NBC - THAN NÚI BÉO, than đen tẩm xăng đã tràn nghập sàn HÀ NỘI, chỉ cần một que diêm là bốc thành BI

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi linhtinhbeng, 12/05/2007.

608 người đang online, trong đó có 243 thành viên. 07:09 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 11285 lượt đọc và 181 bài trả lời
  1. linhtinhbeng

    linhtinhbeng Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    27/05/2003
    Đã được thích:
    0
    NBC - THAN NÚI BÉO, than đen tẩm xăng đã tràn nghập sàn HÀ NỘI, chỉ cần một que diêm là bốc thành BIỂN LỬA !!!

    NBC - THAN NÚI BÉO, than đen đã tràn nghập sàn HÀ NỘI, chỉ cần một que diêm là bốc thành BIỂN LỬA !!!

    Được linhtinhbeng sửa chữa / chuyển vào 16:30 ngày 12/05/2007

    Được tio361 sửa chữa / chuyển vào 21:27 ngày 04/06/2007
  2. linhtinhbeng

    linhtinhbeng Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    27/05/2003
    Đã được thích:
    0

    NGHỊ QUYẾT

    ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG THƯỜNG NIÊN NĂM 2007

    CÔNG TY CỔ PHẦN THAN NÚI BÉO - TKV​



    Ngày 28 tháng 03 năm 2007, tại hội trường Công ty cổ phần Than Núi Béo ?" TKV, 799 Lê Thánh Tông, TP Hạ Long Quảng Ninh, tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên.

    Về dự đại hội có 33/1846 cổ đông, đại diện cho 5.279.517 cổ phần, chiếm 88% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của Công ty.

    Chủ toạ điều hành đại hội: Ông Nguyễn Văn Kiệm, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần than Núi Béo ?" TKV.

    Đại hội đã bầu ông Trần Khắc Danh ?" TP KTV, ông Lưu Anh Đức ?" Phó chánh VP vào đoàn thư ký giúp Chủ toạ điều hành Đại hội.

    Đại hội đã nghe:

    - Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh năm 2006; Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm 2007.

    - Báo cáo hoạt động của HĐQT năm 2006; Phương hướng nhiệm vụ hoạt động của HĐQT năm 2007.

    - Báo cáo thay đổi nhân sự HĐQT.

    - Báo cáo của Ban kiểm soát về hoạt động quản lý Công ty của HĐQT và Giám đốc Công ty.

    - Báo cáo thẩm định kết quả kiểm toán hoạt động SXKD năm 2006.

    - Quyết định mức chi trả cổ tức, tỉ lệ trích lập các quỹ năm 2006 và kế hoạch năm 2007.

    - Thông qua nội dung sửa đổi và bổ sung Điều lệ hoạt động Công ty cổ phần than Núi Béo ?" TKV ( Tiết 3 Điều 5. Cổ đông sáng lập).

    - Thông qua chủ trương tham giá góp vốn thành lập công ty Cromit Cổ Định ?" Thanh Hoá, thành lập Công ty cổ phần Alumin Nhân cơ ?" TKV, đầu tư SXKD tại CHDCND Lào.

    Các báo trên do các ông chủ tịch HĐQT, Giám đốc điều hành, Trưởng ban kiểm soát Công ty trình bầy trước Đại hội.

    Với tinh thần làm việc khẩn trương nghiêm túc và ý thức trách nhiệm cao, Đại hội đã tập trung giải quyết dứt điểm từng nội dung và thống nhất Nghị quyết:

    1/. Thông qua báo cáo kết quả SXKD năm 2006 sau khi chỉnh sửa bổ sung mọt số ý kiến của các cổ đông.

    Đại hội đánh giá cao sự năng động sáng tạo của bộ máy điều hành, tinh thần thi đua lao động sản xuất của tập thể công nhân lao động góp phần vào việc hoàn thành xuất sắc kế hoạch SXKD năm 2006.

    Các chỉ tiêu: Bốc xúc đất đá, khai thác và tiêu thụ than, doanh thu và lợi nhuận kinh doanh, giá trị GDP, thu nhập tiền lương và đời sống người lao động. Nghĩa vụ thuế đối với nhà nước đều vượt mức so với kế hoạch và những năm trước đây.

    - Mức chi trả cổ tức cho cổ đông đảm bảo theo đúng nghị quyết của Đại hội lần trước. Hoạt động tài chính lành mạnh, vốn chủ sở hữu được bảo toàn và phát triển. Trong sản xuất Công ty luôn đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người và thiết bị, an ninh trật tự được giữ vững, các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao phát huy có hiệu quả cao.

    Kết quả thực hiện SXKD năm 2006 của Công ty đã và càng khẳng định sự phát triển lớn mạnh của Công ty trên nhiều lĩnh vực - khẳng định vị thế và thương hiệu của Công ty trong Tập đoàn TKV trong cả nước.

    2/. Thông qua phương án SXKD năm 2007 với một số chỉ tiêu chủ yếu sau:

    - Bốc xúc đất đá: 16,8 triệu m3, phấn đấu 17,8 triệu m3, với hệ số bóc 4,8 m3/Tấn than.

    - Khai thác than 3,8 triệu tấn, phấn đấu 4,1 triệu tấn.

    - Doanh thu tổng số: 1.043 tỉ đồng, phấn đấu 1.122 tỉ đồng.

    - Lợi nhuận trước thuế 30,1 tỉ đồng, phấn đấu 34,2 tỉ đồng.

    - Thu nhập bình quân: 4,3 triệu đồng/người/tháng.

    - Cổ tức chi trả cho cổ đông 12%/năm, bình quân 1%/tháng.

    - Việc trích lập và sử dụng các quỹ: Ưu tiên cho quỹ phát triển sản xuất để có vốn chuẩn bị cho đầu tư dài hạn; Quỹ phúc lợi để xây dựng nhà Văn hoá - Thể thao.

