượng khách quốc tế bình quân 100 người dân (mật độ khách quốc tế), thì Việt Nam còn đạt mức thấp so với thế giới, so với châu Á, Đông Nam Á và nhiều nước trong khu vực. Lý giải mật độ khách quốc tế đến Việt Nam còn thấp, các chuyên gia đã đưa ra nhiều nguyên nhân.

    Có nguyên nhân do Việt Nam trải qua nhiều năm chiến tranh, mấy chục năm bị bao vây cấm vận và hàng chục năm bị khủng hoảng, thực sự đổi mới có kết quả mới được mươi mười lăm năm nay và vừa mới gia nhập WTO chưa được một năm. Có nguyên nhân do khâu tuyên truyền quảng bá, quảng cáo tiếp thị về du lịch còn yếu.

    Có nguyên nhân do cơ sở vật chất của ngành du lịch còn thiếu và yếu, từ cơ sở lưu trú (nhất là khách sạn cao cấp từ 3 sao trở lên), đến hệ thống đường sá, phương tiện đi lại đến các khu du lịch. Có nguyên nhân từ khâu an toàn giao thông chưa được bảo đảm, số vụ tai nạn giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông còn nghiêm trọng.

    Đội ngũ hướng dẫn viên còn thiếu tính chuyên nghiệp và trình độ ngoại ngữ (cả tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Trung...) còn yếu... Tỷ lệ số khách quốc tế trở lại lần thứ hai còn thấp, mới chỉ đạt trên dưới 20%... Khách đến từ các nước láng giềng (CHDC Trung Hoa, Lào, Campuchia...) thời gian gần đây có lúc bị sút giảm cả về mặt tuyệt đối.

    Tuy nhiên các thủ tục nhập cảnh với nhiều nước, với Việt kiều được giảm thiểu, chủ trương được mua nhà của Việt kiều và những người nước ngoài làm việc ở Việt Nam, những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đổi mới, phát triển, sự ổn định, an toàn của Việt Nam... cùng những cải thiện trong lĩnh vực du lịch... sẽ tác động thu hút mạnh hơn khách quốc tế đến Việt Nam.

    Khả năng mục tiêu 5-6 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam và tăng hai chữ số mỗi năm sẽ có tác động nâng "mật độ" du lịch của Việt Nam mau chóng vượt qua "mật độ" chung của châu Á: Phấn đấu đạt được "mật độ" trung bình ở khu vực Đông Nam á cũng như của thế giới trong thời gian không xa.
  3. thaoph

    thaoph Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    01/08/2006
    Đã được thích:
    0
    Dạo này kinh tế khó khăn, phát triển ngành du lịch, xuất khẩu chân dài thu về ngoại tệ cho đất nước
  4. embupbehong

    embupbehong Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    03/11/2006
    Đã được thích:
    0
    xuất khẩu chân dài tại chỗ bằng cách nhập khẩu trym về để cứu trứng
  5. nganguyen6

    nganguyen6 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    09/06/2006
    Đã được thích:
    0
    Anh em không làm gì được hay sao mà phải trông vào mấy cái chân của chị em nhỉ?

Chia sẻ trang này