Năng lượng tích cực

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi fio_forever_229, 11/10/2022.

?

Theo bạn doanh nghiệp bạn đang nắm giữ cổ phần sẽ như thế nào trong 3-6 tháng tới?

  1. Tăng trưởng mạnh mẽ về doanh thu, lợi nhuận với tốc độ cao hơn

    4 vote(s)
    33,3%
  2. Tăng trưởng chậm lại nhưng vẫn có lợi nhuận khả quan

    2 vote(s)
    16,7%
  3. Lỗ nhưng sẽ nhanh chóng hồi phục trong năm tới

    0 vote(s)
    0,0%
  4. Thua lỗ, phá sản, hủy niêm yết

    6 vote(s)
    50,0%
1446 người đang online, trong đó có 578 thành viên. 18:16 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 3916 lượt đọc và 22 bài trả lời
  1. fio_forever_229

    fio_forever_229 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    09/12/2004
    Đã được thích:
    337
    Tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam 5 năm trước lên tới hơn 60%, đến năm ngoái đã giảm xuống chỉ còn hơn 40%. Xu hướng giảm tiếp tục được duy trì trong khi nợ công của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tăng cao. Đây là sự điều hành linh hoạt tỷ giá và kiểm soát tốt lạm phát.

    Nợ công của Việt Nam bao gồm nợ trong nước và nợ vay nước ngoài. Năm 2021, nợ vay nước ngoài của Chính phủ và tổng dư nợ vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh vào khoảng 60 tỷ USD. Trong đó, nợ bằng đồng USD chỉ chiếm gần 13,5%, nợ đồng Yen Nhật là 10,5%, còn lại là các ngoại tệ khác.[​IMG]

    "Đồng USD đã tăng giá khoảng 16%, tương ứng với đó, nhiều đồng tiền trong khu vực đã mất giá từ 10 - 20%. Trong khi đó VND mất giá so với USD là 4,5% - mức thấp nhất trong số các đồng nội tệ của khu vực. Như vậy chúng ta vẫn trong trạng thái chấp nhận được và tương đối ổn định so với các nước", TS Cấn Văn Lực, Thành viên Hội động Tư vấn Tài chính tiền tệ Quốc gia, đánh giá.


    Nợ công được duy trì thấp đã tạo ra dư địa để Chính phủ tiếp tục tăng các nguồn lực đầu tư từ ngân sách cho các chương trình hỗ trợ phục hồi kinh tế. (Ảnh minh họa - Ảnh: Báo Đầu tư)

    "Trong cơ cấu nợ công, đồng USD chỉ chiếm 13,5%. Như vậy, sau khi cơ cấu lại nợ công, chúng tôi tính toán tiết kiệm được khoảng 57.000 tỷ", Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc cho biết.
    https://vtv.vn/kinh-te/ty-gia-linh-hoat-giup-giam-no-cong-20221011201608849.htm
  2. fio_forever_229

    fio_forever_229 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    09/12/2004
    Đã được thích:
    337
    Các khoản vay từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam giảm 16 - 20%
    Trong 4 năm trở lại đây, các khoản vay của Việt Nam từ các tổ chức quốc tế, trong đó có JICA, giảm 16 - 20% so với trước. Đây là dấu hiệu đáng mừng cho thấy kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng và có ảnh hưởng trên trường quốc tế.
    [​IMG]
    Toàn cảnh buổi họp báo chiều 12/10

    https://thoibaotaichinhvietnam.vn/c...c-quoc-te-cua-viet-nam-giam-16-20-114504.html
    --- Gộp bài viết, 13/10/2022, Bài cũ: 13/10/2022 ---
    Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,63%

    Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,63% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao nhất 10,69%

    [​IMG]
    https://tapchitaichinh.vn/info-media/chi-so-san-xuat-cong-nghiep-tang-963-352478.html
  3. fio_forever_229

    fio_forever_229 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    09/12/2004
    Đã được thích:
    337
    Kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 9 ước tăng 8,4% so với cùng kỳ năm 2021; tính chung 9 tháng đạt 558,5 tỷ USD, tăng 15,1%, trong đó xuất khẩu tăng 17,3%, nhập khẩu tăng 13%. Nền kinh tế tháng 9 ước xuất siêu 1,14 tỷ USD, tính chung 9 tháng xuất siêu 6,52 tỷ USD.

    (1) Tăng trưởng kinh tế đạt kết quả tích cực so với cùng kỳ: GDP quý III tăng 13,67%, trong đó khu vực nông, lâm, thủy sản tăng 3,24%, công nghiệp-xây dựng tăng 12,91%, dịch vụ tăng 18,86%; tính chung 9 tháng GDP tăng 8,83%, cao nhất từ năm 2011 đến nay, phục hồi và tăng đồng đều trong cả 03 khu vực, lần lượt là 2,99%, 9,44% và 10,57%.

    (2) Ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát được lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn: CPI bình quân 9 tháng tăng 2,73%, tương đương cùng kỳ các năm 2018-2021; bảo đảm nguồn cung điện, xăng dầu; khẩn trương xây dựng, trình Quốc hội phương án giảm thuế xăng dầu, tạo dư địa hỗ trợ giá trong trường hợp cần thiết.

    - Thị trường tiền tệ cơ bản ổn định, đến ngày 26/9, tín dụng tăng 10,83% so với cuối năm trước; ổn định tỉ giá phù hợp với dư địa điều hành chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát, giảm áp lực tăng giá đầu vào nhập khẩu và áp lực dịch chuyển dòng vốn ra khỏi thị trường Việt Nam.

    - Thu ngân sách nhà nước 9 tháng ước đạt 94% dự toán, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó thu nội địa đạt 88,9% dự toán, tăng 18,8%, tạo dư địa trong điều hành tài khóa, hỗ trợ cho chính sách tiền tệ.

    - Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng ước tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đầu tư ngoài nhà nước ước tăng 10%, vốn FDI thực hiện tăng 16,2% cho thấy xu hướng mở rộng đầu tư, sản xuất, kinh doanh khá tích cực, phản ánh niềm tin của doanh nghiệp vào việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta.

    - Kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 9 ước tăng 8,4% so với cùng kỳ năm 2021; tính chung 9 tháng đạt 558,5 tỷ USD, tăng 15,1%, trong đó xuất khẩu tăng 17,3%, nhập khẩu tăng 13%. Nền kinh tế tháng 9 ước xuất siêu 1,14 tỷ USD, tính chung 9 tháng xuất siêu 6,52 tỷ USD.


    (3) Hoạt động sản xuất, kinh doanh có nhiều khởi sắc: Sản xuất nông nghiệp cơ bản ổn định, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; bảo đảm tiến độ sản xuất, tái đàn, tái vụ, phục vụ nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới. Sản lượng thủy sản đánh bắt đã bắt đầu phục hồi trở lại, bà con ngư dân yên tâm vươn khơi bám biển.

    Sản xuất công nghiệp phục hồi tốt. Giá trị tăng thêm công nghiệp trong quý III ước tăng 12,12% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn cả năm 2019 là năm trước dịch (tăng 9,38%); tính chung 9 tháng ước tăng 9,63% so với cùng kỳ, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,69% (cùng kỳ năm 2021 tăng 6,05%).

    Thương mại, dịch vụ đang phục hồi nhanh, nhất là sức cầu trong nước: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 ước tăng 36,1% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 9 tháng ước tăng 21%, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 16,8%. Du lịch tiếp tục phục hồi tích cực, khách quốc tế 9 tháng đạt gần 1,9 triệu lượt, gấp 16,4 lần cùng kỳ năm 2021.

    (4) Tình hình doanh nghiệp tiếp tục khởi sắc. Số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường 9 tháng đạt trên 163.000 doanh nghiệp, tăng 38,6% so với cùng kỳ năm 2021, gấp 1,4 lần doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Theo kết quả điều tra doanh nghiệp trong ngành chế biến, chế tạo, 74,6% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh tích cực trong quý III; 82,6% doanh nghiệp nhận định lạc quan về tình hình quý IV; tồn kho giảm, tình hình đơn hàng của doanh nghiệp tiếp tục tích cực trong quý III và dự kiến trong cả quý IV.
    [​IMG]
    Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương và Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9 năm 2022. (Ảnh: TTXVN)

    https://congan.com.vn/tin-chinh/kim...-5585-ty-usd-xuat-sieu-652-ty-usd_137726.html
  4. fio_forever_229

    fio_forever_229 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    09/12/2004
    Đã được thích:
    337
    Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp mặt lãnh đạo các ngân hàng thương mại
    Sáng 16/10, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì buổi gặp mặt với Chủ tịch, Tổng Giám đốc các ngân hàng thương mại, nhân dịp kỷ niệm 77 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho giới Công Thương và 18 năm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10).
    Cách đây hơn 2 tháng, vào ngày 4/8/2022, Thủ tướng cùng Ban Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đã có buổi làm việc với lãnh đạo các ngân hàng thương mại để cùng trao đổi, đánh giá về thực trạng tình hình và chuyển tải 2 thông điệp quan trọng: (1) Nỗ lực tiết giảm chi phí, chia sẻ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp, khách hàng và nền kinh tế; (2) Chủ động, tích cực tham gia các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước, nhất là chương trình tín dụng nhà ở xã hội.

    [​IMG]
    Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn hệ thống ngân hàng nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức rất lớn hiện nay và đóng góp ngày càng nhiều hơn cho sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển của đất nước.
    Tại buổi gặp mặt hôm nay, cùng với 2 thông điệp trên, Thủ tướng mong muốn các đại biểu cùng bàn kỹ, trao đổi thẳng thắn, trách nhiệm về 3 nội dung trọng tâm: (1) Chúc mừng lãnh đạo các ngân hàng thương mại nhân dịp kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam, cảm ơn sự đóng góp kịp thời, thiết thực, hiệu quả của các ngân hàng thương mại cho công tác phòng chống dịch COVID-19; (2) Đánh giá thực trạng tình hình hệ thống ngân hàng 9 tháng đầu năm 2022, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của ngành ngân hàng những tháng cuối năm 2022 và năm 2023; (3) Xây dựng đạo đức doanh nhân và văn hóa doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay.

    https://thoibaotaichinhvietnam.vn/t...lanh-dao-cac-ngan-hang-thuong-mai-114760.html
  5. fio_forever_229

    fio_forever_229 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    09/12/2004
    Đã được thích:
    337
    IMF: Việt Nam đang vươn mình thành trung tâm của nỗ lực đa dạng hóa chuỗi cung ứng
    Các nhà kinh tế cho biết châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á, vẫn là một điểm sáng, ngay cả khi nền kinh tế toàn cầu có nguy cơ rơi vào suy thoái vào năm 2023.


    Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tuần trước cho hay sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ ở châu Á vào đầu năm 2022 đã mất đà do ba "cơn gió ngược", là lãi suất tăng, căng thẳng Nga-Ukraine và tác động của hoạt động kinh tế trầm lắng của Trung Quốc.

    Trong báo cáo triển vọng mới nhất, IMF nói rằng "châu Á vẫn là một điểm sáng trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu ngày càng ảm đạm".