    3/. Thông qua báo cáo kết quả hoạt động của HĐQT Công ty và đánh giá cao hoạt động của HĐQT đã quản lý điều hành Công ty theo đúng kỷ cương, quy định của Nhà nước và của Tập đoàn TKV, các văn bản pháp lý từ Nghị quyết, quyết định, quy chế quản lý ban hành đúng quy phạm pháp luật và điều lệ của Công ty, tạo điều kiện cho bộ máy điều hành hoạt động có hiệu quả cao. Mỗi thành viên HĐQT thực hiện tốt chức trách được phân công.

    4/. Thông qua báo cáo hoạt động của Ban kiểm soát Công ty và đánh giá hoạt động của Ban kiểm soát năm 2006 có nhiều kết quả tốt, thực hiện đúng chức trách kiểm soát hoạt động SXKD, kiểm soát hoạt động của HĐQT theo quy định của Pháp luật và Điều lệ Công ty. Tuy nhiên hoạt động của Ban kiểm soát cần thực hiện thường niên và chuyên sâu trong từng lĩnh vực quản lý kinh tế kỹ thuật để phát hiện và điều chỉnh những sai sót có thể xẩy ra.

    5/. Thông qua báo cáo thẩm định kết quả kiểm toán hoạt động SXKD năm 2006 và đánh giá nội dung kiểm toán đã được thẩm định là đúng. Những tồn tại sau khi kiểm toán của Công ty phải được chỉnh sửa cho phù hợp.

    6/. Thông qua nội dung sửa đổi tiết 3, điều 5 Điều lệ tổ chức hoạt động của Công ty như sau:

    ?o Cổ đông sáng lập là cổ đông tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào Bản điều lệ đầu tiên của Công ty ?o

    7/. Đại hội nhất trí thông qua chủ trương góp vốn đầu tư vào các dự án:

    - Dự án kinh doanh khách sạn và dịch vụ du lịch tại Trà Cổ.

    - Dự án khai thác Crom tại Công ty cổ phần Cromit Cổ định tại Thanh Hoá.

    - Dự án khai thác Boxit tại Công ty cổ phần Alumin Nhân cơ.

    - Thăm dò tiến tới khai thác khoáng sản tại nước CHDCND Lào.

    Đại hội khẳng định việc đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh sang nhiều lĩnh vực là cần thiết và phải khẩn trương. Đại hội tin tưởng các dự án đầu tư trên sẽ cho hiệu quả cao, phù hợp với chiến lược phát triển dài hạn của Công ty trong nhiều năm tới.

    Đại hội giao cho HĐQT Công ty chỉ đạo thực hiện các thủ tục đầu tư các dự án ngoài than trong và ngoài nước theo đúng trình tự quy định của Pháp luật và Điều lệ của Công ty đảm bảo hiệu quả kinh tế, xã hội.

    Đại hội tin tưởng vào sự quản lý và điều hành SXKD có hiệu quả của HĐQT, Ban kiểm soát và Giám đốc Công ty để làm cho Công ty ngày càng ổn định và phát triển.

    Nghị quyết này đã được thông qua toàn văn trước Đại hội và đựơc 100% cổ đông và đại diện cổ đông của Công ty tham dự Đại hội biểu quyết tán thành.

    Nghị quyết này sẽ được ghi toàn văn vào Sổ nghị quyết của Công ty cổ phần Than Núi Béo ?" TKV.
  3. linhtinhbeng

    linhtinhbeng Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    27/05/2003
    Đã được thích:
    0

    Thông tin PR cho NBC:
    - Ngành nghề: khai thác than, lợi thế tuyệt đối, là con cưng của tổng, cổ đông chiến lược toàn khủng, hàng bán tốt tất cả các loại bao gồm cả xuất khẩu và nội địa(đặc biệt là khi Nhiệt điện Phả lại đi vào hoạt động).
    - Là con cưng của tổng, là 1 trong 3 doanh nghiệp khai thác có sản lượng lớn nhất tòan quốc.
    - EPS 2006: 5,590 VNĐ.
    - PE:11,5.
    - ROE:37.
    - ROA:6.
    - EPS quý I năm 2007: 1,500 VNĐ, dự đoán EPS cả năm 2007 sẽ là 6,000 VNĐ.
    - Khả năng tăng trưởng: 20% là hòan tòan trong tầm tay.
    - Ngoài khả năng khai thác còn có khả năng bốc xúc đất đã rất lớn và trúng thầu nhiều hạng mục bốc xúc cho các doang nghiệp cùng nghành
    - Độ rủi ro trong khoảng 10 năm tới: gần như 0%, vì trữ lượng than để khai thác theo ước tính còn khỏang 50 năm
    - Thặng dư vốn và khả năng phát triển: em đang tìm hiểu

    Hòan tòan yên tâm đầu tư với mức giá 70,000 VNĐ

    Kết luận: MÚC
  4. linhtinhbeng

    linhtinhbeng Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    27/05/2003
    Đã được thích:
    0

    Vùng than Quảng Ninh: Rộn rã ?~khí thế Chi Lăng, Bạch Đằng?T

    Những biến động bất ngờ trên thị trường năng lượng thế giới đã khiến nhu cầu sử dụng than tăng và mặt hàng này cũng trở nên có giá hơn hẳn so với cách đây 4-5 năm. Sản phẩm than Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Đến với vùng than Quảng Ninh những ngày này, được tận mắt chứng kiến không khí làm việc sôi nổi trên những công trường khai thác rộng lớn, chúng tôi mới hiểu những người thợ mỏ và cả ngành than đang không bỏ lỡ

