Ngân hàng còn giật gấu vá vai thì...

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi Dainam68, 21/05/2011.

121 người đang online, trong đó có 48 thành viên. 02:51 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 1327 lượt đọc và 35 bài trả lời
  1. Dainam68

    Dainam68 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    19/03/2011
    Đã được thích:
    0
    Các ý kiến đa chiều về vấn đề lãi suất...tình hình cho thấy còn ban căng lắm.


    "Nếu phải làm thì nên áp trần huy động, chứ không nên là trần cho vay"



    [​IMG]
    Dưới góc độ thị trường, theo ông Nguyễn Xuân Thành, các nhà nghiên cứu không ủng hộ các biện pháp hành chính như áp trần lãi suất, dù là huy động hay cho vay.


    Nếu buộc phải dùng đến trần lãi suất thì nhà nghiên cứu chính sách Nguyễn Xuân Thành cho rằng nên áp trần huy động, chứ không phải trần cho vay.
    Tuần qua, vấn đề lãi suất lại gây xôn xao khi có thông tin Ngân hàng Nhà nước sắp trình lên Chính phủ 2 phương án điều hành lãi suất. Một là nâng trần lãi suất huy động tối đa lên khoảng 15,5-16,5%/năm và ấn định lãi suất cho vay khoảng 18-19%/năm. Hai là bỏ trần lãi suất huy động, ấn định lãi suất cho vay (cũng ở mức 18-19%/năm).
    Dù nhiều suy đoán được đưa ra, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa chính thức lên tiếng. NCĐT đã trao đổi với ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Nghiên cứu Chính sách Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, xung quanh 2 phương án này.
    Dưới góc độ thị trường, theo ông Thành, các nhà nghiên cứu không ủng hộ các biện pháp hành chính như áp trần lãi suất, dù là huy động hay cho vay. Lãi suất là một công cụ cạnh tranh giữa các ngân hàng. Lãi suất cho vay chính là giá bán dịch vụ của ngân hàng. Với cùng chất lượng dịch vụ như nhau, ngân hàng nào có giá bán cạnh tranh hơn thì có nhiều khách hàng hơn.
    Lãi suất huy động cũng vậy, nếu ngân hàng làm ăn tốt, có uy tín, mức độ an toàn cao thì sẽ thu hút được người gửi tiền với lãi suất hợp lý. Ngân hàng nhỏ, thương hiệu chưa tốt phải chấp nhận trả lãi suất huy động cao hơn. Như vậy, nếu áp trần lãi suất thì cũng đồng nghĩa với việc triệt tiêu tính cạnh tranh.
    Nhưng nếu phải áp dụng biện pháp hành chính, theo ông, Ngân hàng Nhà nước nên chọn phương án nào?
    Trên thực tế, trần lãi suất tiền gửi hiện nay cũng không được nhiều ngân hàng tuân thủ. Nhưng nếu phải làm thì nên áp trần huy động, chứ không nên là trần cho vay.
    Về bản chất, lãi suất huy động và lãi suất cho vay có sự khác biệt rất lớn. Khi có người mang tiền đi gửi ngân hàng, nhân viên tín dụng chỉ căn cứ vào số tiền gửi nhiều hay ít, thời hạn gửi dài hay ngắn để đưa ra mức lãi suất cao hay thấp, chứ không quan tâm người gửi tiền là ai. Trong khi đó, lãi suất cho vay phụ thuộc nhiều vào khả năng trả nợ của người đi vay, mức độ rủi ro của dự án.