    IMF dự đoán tăng trưởng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương ở mức 4% trong năm 2022 và 4,3% vào năm 2023, cả hai con số này đều dưới mức trung bình 5,5% trong hai thập niên qua. Tuy nhiên, chúng vẫn cao hơn so với dự báo của IMF dành cho châu Âu và Mỹ. IMF dự kiến tăng trưởng tại Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) ở mức 3,1% trong năm 2022 và 0,5% vào năm 2023, còn tăng trưởng của Mỹ là 1,6% trong năm nay và 1% vào năm 2023.

    Trong một lưu ý, Giám đốc danh mục đầu tư của Tập đoàn dịch vụ tài chính Fidelity, Taosha Wang, nhận định nhìn chung, con đường của châu Á sẽ khác với nhiều nền kinh tế phát triển như châu Âu vì khu vực này đóng vai trò như một "công cụ đa dạng hóa hữu ích”, tách biệt khỏi những khó khăn mà châu Âu đang đối mặt.

    Ông Wang cho biết điều này cho thấy có nhiều dư địa hơn đối với các chính sách định hướng tăng trưởng trong khu vực châu Á, khác với nhiều nơi khác trên thế giới, nơi lạm phát cao đang buộc các ngân hàng trung ương phải thắt chặt các điều kiện tài chính.

    Đông Nam Á phục hồi mạnh mẽ

    IMF cho biết Đông Nam Á sẽ có một năm khởi sắc trong tương lai. Việt Nam đang vươn mình trở thành trung tâm của các nỗ lực đa dạng hóa chuỗi cung ứng, trong khi Philippines, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ có thể sẽ đạt tốc độ tăng trưởng từ 4% đến 6%. IMF cho biết thêm du lịch ở Campuchia và Thái Lan sẽ khởi sắc.

    Theo Ngân hàng DBS, cho đến nay, xuất khẩu từ ASEAN- 6, gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam, đã vượt trội so với khu vực Bắc Á và các nước còn lại trong khu vực. Giá hàng hóa cao và gián đoạn nguồn cung đã giúp các nhà xuất khẩu như Indonesia.

    Các nhà phân tích Chua Han Teng và Daisy Sharma của DBS cho biết chỉ số quản lý mua hàng tại Indonesia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam nhìn chung đều trên mốc 50, được coi là tăng trưởng, trong tháng 9/2022.
    [​IMG]
    Viettel vừa ra mắt Tổng công ty Sản xuất thiết bị Viettel (VMC), đánh dấu chuyển dịch chiến lược của Viettel tham gia mạnh mẽ vào chuỗi giá trị toàn cầu. Ảnh: Viettel

    Triển vọng u ám của Nam Á

    Tuy nhiên, IMF cho hay triển vọng của các nước Nam Á như Sri Lanka và Bangladesh vẫn mờ mịt. Sri Lanka vẫn đang trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, trong khi ở Bangladesh, căng thẳng Nga-Ukraine và giá hàng hóa cao đã cản trở sự phục hồi của nước này sau đại dịch COVID-19.

    IMF cho biết các nền kinh tế có nợ cao như Maldives, Lào và Papua New Guinea, và những nước đối mặt với rủi ro tái cấp vốn như Mông Cổ cũng đang đối mặt với những thách thức khi thủy triều thay đổi.

    IMF cho biết đối với Trung Quốc, kinh tế nước này có thể sẽ phục hồi trong năm nay và có thể đạt mức tăng trưởng 3,2% vào năm 2022 trước khi tăng tốc lên 4,4% vào năm 2023 trong trường hợp các chính sách Zero COVID được nới lỏng.
  6. fio_forever_229

    fio_forever_229 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    09/12/2004
    Đã được thích:
    337
    Trước một số khó khăn của nền kinh tế thế giới, dòng vốn FDI toàn cầu sụt giảm nhưng vốn đầu tư FDI thực hiện tại Việt Nam 9 tháng năm 2022 ước tính đạt 15,43 tỷ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn FDI thực hiện cao nhất của 9 tháng trong 5 năm qua.

    “Tỷ lệ vốn FDI thực hiện trên vốn đăng ký so sánh trong giai đoạn 2018-2022 cho thấy xu hướng rất tích cực của đầu tư FDI tại Việt Nam: Tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký 9 tháng năm 2022 đạt 82,3%, là tỷ lệ đạt cao kỷ lục”, bà Nga nhấn mạnh điều này thể hiện niềm tin của nhà đầu tư với môi trường kinh doanh Việt Nam.

    [​IMG]
    Vốn đầu tư FDI thực hiện đạt kỷ lục trong 9 tháng 2022.

    Nhà đầu tư nước ngoài đổ vốn xây "cứ điểm" tại Việt Nam
    08:39 19/10/2022
    Việt Nam đang được ví như “tâm chấn” của làn sóng vốn đầu tư nước ngoài, nhiều doanh nghiệp FDI cho biết sẽ tăng vốn vào Việt Nam ở thời điểm cuối năm nay. Đáng chú ý, nếu trước đây, nhà đầu tư đăng ký “10 đồng” chỉ thực hiện “5 đồng”, thì nay con số thực hiện đã tăng lên “8 đồng”.
    Việt Nam thu hút hơn 18,7 tỷ USD vốn FDI
    Thu hút các doanh nghiệp FDI - Tăng nguồn lực cho nền kinh tế
    Dòng vốn FDI tiếp tục “đổ" mạnh vào hai thành phố lớn nhất cả nước

    Hàn Quốc đang đứng thứ 2/97 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 290 dự án, tổng vốn đầu tư hơn 3,8 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm nay.

    Về tiềm năng đầu tư vào Việt Nam, ông Bae Yong Geun, Phó Chủ tịch Phòng Công nghiệp Thương mại Hàn Quốc tại Việt Nam nhận định, Việt Nam là “tâm chấn” của làn sóng Hàn Quốc ở Đông Nam Á, với hơn 9.000 công ty Hàn Quốc đã vào Việt Nam và hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác nhau như sản xuất, năng lượng, văn hóa, giáo dục và du lịch.