    Đổi mới công nghệ để "tận thu" sản phẩm
    Công ty Than Mạo Khê- đơn vị khai thác hầm lò lớn nhất của ngành than hiện nay là điểm đến đầu tiên của chúng tôi. Cho tới thời điểm này, mỏ than Mạo Khê đang lấy than ở độ sâu âm 80 mét và đào lò xuống đến độ sâu âm 150 mét so với mực nước biển.
    Năm nay, Công ty Than Mạo Khê phấn đấu đạt sản lượng 1,55 triệu tấn than, nhưng con số này thấp hơn so với mức 1,7 triệu tấn thực hiện được năm ngoái. Giải thích với chúng tôi, anh Phạm Quốc Toản, Phó ban KCM của Công ty cho hay, sản lượng năm nay khó bằng năm ngoái, bởi thợ lò phải xuống sâu hơn, diện khai thác bị thu hẹp, điều kiện tầng vách kém, địa chất ngày càng phức tạp và chất lượng than vét xấu hơn.
    Trước đó, những khó khăn trong việc khai thác ngày càng xuống sâu hơn cũng đã được đặt ra với Công ty. Vậy nên trong hai năm 2004-2005, vấn đề đổi mới công nghệ và tập trung vào các khâu sản xuất đã được quan tâm sát sao hơn. Anh Toản cho biết: "Để mở rộng diện khai thác xuống độ sâu âm 150 mét, Dự án đầu tư tổ hợp đào lò trong đá bằng máy khoan Tamzôc đang được triển khai với tổng vốn đầu tư 17 tỷ đồng sẽ hoàn tất vào cuối năm 2005 này. Nếu trước đây, máy khoan đơn giản và nổ mìn chỉ cho phép mỗi tháng đào được 40 mét lò thì với công nghệ mới này, mỗi tháng có thể đào được 90-120 mét". Còn với đào lò trong than, nếu trước đây chỉ đạt tốc độ 60-80 mét/tháng, vừa chậm vừa tổn thất than lớn thì với việc đầu tư máy đào lò loại mới AM45, tốc độ đào lò sẽ đạt 200 mét/tháng/gương lò. Hiện công nghệ này đã bắt đầu được đưa vào hoạt động thử nghiệm.
    Không chỉ đầu tư cho khai thác, mà sự an toàn của người lao động cũng được Công ty Than Mạo Khê rất chú trọng. Nếu trong các hầm lò, độ nguy hiểm được chia theo nồng độ khí mê- tan dễ gây cháy nổ theo cấp từ thấp đến nguy hiểm, tương ứng với cấp 1, 2, 3 và siêu hạng thì Mạo Khê được mệnh danh là "mỏ siêu hạng". Ở đây có hẳn phân xưởng thông gió, giám sát khí mỏ, cấp cứu lớn nhất trong Tổng công ty Than Việt Nam (TVN) với biên chế lên tới 160 người.
    Sau sự cố cháy nổ năm 1999, Mạo Khê đã đầu tư hai hệ thống giám sát đo nồng độ khí tự động quan sát liên tục 24/24 giờ (một của Ba Lan, một của Nhật Bản), với tổng giá trị lên tới 1,4 triệu USD. Trước đây, khi chưa trang bị hệ thống giám sát này, việc đo nồng độ khí mê - tan được thực hiện bằng máy đo tay, nhưng trong mỗi ca 8h làm việc, cũng chỉ đo được 3 lần và không đủ người rải hết các vị trí sản xuất. Trong khi đó, hai hệ thống mới này đo liên tục và chỉ cần sự thay đổi nhỏ về nồng độ khí mê - tan là hệ thống giám sát của Nhật sẽ tự đông cắt điện các thiết bị làm việc có liên quan nhằm bảo đảm an toàn cho người lao động.
    Đồng bộ với đầu tư cho đào lò, khai thác than, các dây chuyền vận tải, đổi mới công nghệ trong sàng tuyển cũng được Công ty Than Mạo Khê áp dụng với mục tiêu nâng cao năng suất lao động. Dây chuyền băng tải dài 1.060 mét từ cửa giếng chính về đến kho sàng nhằm giảm thất thoát trong vận chuyển than bằng ô tô như trước đây cũng như giảm ô nhiễm vừa đưa vào vận hành tại Mạo Khê từ tháng 7 vừa qua là một chứng minh cụ thể. Cũng để tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh khi có nhiều than cám 6 và trên cám 6 (là loại than không dễ bán cho các hộ tiêu thụ), Công ty Mạo Khê đã đầu tư 2 modul tuyển mới, với năng lực 380.000 tấn/năm để nâng cao chất lượng than, loại bớt than xấu. "Chi phí khai thác một tấn than xấu không kém gì một tấn than tốt trong khi tiêu thụ lại khó khăn. Do vậy, việc đầu tư tuyển chính là để chọn được nhiều than tốt hơn, đồng thời giải quyết được việc làm cho công nhân", anh Toản nói.
    Trong ngành than, doanh nghiệp nào cũng sợ nhất là tồn kho, bởi đồng nghĩa với nó là hàng tỷ đồng bị chôn vốn. Chính vì thế, cả doanh nghiệp khai thác lẫn nhà máy tuyển than đều phải tìm cách đầu tư công nghệ để nâng cao giá trị của hòn than.
    Tại Công ty Than Núi Béo, nơi là một trong số 3 đơn vị có sản lượng khai thác than lớn nhất trong năm 2005 với múc 3 triệu tấn/năm, công nghệ tuyển huyền phù tự sinh (tức là dùng các chất để lọc than còn lại sau khi đã bị loại ra trong thải tuyển nhằm tận thu than) do Viện công nghệ Mỏ chủ trì đang được triển khai và chính thức đi vào hoạt động trong tháng 10 này. Với công nghệ tuyển huyền phù tự sinh, khả năng mỗi năm sẽ có thêm 300.000 tấn than được "tận thu" tại Núi Béo. Còn tại Công ty sàng tuyển than Cửa Ông, một công trình hợp tác Việt Nam-Nhật Bản (GAP) trị giá 123 tỷ đồng, với mục tiêu sử dụng than cho hoà hợp môi trường cũng mới đi vào hoạt động. Công trình này sử dụng công nghệ dùng nước bơm vào than bùn đã bỏ (trước đây được xả ra biển) để tận thu thêm một lần nữa. Với công nghệ trên, ước tính năm 2005, Công ty sẽ tận thu thêm được 1 triệu tấn than bùn, trị giá khoảng 200 tỷ đồng. Không chỉ có vậy, việc áp dụng công nghệ nói trên còn cung cấp hàng nghìn khối nước cho hoạt động rửa than tại hai nhà máy sàng tuyển 1 và 2 của Công ty Tuyển than Cửa Ông.
    Lội qua những đống bùn nhão nhoét trên công trường khai thác than của Công ty Than Núi Béo hay Than Cọc 6- dư âm còn lại của cơn bão số 7 trước đó, hay đứng dưới độ sâu cả trăm mét so với mặt nước biển tại những công trường lộ thiên và hình dung sự cuồng nộ của ông trời mỗi khi làm mưa với hàng tấn nước trút xuống mỏ, chúng tôi mới cảm thông được những vất vả của người thợ khai thác than mùa mưa.
    Phó giám đốc Công ty Than Cọc 6 Trần Công Cây cho hay, tại công trường đang khai thác ở của mỏ Cọc 6, với sản lượng khoảng 3 triệu tấn trong năm nay, thì lượng nước dội xuống mỗi mùa mưa rất lớn. Đã từng có những năm, do không có phương án ngăn giữ và bơm hút nước tốt nên hậu quả để lại không nhỏ, phải mất nhiều năm mới xử lý được.
    Hiện nay, dù đã có công nghệ ngăn giữ nước để nước mưa tự chảy ra biển, nhưng lượng nước chảy vào đáy mỏ tại Cọc 6 vẫn có diện tích mặt khoảng 3 km2, tức là mỗi năm có ít nhất 4-5 triệu mét khối nước, nhiều nhất là 8 triệu mét khối chảy vào đáy mỏ của Cọc 6. Nhưng vẫn còn là "khiêm tốn" nếu so với 20 triệu mét khối nước sẽ chảy vào đáy mỏ nếu không có hệ thống mương ngăn thoát nước. "Mỗi ngày, Cọc 6 phải sử dụng 30.000- 33.000 kWh điện để bơm hút, đẩy ra 40.000-50.000 m3 nước. Làm như vậy thì tháng 11 mới có thể lấy được than", ông Cây nói.