    Doanh nghiệp lớn, có lịch sử tín dụng tốt, dự án tiềm năng thì sẽ được vay lãi suất thấp hơn. Doanh nghiệp nhỏ, mới hoạt động, dự án rủi ro cao sẽ phải chịu lãi suất cao.
    Nếu bị khống chế trần lãi suất, tất nhiên ngân hàng phải chọn đối tượng an toàn hơn để cho vay. Khi đó, chỉ có các doanh nghiệp lớn là được vay, còn doanh nghiệp nhỏ thì không tiếp cận được vốn. Như vậy, ngân hàng không thể thực hiện vai trò là kênh cấp vốn cho cả nền kinh tế và trần lãi suất cho vay chắc chắn sẽ bị phá vỡ.
    Trong bối cảnh hiện nay, có lẽ chỉ có cách này mới hạ được lãi suất?
    Lãi suất ngân hàng chỉ có thể giảm một cách căn cơ khi lạm phát có tín hiệu giảm trong những tháng tới. Trên thực tế, vấn đề bức thiết của doanh nghiệp hiện nay là khả năng tiếp cận tín dụng, chứ không chỉ là lãi suất.
    Lãi suất cao chắc chắn sẽ làm tăng chi phí kinh doanh, nhưng có doanh nghiệp chấp nhận trả lãi cao vẫn khó vay.

    Chẳng hạn, Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai vừa huy động vốn thông qua việc phát hành 90 triệu USD trái phiếu quốc tế thời hạn 5 năm với lãi suất danh nghĩa 9,87% và lợi suất đáo hạn lên tới 11%. Mức lãi suất này là cao, nhưng ban lãnh đạo của Tập đoàn vẫn tỏ ra hài lòng vì vay được vốn.
    Như vậy vẫn là chuyện thiếu thanh khoản, dù theo thống kê không chính thức, từ đầu năm đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã bơm hơn 17.000 tỉ đồng thông qua thị trường mở?
    Trong 4 tháng đầu năm 2011, tổng cung tiền chỉ tăng 1%, thể hiện việc tiền tệ được thắt chặt. Bơm tiền qua thị trường mở và qua tái cấp vốn là có. Vậy lượng tiền này đi đâu?
    Lượng vốn tung ra trong những năm qua là rất lớn. Cụ thể, từ năm 2001 đến nay tăng trưởng tín dụng luôn đạt trên 20%/năm (duy nhất có năm 2006 là 19,2%). Thậm chí có những năm tăng vọt như năm 2007 tăng tới 51,39%, năm 2009 (Chính phủ triển khai chương trình kích cầu) là 37,7% và 2010 là 29,8%.
    Khi tín dụng tăng, nguy cơ nợ xấu tăng theo là khó tránh khỏi, nhưng tỉ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng những năm qua luôn được báo cáo là ở mức an toàn, cao nhất cũng chỉ khoảng 2,5% tổng dư nợ.
    Tôi cho rằng khả năng rất lớn là các ngân hàng sử dụng hình thức đảo nợ, vay ở thời điểm lãi suất thấp để trả các khoản vay lãi cao trước đó.

    Tôi cho rằng khả năng rất lớn là các ngân hàng sử dụng hình thức đảo nợ, vay ở thời điểm lãi suất thấp để trả các khoản vay lãi cao trước đó. Như vậy, các ngân hàng không tăng được khoản vay mới, cũng không thu được nợ và phải luôn cần tiền do Ngân hàng Nhà nước bơm ra để giải quyết vấn đề thanh khoản. Bơm tiền thì cứu được các ngân hàng nhưng lại làm tăng áp lực lạm phát.
    Liệu có giải pháp nào có thể giải quyết tạm thời vấn đề thiếu thanh khoản mà không làm gia tăng áp lực lạm phát?
    Chính sách tiền tệ thắt chặt cần được duy trì một cách kiên định để kéo lạm phát xuống. Ngân hàng Nhà nước cũng cần sẵn sàng đứng ra cung cấp thanh khoản bằng công cụ thị trường mở, tái chiết khấu và tái cấp vốn. Tuy nhiên việc làm này không được dễ dãi.
    Việc tăng các mức lãi suất này (gần đây nhất là tăng lãi suất trên thị trường mở từ 14% lên 15% từ ngày 17.5) phát đi tín hiệu là ngân hàng nào muốn vay vốn của Ngân hàng Nhà nước (do thiếu thanh khoản) thì phải chấp nhận mức lãi suất cao hơn.
    Chính sách tiền tệ cũng cần phải được hỗ trợ bằng chính sách tài khóa. Việc kiên quyết cắt giảm chi tiêu công, thu hẹp thâm hụt ngân sách sẽ làm giảm nhu cầu vay của khu vực công và đưa tín dụng đến khu vực sản xuất kinh doanh, từ đó giải quyết được một phần đáng kể vấn đề thanh khoản.
    Theo Bảo Trâm
    Nhịp cầu đầu tư
  2. Dainam68