    Điểm đến của dòng vốn ngoại

    Ông Bae Yong Geun khẳng định: Do Việt Nam là một thị trường mới nổi được thế giới quan tâm, đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam dự kiến sẽ còn tăng hơn nữa. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam dự kiến đạt 8% trong năm nay, và khó có công ty nào ngần ngại khi đầu tư vào một quốc gia đang phát triển nhanh chóng như Việt Nam.

    Là một trong những nhà đầu tư nước ngoài có mặt sớm tại Việt Nam từ năm 1997, Deep C hoạt động trong lĩnh vực phát triển tổ hợp khu công nghiệp. Theo Giám đốc Kinh doanh và Tiếp thị Koen Soenens, Deep C sẽ tiếp tục mở rộng thêm các khu công nghiệp mới để đón thêm “đại bàng”, trong khi cũng sẽ bảo đảm các tiêu chuẩn bền vững.

    Ông Soenens đánh giá, với lợi thế ổn định chính trị và kinh tế trong bối cảnh quốc tế phức tạp, cùng nguồn lao động trẻ dồi dào, có nhiều hiệp định thương mại tự do ký kết với nhiều đối tác, và tốc độ tăng trưởng GDP từ 7-8% mơ ước với nhiều nước, Việt Nam hoàn toàn có lợi thế để thu hút thêm dòng vốn đầu tư quốc tế, trong đó có Hàn Quốc.

    Tuy vậy, đại diện Deep C khuyến nghị, chính quyền các cấp cần cải thiện thêm một bước về thủ tục hành chính, hạn chế hồ sơ, giấy tờ rườm rà, tốn nhiều thời gian, đồng thời đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, trong đó có cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam.

    Báo cáo Chỉ số môi trường kinh doanh của Hiệp hội Doanh nghiệp (DN) châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) vừa công bố cũng cho thấy, 42% lãnh đạo DN dự đoán công ty của họ sẽ tăng dòng vốn FDI vào Việt Nam vào cuối năm 2022. Họ cũng chỉ ra rằng Việt Nam có thể tăng mức vốn FDI này bằng cách giảm bớt khó khăn về hành chính (68%), cải thiện cơ sở hạ tầng (53%), phát triển năng lực nguồn nhân lực (39%), và giảm rào cản thị thực cho các chuyên gia nước ngoài (39%).

    Đáng chú ý, chỉ 2% lãnh đạo DN được khảo sát cho biết đã chuyển một phần đáng kể hoạt động của DN từ Trung Quốc sang Việt Nam, cho thấy vẫn còn nhiều dư địa để tăng trưởng. Trong trường hợp những trở ngại nói trên được giải quyết, Việt Nam sẽ có vị trí thuận lợi để thu hút thêm nhiều công ty nước ngoài chuyển địa điểm ra khỏi Trung Quốc.

    Chủ tịch EuroCham Alain Cany khẳng định: “Tương lai tươi sáng đang ở phía trước. Việt Nam mang lại cơ hội đầu tư lớn cho các DN châu Âu và chúng tôi rất vui mừng về triển vọng của đất nước trong trung và ngắn hạn. Thông qua Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU và cam kết chung của chúng tôi về phát triển bền vững, các công ty Việt Nam và châu Âu có rất nhiều tiềm năng tăng trưởng.”

    Khảo sát nhanh do Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Liên minh Diễn đàn DN Việt Nam (VBF) thực hiện trong tháng 9/2022 cũng cho thấy những thông tin tích cực về hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Trên 90% DN đạt hiệu quả kinh doanh và tình hình tài chính ở mức trung bình và cao. Phần lớn DN đều bày tỏ sự lạc quan, tin tưởng đối với Việt Nam và cam kết tiếp tục mở rộng đầu tư, kinh doanh lâu dài; trong đó khoảng 66% DN dự kiến mở rộng đầu tư trong năm 2023. Có 76% DN đánh giá hiệu quả các chính sách hỗ trợ sản xuất kinh doanh của Chính phủ ở mức trung bình và cao.

    Đăng ký 10 đồng, thực hiện 8 đồng

    Được biết, hiện Bộ KH&ĐT cũng đang lấy ý kiến góp ý dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Đây sẽ là công cụ để phân tích, đánh giá chất lượng hoạt động của khu vực đầu tư nước ngoài nhằm có điều chỉnh chính sách phù hợp phục vụ định hướng thu hút đầu tư những dự án có quy mô lớn, thuộc các ngành công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, có sự lan tỏa, giá trị gia tăng cao và đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững kinh tế – xã hội của Việt Nam.
    [​IMG]
    Đáng chú ý, sự dịch chuyển của dòng vốn đầu tư chất lượng cao đang hướng tới Việt Nam. Nổi bật là việc nhiều nhà đầu tư châu Âu nói chung và Đan Mạch đang chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất. Hiện nay, Đan Mạch là một trong các nhà đầu tư châu Âu lớn nhất tại Việt Nam. Với chuyến thăm Việt Nam của Thái tử Kế vị và Công nương Đan Mạch cùng đoàn 36 DN vào đầu tháng 11 tới, dự kiến nhiều thương vụ đầu tư của Đan Mạch, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng sẽ được ký kết.

    Bà Phí Thị Phương Nga, Phó Vụ trưởng Vụ Thống kê Công nghiệp và Xây dựng (Tổng cục Thống kê), thông tin, trước một số khó khăn của nền kinh tế thế giới, dòng vốn FDI toàn cầu sụt giảm nhưng vốn đầu tư FDI thực hiện tại Việt Nam 9 tháng năm 2022 ước tính đạt 15,43 tỷ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn FDI thực hiện cao nhất của 9 tháng trong 5 năm qua.