    Nắm lấy cơ hội vàng

    Những năm gần đây, do nhu cầu sử dụng than trên thế giới, đặc biệt là tại các thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Tây Âu? tăng cao, nên giá bán than vào các thị trường này cũng tăng đáng kể. Năm 2004, giá bán than vào thị trường Tây Aâu tăng 25-30%, thị trường Nhật Bản tăng 19-23% so với năm 2003. Mỗi tấn than xuất vào thị trường Trung Quốc cũng tăng thêm 6-8 USD/tấn. Sự thuận lợi của thị trường xuất khẩu than đã giúp TVN xuất khẩu được 6,5 triệu tấn than trong năm 2003 và 10,56 triệu tấn trong năm 2004. Dự kiến trong năm 2005, con số này vào khoảng 14 triệu tấn.
    Nếu năm 2004 được đánh giá là "cơ hội vàng" thì năm 2005 có lẽ sẽ tạo ra "bước ngoặt mới" đối với ngành than khi tổng sản lượng khai thác ước đạt 32 triệu tấn than, trong đó xuất khẩu 14 triệu tấn, lợi nhuận dự tính sẽ bằng 9 năm trước đó (tính từ khi TVN hoạt động theo mô hình tổng công ty) cộng lại. Đây thực sự là những con số có ý nghĩa nếu chưa quên rằng, chỉ cách đây khoảng 5 năm, những bãi than cứ cao nghễu nghện đến nao lòng vì "vắng khách" dù lượng than mà TVN sản xuất ra lúc đó chỉ trên dưới 10 triệu tấn. Tổng giám đốc TVN Đoàn Văn Kiển nhớ lại: "Nhìn cảnh chị em cứ phải nai lưng gánh than lên tận đỉnh bãi cao tới 7-8 mét rồi mới đổ xuống, trong lòng cứ thấy nao nao. Khi đó nếu nói rằng, TVN sẽ đạt con số xuất khẩu 10 triệu tấn than vào năm 2005 chắc chẳng ai tin. Vậy mà TVN đã vượt qua mốc 10 triệu tấn than xuất khẩu vào những ngày cuối cùng của năm ngoái".
    "Cơ hội vàng" cũng đem đến những luồng gió mới cho lao động ngành than. Thu nhập bình quân của người lao động ở Công ty Than Mạo Khê đã đạt 2,4 triệu đồng/người/tháng (năm 2002 là 1,65 triệu đồng/người/tháng); Công ty than Núi Béo là trên 3 triệu đồng/người/tháng (năm 2000 là 1 triệu đồng/người/tháng); Công ty Than Cọc 6 là 3,7 triệu đồng/người/tháng, Tuyển than Cửa Ông là 3 triệu đồng/người/tháng? Đó là chưa kể cá biệt có những thợ mỏ, thợ xúc ở một số công ty than đã ngấp nghé mức lương chục triệu đồng/tháng. Lao động ngành than đã nuôi được mình và có tích luỹ, chẳng vậy mà rất nhiều con em của ngành nay lại quay về "tiếp bước cha ông". Nhưng để không bở lỡ "cơ hội vàng", đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng với các giới hạn thăm dò cũng như khai thác một cách bền vững, ngành than vẫn còn rất nhiều việc phải làm, nhiều thử thách đang chờ ở phía trước.
    Chia tay vùng than khi bắt đầu một ngày mới, khắp phố phường rộn vang câu hát "? vùng than thân yêu ơi? trong mỗi ca lao động của người thợ mỏ ở vùng than có khí thế Chi Lăng, Bạch Đằng lịch sử?", tôi tin rằng, với khí phách ấy, những người làm than sẽ vượt qua mọi trở ngại.
  5. langbavibo