    Dainam68 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    19/03/2011
    Đã được thích:
    0
    Nguy cơ vỡ nợ tín dụng chứng khoán
    SGTT.VN - Gần 11.200 tỉ đồng khoản phải thu của các công ty chứng khoán (CTCK) cùng với lo ngại về việc phải trích lập dự phòng các khoản phải thu khó đòi tại nhiều CTCK đã khiến cho lo lắng về tình trạng nợ xấu của các khoản cho vay chứng khoán có thể gia tăng.
    Không chỉ có vậy, nghi án lãnh đạo một CTCK bỏ trốn để lại khoản nợ hơn 100 tỉ đồng do thua lỗ từ những tài khoản mà mình bảo lãnh càng khiến cho thị trường trở nên u ám. Song song với đó là việc chỉ số chứng khoán hai sàn đang sụt giảm mạnh. Áp lực bán cổ phiếu thu hồi nợ ngày càng lớn hơn. Áp lực thu hồi vốn này không chỉ diễn ra đối với CTCK mà còn cả đối với các ngân hàng.

    [​IMG]
    Với một hệ thống tài chính trong đó hầu hết các CTCK đều hoặc là công ty con hoặc có liên hệ mật thiết với các NHTM, thì sự sụp đổ của các CTCK ắt sẽ liên lụy đến hệ thống ngân hàng. Ảnh minh hoạ. Ảnh: Lê Quang Nhật
    Hiện nay, các khoản cho vay chứng khoán trên thị trường chủ yếu được tài trợ bằng hai nguồn vốn, đó là nguồn vay từ các ngân hàng thương mại (NHTM) và nguồn vốn vay từ các CTCK.
    Các NHTM có thể cho vay đầu tư chứng khoán đối với các CTCK và các nhà đầu tư chứng khoán. NHTM cho CTCK vay có thể thông qua hạn mức hoặc qua cầm cố các chứng khoán. Theo thuyết minh báo cáo tài chính kiểm toán của TLS, CTCK có thị phần môi giới lớn nhất năm 2010, các khoản vay nợ ngắn hạn lớn nhất của công ty chủ yếu là vay nợ ngân hàng và các công ty tài chính. Giá trị các khoản vay này lên tới 3.320 tỉ đồng, chiếm gần 50% tổng nguồn vốn của TLS. Ngoài ra, các NHTM còn cho các nhà đầu tư vay để kinh doanh chứng khoán dưới hình thức cầm cố cổ phiếu hoặc cầm cố các tài sản khác để lấy tiền kinh doanh chứng khoán. Không những thế, nhiều khách hàng còn vay ngân hàng với mục đích vay tiêu dùng để có thể có dòng tiền đầu tư chứng khoán. Theo số liệu từ báo Đầu tư chứng khoán ngày 9.3.2011, tổng dư nợ các loại tín dụng mà các NHTM cấp cho hoạt động đầu tư chứng khoán đến cuối năm 2010 ước khoảng gần 10.000 tỉ đồng.
    Cho vay chứng khoán gồm những khoản nào?
    Trong khi đó, nguồn vốn mà các CTCK cho vay lại đối với thị trường cũng không phải là nhỏ. Theo số liệu từ VnEconomy ngày 4.5.2011, tổng số khoản phải thu đến hết quý 1/2011 của một số CTCK lên đến 11.202 tỉ đồng. Con số thực tế về các khoản cho vay của CTCK có thể còn cao hơn nữa khi mà nhiều CTCK còn cho vay lách dưới hình thức các hợp đồng đầu tư ngắn hạn hay các khoản mục khác trên bản báo cáo tài chính. Trên báo cáo kiểm toán 2010 của TLS, giá trị các khoản đầu tư ngắn hạn của TLS cũng lên tới 634 tỉ đồng, trong đó có các khoản mục: hợp đồng hợp tác đầu tư với công ty đầu tư tài chính Thăng Long, các hợp đồng ba bên hợp tác hỗ trợ tài chính cho nhà đầu tư, hợp đồng hợp tác kinh doanh thu lợi tức cố định với cá nhân, cổ phiếu đầu tư của công ty theo hợp đồng hợp tác kinh doanh với cá nhân… Một loạt các hình thức hợp đồng khác nhau nhưng về bàn chất thì có thể đều là các hợp đồng mà CTCK tài trợ tiền đầu tư chứng khoán cho khách hàng.