    “Tỷ lệ vốn FDI thực hiện trên vốn đăng ký so sánh trong giai đoạn 2018-2022 cho thấy xu hướng rất tích cực của đầu tư FDI tại Việt Nam: Tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký 9 tháng năm 2022 đạt 82,3%, là tỷ lệ đạt cao kỷ lục”, bà Nga nhấn mạnh điều này thể hiện niềm tin của nhà đầu tư với môi trường kinh doanh Việt Nam.

    Về vốn FDI thực hiện, bà Nguyễn Thị Hương, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê phân tích một cách dễ hiểu có nghĩa rằng nếu năm 2018, khối ngoại đăng ký 10 đồng chỉ thực hiện khoảng 5 đồng, đến 2022, tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện/vốn đăng ký đạt 82%, có nghĩa trong 10 đồng đăng ký, nhà đầu tư đã bỏ 8 đồng vào Việt Nam. Đây là thông tin cho thấy rõ điểm sáng của vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, nhất là trong bối cảnh nhiều quốc gia có xu hướng thu hẹp dòng vốn, nhưng vẫn chọn Việt Nam.

    Tuy nhiên, Tổng cục Thống kê cho rằng Việt Nam cũng cần theo dõi dòng vốn FDI dịch chuyển, để có chính sách thu hút hiệu quả hơn. Cơ quan quản lý cần tổ chức đối thoại chính sách với DN FDI để tháo gỡ khó khăn cho DN. Đồng thời, cần vận động xúc tiến đầu tư, khẳng định Việt Nam là điểm đến đầu tư an toàn.

    Bên cạnh đó, về hạ tầng, Việt Nam cần đẩy mạnh xây dựng, kết nối giao thông thuận lợi của các vùng miền. Phát huy năng lực DN trong nước, nâng cao chất lượng, kỹ năng quản lý để thành mắt xích trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
  7. harry0202

    harry0202 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/06/2022
    Đã được thích:
    87
    khả năng tăng trưởng này ngon quá cụ
  8. fio_forever_229

    fio_forever_229 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    09/12/2004
    Đã được thích:
    337
    Nhìn vào con số FDI giải ngân 9 tháng (là số tiền thực tế đã rót vào xây dựng nhà xưởng, lắp đặt máy móc; nhiều cụ không để ý nhầm lẫn giữa FDI đăng ký với FDI giải ngân) là 15.4 tỷ USD, tăng rất mạnh so với cùng kỳ và năm 2019 (giai đoạn trước dịch) có thể thấy xu hướng chuyển dịch sản xuất sang Việt Nam là rõ nét, nhu cầu thực nên nước ngoài họ giải ngân rất quyết liệt. Đây là nguồn bổ sung lớn cho dự trữ ngoại hối của Việt Nam, tạo dư địa lớn cho các chính sách điều tiết tỉ giá của NHNN để ổn định vĩ mô.
  9. fio_forever_229

    fio_forever_229 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    09/12/2004
    Đã được thích:
    337
    Kinh tế Việt Nam 9 tháng đầu năm 2022 và dự báo cả năm 2022-2023: Phục hồi mạnh mẽ song nhiều khó khăn, thách thức ở phía trước
    19-10-2022 - 19:46 PM | Tài chính - ngân hàng



    [​IMG]
    Trong bối cảnh dịch bệnh được kiểm soát và Chính phủ kiên định với chiến lược "Sống chung an toàn, linh hoạt với Covid-19", mở cửa lại hầu hết các hoạt động kinh tế - xã hội, kinh tế Việt Nam 9 tháng đầu năm 2022 phục hồi mạnh mẽ với nhiều điểm sáng.
    LTS: TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo & Nghiên cứu BIDV vừa công bố báo cáo Kinh tế Việt Nam 9 tháng đầu năm 2022 và dự báo cả năm 2022-2023. Chúng tôi xin đăng tải nguyên văn báo cáo để quý độc giả tiện theo dõi.

    -----

    Trong 9 tháng đầu năm 2022, mặc dù tình hình thế giới có nhiều biến động nhanh, phức tạp, khó lường, nhiều nước đang rơi vào suy thoái kỹ thuật hoặc tăng trưởng chậm lại rõ rệt; lạm phát toàn cầu tăng và vẫn ở mức cao; nhưng Việt Nam kiên định với chiến lược "Sống chung an toàn, linh hoạt với Covid-19", mở cửa hầu như hoàn toàn và ban hành nhiều chính sách, giải pháp phục hồi, ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vĩ mô, kinh tế Việt Nam đang phục hồi mạnh mẽ, khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, ngành nghề, tạo tiền đề quan trọng giúp nền kinh tế tăng trưởng cao trong cả năm 2022, thêm nguồn lực, động lực cho các năm tiếp theo trong bối cảnh còn rất nhiều khó khăn, thách thức ở phía trước.

    KINH TẾ PHỤC HỒI MẠNH MẼ, KHÁ TOÀN DIỆN

    Trong bối cảnh dịch bệnh được kiểm soát và Chính phủ kiên định với chiến lược "Sống chung an toàn, linh hoạt với Covid-19", mở cửa lại hầu hết các hoạt động kinh tế - xã hội, kinh tế Việt Nam 9 tháng đầu năm 2022 phục hồi mạnh mẽ với nhiều điểm sáng.