    langbavibo Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/03/2003
    Đã được thích:
    1.297
    Để đạt được thành công như ngày nay, toàn thể CBCNV công ty đã cùng nhau vượt qua gian khó. Lúc đầu để cung ứng nhiên liệu cho Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại do Liên Xô giúp đỡ, Nhà nước ta ký thỏa thuận cũng với Nhà nước Liên Xô để thiết kế, đầu tư khai thác than tại vùng than Núi Béo. Theo đó, ngày 7/11/1988, Xí nghiệp Than Núi Béo ra đời. Để khai thác vùng than có trữ lượng trên 30 triệu tấn này, sau khi đầu tư dở dang khoảng trên 1 triệu USD trên tổng mức đầu tư 20 triệu USD, qua một vài năm xây dựng cơ bản thì Liên Xô... tan rã. Thế là mỏ Núi Béo bị cắt viện trợ! Núi Béo phải cố gắng bám trụ, tiếp tục xây dựng cơ bản tại vùng mỏ này với số vốn vẻn vẹn ngót 20 tỷ đồng. Giai đoạn ấy, một bứt phá quan trọng mà doannh nghi ệp đã làm để tồn tại là thay đổi hướng khai thác. Do vỉa 14 có tài nguyên xấu, nếu tiếp tục đầu tư sẽ không hiệu quả, nên sau khi tính toán kỹ, Công ty đã chuyển hướng khai thác sang vỉa 11- đi ngược so với thiết kế ban đầu. Và, phương án "đi ngược" này đã thành công - sau 2 năm bóc trên 1 triệu m3 đất đá, Công ty Than Núi Béo khai thác và tiêu thụ trên 70.000 tấn than. Tháng 6/1998, Núi Béo được Bộ KH- ĐT cấp giấy phép hợp tác kinh doanh với Công ty Cavico của Canada (vốn đầu tư 30 triệu USD từ phía Canada, công suất khai thác 1,2 triệu tấn than/năm; thời gian khai thác 28 năm). Nhưng rất tiếc là do khủng hoảng kinh tế khu vực nên phía đối tác đã...không huy động được vốn nên việc hợp tác không thành công. Trước gian nan, Công ty Than Núi Béo vẫn kiên trì vận động CBCNV cho vay vốn để tiếp tục đầu tư. Trong lúc này, Núi Béo đã thành lập Công ty cổ phần do CBCNV góp vốn đầu tư thiết bị và thuê chính Công ty Cavico Việt Nam làm xây dựng cơ bản. Sau một thời gian Công ty cũng đã vượt qua được thời kỳ khó khăn nhất. Đến năm 2000, các chỉ tiêu chính đều tăng: bóc đất đá đạt 1,6 triệu m3, khai thác gần 400 nghìn tấn than, doanh thu đạt 75 tỷ VND - gấp 2 lần công suất thiết kế giai đoạn 1.

    Năm 2001, Tổng Công ty Than Việt Nam giao cho Công ty Than Núi Béo một bài toán khó - phải phấn đấu đạt sản lượng khai thác 1,2 triệu tấn than vào năm 2005, trong khi năm 2000 mỏ này mới đạt sản lượng 400 nghìn tấn. Để giải bài toán trên, song song với việc nghiên cứu các phương án kỹ thuật khả thi, Núi Béo đã hình thành và triển khai đồng bộ "Chính sách chất lượng" ngay từ năm 2001. Theo đó, Công ty Than Núi Béo đã không ngừng cải tiến công nghệ khai thác, liên tục đầu tư vào nhân lực và thiết bị với mục tiêu tạo sản phẩm chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu thị trường. Ví dụ: dồn sức đầu tư vào dàn thiết bị hiện đại (gồm: xe trọng tải 55 tấn, máy xúc lật 10m3/ gầu, máy cày xới làm tơi đất đá thay cho việc nổ mìn...). Đây là dàn thiết bị lớn nhất đầu tiên được Núi Béo mạnh dạn đưa vào hoạt động ở vùng than Quảng Ninh.

    Có một việc mà Công ty Cổ phần Than Núi Béo thành công, khiến các nhà chuyên môn sửng sốt. Đó là: nâng cao hiệu quả khai thác than qua việc giảm mạnh suất đầu tư. Theo tư vấn thiết kế, để có 1 tấn công suất than lộ thiên tại Núi Béo, cần đầu tư từ 30 - 35 USD. Tức là, nếu muốn có 3 triệu tấn than, Công ty sẽ phải đầu tư khoảng 100 triệu USD, tương đương trên...1.600 tỷ VND. Nhưng trên thực tế, để nâng công suất mỏ lên 3 triệu tấn than, Công ty chỉ cần đầu tư... 500 tỷ VND - giảm trên 3 lần so với tính toán của tư vấn thiết kế. Chính vì nâng cao hiệu quả đồng vốn, đồng lương của CBCNV cũng tăng theo. Hiện Công ty có trên 2.500 CBCNV với mức thu nhập bình quân trên 4 triệu VND/người/ tháng. Cuối năm 2005, Công ty Than Núi Béo là doanh nghiệp đầu tiên của Tập đoàn công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam thí điểm Cổ phần hoá thành công. Trên sàn giao dịch chứng khoán, cổ phiếu của Công ty được bán với giá gấp 3 lần giá khởi điểm đã được doanh nghiệp nước ngoài mua hết ngay trong phiên đấu giá đầu tiên. Từ một Xí nghiệp nhỏ bên bờ vực giải thể, Công ty Cổ phần Than Núi Béo đã vượt lên thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu của Tập đoàn công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam.


    Được langbavibo sửa chữa / chuyển vào 14:46 ngày 12/05/2007
  6. langbavibo

    langbavibo Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/03/2003
    Đã được thích:
    1.297
    Tôi là người thợ lò
    -Hoàng Vân-​

    Tôi là người thợ lò ò ò, sinh ra trên đất mỏ ỏ ..
    trong những ngày cờ đỏ bay trên núi Bài thơ.
    Núi Bài thơ ơi núi Bài thơ, sừng sững hiên ngang đứng giữa trời....
    Có nghe tiếng mìn nổ dậy đất, tiếng máy reo như tiếng bước chân thợ mỏ vào tiến quân ............
    Kìa .. tiếng búa khoan reo như tiếng trống trận
    Kìa .. nghe tiếng mìn nổ như tiếng súng xông đồn..
    Ta đi khơi nguồn suối than cho than xuôi về bến
    Ta đi nhen ngọn lửa nhiệt tình cách mạng, Tổ quốc mong than ta quên sao lời bác gọi Nào đồng chí chúng ta ơi ta tiến quân vào lò ..
    [...Hành khúc ....]
    Đêm đêm, ngày ngày đi trong lò ta lắng nghe những tiếng thân yêu, những tiếng vọng từ khắp đất nước đưa về, dưới hầm lò mà nghe rõ làm sao ...
    Tiếng chim hót trên cánh đồng lúa chín, tiếng trẻ thơ cắp sách tới trường làng, tiếng còi tàu sớm mai rộn ràng, trong tiếng máy giục ăn than..
    A ... mỗi khi lò thủng đón cơn gió nồm nam mát rượi..
    trong tiếng than rơi, tiếng gió lùa nghe như có tiếng đàn tiếng hát ...
    Nào vác búa lên vai ta bước tiếp vào, Nào mỗi thước thêm sâu, sức ta thêm mạnh, nhìn gương than lấp lánh như những vì sao xanh. Ta đứng đây như đứng trước vũ trụ bao la.. trong cuộc chiến đấu trường kỳ ta là người chiến thắng, Những gian khổ nào bằng đồng bào chiến sỹ miền Nam anh dũng.
    [Hết]
    Đất mỏ thân yêu ơi, đất mỏ thân yêu ơi ...
    Nhìn lá cờ đỏ tung bay trên đất mỏ sau những ngày gian khổ kháng chiến đã thành công.
    Vùng mỏ ngày nay lớn lên,...
    Bạn trẻ ơi chớ quên....
    bước đường đấu tranh đang còn lâu dài, càng gian khổ càng nhiều vinh quang. Phất cao ngọn cờ trên núi Bài thơ năm xưa ta đi tới tới ....​
  7. langbavibo

    langbavibo Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/03/2003
    Đã được thích:
    1.297


    Để yên lạnh lùng đáng yêu khối óc lều cổ đông

    Cháy lên hừng lửa bỏng cháy trái tim nhà đầu tư


    Được langbavibo sửa chữa / chuyển vào 16:08 ngày 12/05/2007
  8. NgoanVCB

    NgoanVCB Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    05/03/2007
    Đã được thích:
    797
    Lại nhớ hôm trước đang đứng chờ lấy hợp đồng ở sân thì gặp Kiệm tam ca đi ra. Một lát sau thì Thảo đại ca tất tả đi xuống. Một lát sau nữa thì Tuấn nhị ca phóng xe từ công trường về ... Lãnh đạo cứ tất bật thế này thì còn nhiều việc dài dài ...
    Hê hê, nói thế nhưng cũng phải đính chính thông tin bác gì ở trên nêu ra, LẤY ĐÂU RA THAN MÀ MÚC 50 NĂM NỮA HẢ ÔNG TƯỚNG !!!!!!!! Kế hoạch mới đã chình ình ra rồi đấy, dần dần chuyển sang múc khoáng sản, chẹp , suất đầu tư bé hơn mà lại cho lợi nhuận dự kiến gấp 4 lần than
    Chả nói đâu xa, mỏ tuyển đồng Sin Quyền, mới đi vào hoạt động thực sự có hơn 1 năm mà đã thành con gà đẻ trứng vàng to nhất của Tập đoàn than khoáng sản ... chẹp, thế này mà Núi béo đi theo sau thì cũng đẻ ra trứng vàng tiếp thôi ...
  9. langbavibo

    langbavibo Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/03/2003
    Đã được thích:
    1.297
    Ôi anh Thảo ơi, em yêu anh quá đi mất, lãnh đạo thế này thì doanh nghiệp không phát triển mới là lạ
    __________________________________________________
    Núi Béo sẽ nhớ mãi giám đốc Thảo​

    Công ty Cổ phần Than Núi Béo (trước đây là Mỏ than Núi Béo) được Liên Xô giúp đỡ thành lập theo thiết kế của Viện Ghiprosat với công suất 1,2 triệu tấn than/năm và cung cấp trang thiết bị kỹ thuật toàn bộ. Tuy nhiên, năm 1990 Liên bang Xô Viết đổ vỡ, đặt Mỏ đứng trước nhiều khó khăn và thử thách vì chưa được đầu tư trang thiết bị đủ để sản xuất và đảm bảo thu nhập cho người lao động, do vậy, đã có ý kiến nên sáp nhập vào một đơn vị khác. Những năm đầu 1990 là thời kỳ hết sức khó khăn đối với Núi Béo, bởi không có tiền để bóc đất đá mở than, sản lượng than khai thác thấp, doanh thu không đủ để tái đầu tư mở rộng sản xuất, dư lãi vay đầu tư cuối năm 1994 là trên 30 tỷ đồng trong khi tổng doanh thu của Công ty chỉ đạt 20 tỷ đồng, đời sống của công nhân hết sức khó khăn.