    Thứ nhất, tình hình dịch bệnh kiểm soát tốt, Quốc hội và Chính phủ đã có nhiều chính sách nhằm hỗ trợ phục hồi, ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong 9 đầu năm 2022, tình hình dịch bệnh được kiểm soát, cùng sự linh hoạt trong chính sách kiểm soát dịch Covid-19 của Chính phủ giúp các hoạt động kinh tế - xã hội đã được khôi phục gần như hoàn toàn, là cơ sở cho kinh tế Việt Nam phục hồi mạnh mẽ. Bên cạnh đó, trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều yếu tố bất ổn, Quốc hội và Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ phục hồi, ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như Nghị quyết 43/2022/QH15 ngày 11/1/2022 của Quốc Hội, Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 30/1/2022 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội 2022-2023; đặc biệt gần đây là Nghị quyết số 86/NQ-CP ngày 11/7/2022 về phát triển thị trường vốn an toàn, minh bạch, hiệu quả, bền vững; Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 29/8/2022 về một số giải pháp thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững; Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 16/09/2022 về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế trong tình hình mới; Nghị định 65/2022/NĐ-CP ngày 16/9/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 153/2020/NĐ-CP quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ; bàn thảo sửa một số Luật quan trọng như Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh BĐS, Luật giá...v.v.

    Thứ hai, GDP quý III tăng trưởng ấn tượng, đạt 13,67% so với cùng kỳ năm trước - là mức tăng trưởng quý III cao nhất từ năm 2010 đến nay; cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam (một phần cũng là do so sánh với mức nền thấp của cùng kỳ năm 2021). Tính chung 9 tháng đầu năm, GDP tăng 8,83% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng 6,98% cùng kỳ năm 2021 và cao hơn mục tiêu của Chính phủ tại Nghị quyết 01/2022 (5,9-6,4%). Các động lực tăng trưởng chính (về phía cầu) đều phục hồi mạnh mẽ, với xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 8,94%, đầu tư tăng 5,59% và tiêu dùng cuối cùng tăng 7,26% so với cùng kỳ năm 2021.

    Thứ ba,lạm phát trong tầm kiểm soát. CPI bình quân 9 tháng đầu năm tăng 2,73%, chủ yếu do tác động của giá 3 nhóm hàng hóa - dịch vụ là giao thông tăng 14,98%, hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,69%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,11%. Tuy nhiên, so với các nước trên thế giới và trong khu vực, lạm phát của Việt Nam cơ bản trong tầm kiểm soát và trong mục tiêu của Quốc Hội, Chính phủ (khoảng 4%).

    Thứ tư,xuất, nhập khẩu tăng trưởng tích cực. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 558,5 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu tăng 17,3%nhập khẩu tăng 15,3%, giúp cán cân thương mại thặng dư 6,5 tỷ USD, hỗ trợ ổn định tỷ giá và thúc đẩy tăng trưởng (về phía cầu).

    Thứ năm, giải ngân vốn FDI khả quan. Lũy kế đến hết ngày 20/9/2022, mặc dù tổng vốn FDI đăng ký giảm 15,3% (đạt 18,8 tỷ USD); giải ngân vốn FDI đạt 15,4 tỷ USD, tăng mạnh 16,2% - làmức cao nhất của 9 tháng trong 5 năm qua, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam; góp phần hỗ trợ ổn định tỷ giá và các cân đối vĩ mô khác.

    Thứ sáu, thu ngân sách tăng mạnh nhờ kinh tế hồi phục song chưa thực sự bền vững; hết 9 tháng đầu năm, thu NSNN đạt 1.327,3 nghìn tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2021. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là đà tăng chưa thực sự bền vững do tỷ trọng các khoản thu thiếu bền vững chiếm khoảng 20-25% tổng thu NSNN (trong đó, tỷ trọng thu từ dầu thô tăng từ mức 2,7% lên 4,6% tổng thu NSNN, thu từ thuế sử dụng đất trong tổng thu ngân sách tại nhiều địa phương ở mức khá cao, chiếm khoảng 15-20%). Chi NSNN đạt 1.086,3 nghìn tỷ đồng, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2021.

    Thứ bảy, lãi suất và tỷ giá tăng song vẫn trong tầm kiểm soát. Lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng có xu hướng tăng trong 9 tháng đầu năm, với lãi suất huy động tăng 1-1,5% so với đầu năm và lãi suất cho vay tăng chậm và ít hơn. NHNN cũng đã điều chỉnh tăng 1% đối với lãi suất điều hành và trần lãi suất huy động ngắn hạn. Đồng thời, tỷ giá liên ngân hàng tăng khoảng 4,7% khi giá trị đồng USD đạt mức cao nhất trong vòng 20 năm (tăng khoảng 18% kể từ đầu năm 2022) khi FED liên tiếp tăng lãi suất để đối phó lạm phát. Dự báo trong quý 4 và nửa đầu năm 2023, lãi suất và tỷ giá vẫn chịu áp lực tăng trong bối cảnh FED tiếp tục tăng lãi suất (ít nhất đến hết quý 2/2023). Tuy nhiên, mức tăng tại Việt Nam cơ bản trong tầm kiểm soát nhờ các chính sách linh hoạt, chủ động, khá đồng bộ của NHNN và phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ ngày càng nhuần nhuyễn hơn…v.v.

    Thứ tám, hoạt động doanh nghiệp có nhiều khởi sắc. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng lần lượt 31,9% 56,1%; cho thấy doanh nghiệp tiếp tục phục hồi tốt sau dịch bệnh.

    Thứ chín, các tổ chức quốc tế đánh giá cao nỗ lực phục hồi, ổn định vĩ mô và tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Việt Nam. Theo đó,(i) Chỉ số Phục hồi Covid-19 do Nikkei công bố (tháng 10/2022) đánh giá Việt Nam xếp thứ 8/121 quốc gia, tăng 82 bậc so với tháng 1/2022;(ii) Tổ chức xếp hạng tín nhiệm S&P (5/2022), nâng hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam lên mức BB+ (từ mức BB), với triển vọng "Ổn định"; Moody’s (9/2022) cũng đã nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam từ mức Ba3 lên mức Ba2, triển vọng ổn định do đánh giá cao sức mạnh nội tại và và khả năng chống chịu tốt hơn của nên kinh tế; (iii) IMF (10/2022) và World Bank (9/2022) đều có những đánh giá lạc quan, nâng triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2022 (+7-7,2%), cao hơn 1 điểm % so với dự báo của 3 tháng trước đó. Cùng với chính sách phòng chống dịch và mở cửa nền kinh tế phù hợp, đang mở ra nhiều cơ hội thu hút đầu tư FDI của Việt Nam.