    Tháng 6/1996, Hội đồng Quản trị Tổng công ty Than Việt Nam quyết định tách Mỏ Núi Béo ra khỏi Công ty Than Hòn Gai, từ đây Mỏ chính thức trở thành đơn vị thành viên trực thuộc Tổng công ty Than Việt Nam. Cũng chính từ thời điểm này, ông Phạm Minh Thảo, tiến sĩ chuyên ngành khai thác mỏ được bổ nhiệm làm Giám đốc Công ty. Qua từng năm, bằng nhiều giải pháp tích cực, Ông đã lãnh đạo Công ty luôn hoàn thành toàn diện kế hoạch, các chỉ tiêu đạt được năm sau luôn cao hơn năm trước. Cơ sở vật chất, quy mô sản xuất ngày càng được mở rộng. Năm 2000, các chỉ tiêu chính so với năm 1996 đều tăng nhiều lần, cụ thể: Bốc xúc đất đá đạt gần 1,6 triệu m3, tăng gấp 2 lần; Than nguyên khai sản xuất đạt 400 nghìn tấn, tăng gấp 2 lần; Doanh thu bán than đạt 60 tỷ đồng, tăng gần 2 lần; Thu nhập bình quân 1 triệu đồng/người/tháng, tăng 1,5 lần.

    Bước vào thực hiện nhiệm vụ giai đoạn 2001-2005, Công ty được giao nhiệm vụ nâng công suất khai thác đạt 1,2 triệu tấn than vào năm 2005. Để phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu, song song với việc nghiên cứu các phương án kỹ thuật khả thi, ông Thảo còn chỉ đạo đầu tư thêm dàn thiết bị hiện đại, đồng bộ, mở rộng sản xuất, thu hút thêm lao động, tăng cường các biện pháp đảm bảo an toàn tuyệt đối trong sản xuất. Để tiết kiệm đầu tư, bổ sung năng lực sản xuất, được sự đồng ý của Tập đoàn, ông đã chỉ đạo lập phương án hợp tác kinh doanh với Công ty Cổ phần Cavico Việt Nam và vận động công nhân góp vốn thành lập Công ty Cổ phần Hoa Sơn để bốc xúc, vận chuyển đất đá thuê cho Núi Béo. Với những biện pháp thúc đẩy sản xuất hiệu quả, các chỉ tiêu chính không ngừng tăng, cụ thể: Năm 2003 bốc xúc trên 9,7 triệu m3 đất đá, khai thác 1,27 triệu tấn than, đạt công suất thiết kế và về trước kế hoạch giao 2 năm, tổng doanh thu trên 340 tỷ đồng, thu nhập bình quân 1,9 triệu đồng/người/tháng. Năm 2005, bốc xúc đất đá đạt 21 triệu m3, khai thác than đạt 3,1 triệu tấn, vượt công suất thiết kế là 1,8 triệu tấn, tổng doanh thu đạt gần 890 tỷ đồng, thu nhập bình quân 3,7 triệu đồng/người/ tháng. Dự kiến năm 2006 bốc xúc đất đá đạt 21 triệu m3, khai thác than đạt 3,6 triệu tấn, tổng doanh thu đạt 1.079 tỷ đồng, thu nhập bình quân 4,1 triệu đồng/người/tháng. Đặc biệt, trong 10 năm qua, Công ty không để xảy ra tai nạn lao động nặng và tai nạn lao động chết người.

    Với những bước đi rất mới mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt như trên, ngày 30/11/2005, Bộ Công nghiệp đã ban hành Quyết định số 3936/ QĐ-BCN về việc phê duyệt dự án thành lập Công ty Cổ phần Than Núi Béo, đơn vị đầu tiên trong khối sản xuất than tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp.

    Để người lao động mua hết số cổ phần của mình, Giám đốc và Công đoàn đã vận động và phổ biến làm rõ lợi ích mà họ được hưởng khi mua cổ phiếu ưu đãi, tuyên truyền về các chính sách phát triển Công ty trong những năm tiếp theo. Niềm tin của người lao động lại được nhân lên từ việc, trong 5 năm qua, Công ty áp dụng việc vay vốn nhàn rỗi của CBCNV, lập cho mỗi người 1 quyển sổ tiết kiệm, lãi suất bằng lãi suất vay ngân hàng. Tính đến hết năm 2005, người gửi ít nhất là 5 triệu đồng, người gửi nhiều nhất có đến 22 triệu đồng. Sau quá trình tuyên truyền, vận động, 100% người lao động đã tham gia mua hết cổ phiếu ưu đãi, thể hiện niềm tin của người lao động đối với Ban lãnh đạo của Công ty. Sau 9 tháng chuẩn bị, ngày 18/3/2006, Đại hội đồng cổ đông được tổ chức thành công và đầu tháng 4 năm 2006, Công ty Cổ phần Than Núi Béo chính thức đi vào hoạt động với số vốn điều lệ do các cổ đông đóng góp, trong đó Tập đoàn Công nghiệp Than ?" Khoáng sản Việt Nam giữ cổ phần chi phối 51%.

    Để vực dậy một doanh nghiệp từ trong gian khó, ông Thảo đã có nhiều giải pháp, nhưng những quyết định mang tính đột phá mà mọi người sẽ nhớ mãi đó là: Thứ nhất, ngoài 2 công trường khai thác Ông đã phối hợp chỉ đạo bộ phận kỹ thuật nghiên cứu địa chất và mở thêm một công trường khai thác mới tại phía Đông Bắc của Vỉa 11. Sau gần 1 năm bốc đất, chỉ trong vòng 3 năm qua, sản lượng than khai thác được ở Công trường này đã đạt trên 3,5 triệu tấn ?" trở thành Công trường khai thác chủ lực của Công ty. Thứ hai, sau thời gian dài chuyển trọng tâm sang khai thác tại Công trường Vỉa 11, để tận dụng triệt để tài nguyên, ông đã chỉ đạo Công ty tiếp tục khai thác lại tại Công trường Vỉa 14 và nghiên cứu mở rộng vỉa về phía Tây Nam. Tính đến nay, trữ lượng than tại khu vực này đã góp phần lớn trong việc nâng sản lượng than khai thác. Thứ ba, để giảm mức vay vốn ngân hàng và để tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi của CBCNV, ông và cộng sự đã huy động vốn của CBCNV qua việc thành lập Công ty Cổ phần Hoa Sơn để bóc xúc và vận chuyển thuê cho Núi Béo, đây là mô hình mang nhiều nét mới có tính độc phá. Sau 6 năm thành lập, Công ty Cổ phần Hoa Sơn hoạt động ngày càng có hiệu quả và đang tiếp tục triển khai nhiều dự án kinh doanh lớn khác.

    Giám đốc Thảo luôn coi trọng phong trào phát huy sáng kiến, hiến kế, cải tiến kỹ thuật, luôn động viên làm cho CBCNV Công ty nhận thức rõ hiệu quả của việc phát huy sáng kiến trong sản xuất. Bản thân ông luôn là người tiên phong, là chủ nhiệm các đề tài và là đồng tác giả của hàng chục sáng kiến có giá trị làm lợi trên 5 tỷ đồng, giúp Công ty tiết kiệm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động.

    Theo sự sắp xếp lại của Tổng công ty, năm 2000, 2001 và 2004, ông Thảo đã chỉ đạo Công ty tiếp nhận thêm 200 công nhân của Công ty Tuyển than Hòn Gai, 450 CBCNV của Nhà máy Cơ khí Hòn Gai và 180 CBCNV của Công ty Than Hòn Gai. Sau khi tiếp nhận, Công ty đã sớm ổn định tổ chức, sắp xếp công việc và đảm bảo ổn định việc làm, thu nhập cho toàn bộ số công nhân trên. Trong nhiều năm qua, ông Thảo đã phối hợp với Công đoàn làm thủ tục cho hàng chục CBCNV có hoàn cảnh kinh tế khó khăn vay vốn từ Quỹ hỗ trợ để phát triển kinh tế gia đình. Đối với địa phương, Công ty đã và đang nhận phụng dưỡng 02 mẹ liệt sĩ; Tham gia ủng hộ nạn nhân nhiễm độc da cam, ủng hộ người nghèo, người tàn tận, xã nghèo? với số lượng trên 2 tỷ đồng.

    Từ năm 1999 đến nay, do Công ty mở rộng sản xuất với tốc độ cao đã tạo ra nhiều công ăn việc làm, thu hút người lao động. Công ty đã hợp đồng lao động với phường Hà Tu, Hà Trung và Trung tâm Xúc tiến việc làm Hạ Long tuyển chọn con em các gia đình chính sách, gia đình các cựu chiến binh, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vào làm việc với tổng số trên 400 người.

    Trong 10 năm qua, Công ty Than Núi Béo đã phát triển, đi lên từ trong gian khó, trở thành một đơn vị mạnh, sánh vai cùng Cọc Sáu, Đông Bắc với sản lượng than khai thác đạt trên 3 triệu tấn/năm. CBCN đang có thu nhập rất cao từ 3 nguồn, thứ nhất là lương và thưởng bình quân 4,1 triệu đồng/người/ tháng, thứ hai là tiền lãi từ cổ tức và thứ 3 là tiền lãi từ góp vốn vào Công ty Hoa Sơn. Điều quan trọng là Núi Béo sẽ còn phát triển do họ đã tìm ra nhiều nguồn tài nguyên lớn và một tập thể đoàn kết, có trình độ, có người quản lý tốt. Ông Thảo đã được Đảng và Nhà nước cùng UBND tỉnh Quảng Ninh đánh giá cao bằng nhiều phần thưởng cao quý. Trong những ngày này có lẽ ông thật là vui vì được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam bình chọn là một trong số 90 người trong cả nước là Nhà quản lý giỏi; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam bình chọn là một trong 100 doanh nhân tiêu biểu và nhiều năm được bình chọn là doanh nhân tiêu biểu của tỉnh Quảng Ninh. Đối với ông Thảo, có lẽ không có danh hiệu nào quý bằng, đó là sự kính trọng của gần 3 ngàn thợ mỏ vùng Hạ Long, người đã mang lại cho họ một cuộc sống sung túc và Núi Béo sẽ mãi mãi nhớ đến ông.
  10. langbavibo

    langbavibo Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/03/2003
    Đã được thích:
    1.297
    Dự án Núi Béo được đầu tư đồng bộ dây chuyền thiết bị công suất lớn, hiện đại nhất ngành Than Việt Nam, do hãng Caterpillar sản xuất. Với xe 773B trọng tải 55 tấn...

    Dự án Núi Béo được đầu tư đồng bộ dây chuyền thiết bị công suất lớn, hiện đại nhất ngành Than Việt Nam, do hãng Caterpillar sản xuất. Với xe 773B trọng tải 55 tấn, máy xúc lật 992C - 11m3/gầu, máy đào 375 - 4,4m3/gầu, máy ủi D10 công suất 700 mã lực.

    Dự án được giao nhiệm vụ bốc xúc đất đá tại Công ty than Núi Béo phục vụ cho kế hoạch sản xuất hàng năm hàng triệu tấn than.

    Mỏ than Núi Béo là mỏ lộ thiên, công suất khai thác than nguyên khai theo thiết kế của mỏ 5.200.000 tấn/năm.

Chia sẻ trang này