    NĂM KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC CHÍNH

    Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn đối mặt với nhiềukhó khăn, thách thức. Một là, rủi ro, thách thức từ bên ngoài tăng lên với dịch Covid-19 vẫn diễn biến còn phức tạp, nguy cơ dịch đậu mùa khỉ xâm nhập; NHTW các nước tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng lãi suất, khiến áp lực lãi suất, tỷ giá, rủi ro nghĩa vụ nợ gia tăng; Trung Quốc áp dụng chính sách zero-Covid từ đầu năm đến nay, có thể chỉ mở cửa trở lại dần dần từ đầu tháng 11/2022, nên tăng trưởng chậm lại, chuỗi cung ứng toàn cầu còn gián đoạn; nguy cơ khủng hoảng năng lượng, lương thực ở mức cao. Tất cả những yếu tố này khiến nguy cơ đình lạm - stagflation (năm 2023, tăng trưởng toàn cầu thấp khoảng 2-2,3%, lạm phát toàn cầu còn cao với CPI tăng khoảng 6%) có thể xảy ra cục bộ ở một số quốc gia, khu vực trong năm 2023. Điều này khiến thị trường xuất khẩu Việt Nam bị thu hẹp lại, thu hút FDI mới và chất lượng cũng sẽ gặp khó khăn trong năm tới.

    Hai là, một số cấu phần của Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội 2022-2023 triển khai còn chậm; đặc biệt là (i) cấu phần hỗ trợ tiền thuê nhà đến hết ngày 23/9, các địa phương nhận hồ sơ 5,2 triệu lượt người với số tiền giải ngân hỗ trợ là 3.545 tỷ đồng (54% kế hoạch); (ii) cấu phần đầu tư cơ sở hạ tầng (quy mô 113 nghìn tỷ đồng) vốn được kỳ vọng sẽ tạo cú hích cho phục hồi kinh tế, song đến nay Chính phủ mới có thể phân giao thực hiện cho các bộ, ngành, địa phương, do khâu chuẩn bị chưa tốt và phải tuân theo luật đầu tư công; (iii) gói hỗ trợ lãi suất 2%, theo NHNN, đến hết tháng 8/2022, doanh số cho vay được hỗ trợ lãi suất khoảng 10.700 tỷ đồng và số tiền giải ngân hỗ trợ lãi suất khoảng 13,5 tỷ đồng (tương đương gần 0,04%, tổng gói 40.000 tỷ đồng). Nguyên nhân chính là do các NHTM gặp khó khăn trong xác định đối tượng được hỗ trợ đối với một số trường hợp khách hàng kinh doanh đa ngành; việc đánh giá khả năng phục hồi còn khó khăn, thiếu nhất quán; ngân hàng và khách hàng có tâm lý sợ thanh, kiểm tra sau khi giải ngân.

    Ba là, giải ngân đầu tư công có cải thiện song vẫn còn chậm, chưa đạt yêu cầu. Tổng mức giải ngân 9 tháng đầu năm 2022 đạt 334,5 nghìn tỷ đồng, tăng 19,6% so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên mới đạt 46,7% kế hoạch năm 2022 được Thủ tướng Chính phủ giao; đòi hỏi phải quyết liệt, nghiêm túc thực hiện các chỉ thị về vấn đề này của Chính phủ trong thời gian tới.

    Bốn là, rủi ro lãi suất, tỷ giá và dòng tiền đối với doanh nghiệp đang gia tăng. FED và nhiều NHTW tăng mạnh lãi suất để kiểm soát lạm phát, khiến mặt bằng lãi suất toàn cầu tiếp tục tăng, tạo áp lực tỷ giá tăng, nhất là khi đồng nội tệ được neo với USD là chủ yếu. Đồng thời, nhu cầu vốn để phục hồi và trang trải chi phí tăng là khá lớn, trong khi giải ngân đầu tư công còn chậm, thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa thể phục hồi nhanh, tín dụng ngân hàng tăng trong hạn mức, thị trường chứng khoán trồi sụt…, khiến một bộ phận doanh nghiệp khó khăn hơn về dòng tiền, đòi hỏi khả năng xoay sở linh hoạt của bản thân doanh nghiệp cũng như sự hỗ trợ kịp thời của các cơ quan chức năng.

    Năm là, nợ xấu tiềm ẩn có thể gia tăng. Theo NHNN, tỷ lệ nợ xấu nội bảng đến cuối tháng 7/2022 ở mức 1,7%, nợ xấu gộp khoảng 5,41%, giảm so với mức 6,3% tại thời điểm cuối năm 2021 song vẫn ở mức cao. Nguyên nhân chủ yếu do kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn, rủi ro suy giảm, thậm chí suy thoái cục bộ như nêu trên, tác động tiêu cực đến xuất khẩu và đầu tư của Việt Nam, cùng với rủi ro lãi suất, tỷ giá và dòng tiền gia tăng...v.v. Trên thực tế, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh lũy kế 9 tháng vẫn tăng 38,7% so với cùng kỳ. Tình trạng này có thể còn tiếp tục trong năm tới, khiến nợ xấu tiềm ẩn có thể gia tăng.

    DỰ BÁO CẢ NĂM 2022 và 2023

    Về tăng trưởng GDP: năm 2022, kinh tế Việt Nam đang phục hồi và tăng trưởng GDP cả năm 2022 dự báo có thể đạt 7,9-8,1% (kịch bản cơ sở); thậm chí nhiều khả năng có thể đạt 8,3-8,5% (kịch bản tích cực) nếu các động lực tăng trưởng tiếp tục phục hồi mạnh; các dự án đầu tư công, Chương trình phục hồi được triển khai quyết liệt; quá trình chuyển đổi số được thúc đẩy...v.v. Ngược lại, trong kịch bản tiêu cực, nếu rủi ro bên ngoài gia tăng và tác động tiêu cực hơn; Chương trình phục hồi tiếp tục chậm triển khai; các động lực tăng trưởng không được phát huy mạnh mẽ, khi đó kinh tế Việt Nam năm 2022 dự báo tăng trưởng khoảng 7,5-7,8%.Với năm 2023, trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái cục bộ và so với mức nền cao của năm 2022, dự báo GDP Việt Nam tăng trưởng chậm lại, khoảng 6-6,5%.

    [​IMG]
    Về lạm phát: CPI bình quân 2022 dự báo ở mức 3,5-3,8% khi giá cả trong nước tăng chậm hơn so với thế giới và Việt Nam kiểm soát khá tốt lạm phát. Tính đến áp lực lạm phát toàn cầu vẫn ở mức cao (CPI toàn cầu dù đã qua đỉnh ở một số quốc gia, dự báo tăng khoảng 6% năm 2023, giảm từ mức 8,3% năm 2022); nguy cơ "đình lạm" ở một số quốc gia, rủi ro an ninh lương thực và năng lượng vẫn hiện hữu, cộng với độ trễ cung tiền từ cuối năm 2022, CPI bình quân của Việt Nam sẽ còn tăng cao trong năm 2023 (4-4,5%), trước khi trở quỹ đạo khoảng 3,5-4% từ năm 2024.

    MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

    Nhằm đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tiếp tục hỗ trợ phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội trong những tháng cuối năm 2022 và năm 2023, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo & Nghiên cứu BIDV có 5 kiến nghị như sau:

    Một là, tiếp tục bám sát tình hình kinh tế, tài chính quốc tế, chủ động phân tích, dự báo diễn biến thị trường tài chính - tiền tệ quốc tế; nâng cao hiệu quả hơn nữa trong phối hợp chính sách (đặc biệt giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và chính sách giá cả) nhằm kiểm soát lạm phát; tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ theo hướng thận trọng, chủ động, linh hoạt, đồng bộ các công cụ nhằm bình ổn tỷ giá, lãi suất ở mức phù hợp; tăng cường bình ổn, lành mạnh hóa các thị trường (chứng khoán, trái phiếu, bất động sản, ngoại hối, vàng, xăng dầu…); đẩy mạnh hiệu quả truyền thông về giá cả, lạm phát... nhằm giảm thiểu kỳ vọng lạm phát.

    Hai là, tiếp tục các nhóm giải pháp bình ổn giá xăng dầu và giá lương thực - thực phẩm trong nước; xây dựng các kịch bản giá xăng dầu với các biện pháp ứng phó phù hợp; sớm xem xét, quyết định việc giảm thuế, phí xăng dầu trong điều kiện bất lợi; sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu hiệu quả hơn nữa; tăng nguồn cung xăng dầu trong nước; hỗ trợ, thúc đẩy chăn nuôi đảm bảo nguồn cung thịt lợn cho dịp cuối năm và Tết; kiên quyết chống tình trạng buôn lậu, găm giữ hàng và tăng giá bất hợp lý.

    Ba là, đẩy nhanh triển khai Chương trình phục hồi (nhất là các cấu phần bị chậm) và giải ngân đầu tư công; quyết liệt cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh và chuyển đổi số nhằm tận dụng cơ hội dịch chuyển chuỗi cung ứng, kiến tạo thúc đẩy đầu tư trong và ngoài nước, tăng năng suất và giảm chi phí sản xuất, kinh doanh.

    Bốn là, trong bối cảnh kinh tế thế giới và Việt Nam năm tới khó khăn hơn; các bộ ngành, địa phương và hiện diện Việt Nam tại nước ngoài cần hỗ trợ doanh nghiệp đa dạng hóa thị trường, đối tác, tận dụng tốt hơn các FTAs thế hệ mới; đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, liên kết vùng nhằm huy động, phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn; sớm nghiên cứu khả năng tiếp tục dùng chính sách tài khóa là chủ lực (chủ yếu là giảm thuế, phí…) nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ ngày càng hạn hẹp.

    Năm là, xây dựng chiến lược, giải pháp cụ thể để tăng tính độc lập, tự chủ, tự cường và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế, của các ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp Việt Nam. Qua nghiên cứu sơ bộ của TS.Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo & Nghiên cứu BIDV, năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam hiện ở mức "Trung bình – khá"; cần tập trung ưu tiên cải thiện một số lĩnh vực như: Chất lượng tăng trưởng; phát triển cân bằng thị trường tài chính; tăng mức độ tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, tăng nội lực, nội địa hóa các yếu tố đầu vào; tháo gỡ các rào cản tăng trưởng bền vững liên quan đến chất lượng thể chế; chú trọng giải quyết các điểm yếu về xã hội - môi trường, đặc biệt là năng lực y tế, chất lượng giáo dục, giảm khí phát thải và tăng năng lực thích ứng biến đổi khí hậu…v.v.
  10. chungtruong

    chungtruong Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    29/01/2010
    Đã được thích:
    4.039
    Nhầm pic rồi , đây là f319, pic thông tin tuyên truyền ở nhà văn hóa cơ
    ThanTuDo thích bài này.

Chia sẻ trang này