    Với một hệ thống tài chính trong đó hầu hết các CTCK đều hoặc là công ty con hoặc có liên hệ mật thiết với các NHTM, thì sự sụp đổ của các CTCK ắt sẽ liên lụy đến hệ thống ngân hàng. Đây là điều mà các cơ quan quản lý cần đặc biệt phải lưu ý trong thời gian tới. Để có nguồn tài trợ như vậy, ngoài việc CTCK vay tiền từ ngân hàng, vay các tổ chức khác, nguồn vốn chủ sở hữu thì còn có một nguồn vốn khác là huy động từ các khách hàng cá nhân dưới các dạng hợp đồng khác nhau với lãi suất huy động rất cạnh tranh so với NHTM. Trong thời điểm từ đầu năm 2011 đến nay, khi mà trần lãi suất huy động 14% vẫn tiếp tục được giữ nguyên thì nhiều CTCK đã tìm cách thu hút nguồn tiền từ tài khoản của các nhà đầu tư tạm thời chưa đầu tư và sử dụng nguồn tiền này để tự mình thực hiện cho vay. Hiển nhiên, tài sản cầm cố để đảm bảo cho các khoản vay này cũng chỉ là cổ phiếu. Áp lực thu hồi các khoản cho vay
    Chỉ thị 01 của NHNN yêu cầu các NHTM phải giảm tỷ trọng dư nợ phi sản xuất xuống dưới mức 22% vào cuối tháng 6.2011 và tiếp tục giảm xuống mức 16% vào cuối năm nay. Do việc tài trợ vốn cho các khoản vay bất động sản, tiêu dùng thường kéo dài lâu hơn cho vay chứng khoán nên các NHTM sẽ tập trung vào việc thu hồi nợ các khoản cho vay này. Những khoản cho vay lớn qua các CTCK có giá trị lớn và cho vay các khách hàng đầu tư chứng khoán sẽ được NHTM chú trọng.
    Còn đối với các CTCK, khi bị NHTM thu hồi các khoản cho vay, các CTCK này sẽ buộc phải giảm việc tài trợ vốn đầu tư cho khách hàng, thu hồi các khoản cho vay trước khi đáo hạn thông qua việc giảm tỷ lệ cầm cố cổ phiếu của các nhà đầu tư. Với việc giá cổ phiếu giảm mạnh từ đầu năm đến nay, cụ thể HNX-Index đã giảm 37%, VN-Index giảm trên 16%, thì nhiều cổ phiếu đã ở ngưỡng giải chấp. CTCK tiếp tục yêu cầu nhà đầu tư phải bán cổ phiếu để thu tiền về.
    Những rủi ro khi gửi tiền cho CTCK ngày càng gia tăng khi đã có trường hợp, khách hàng kiện CTCK vì việc không trả lại tiền làm cho khách hàng lo ngại và rút khoản tiền gửi tại CTCK theo hình thức hợp tác đầu tư. Nhà đầu tư rút tiền gửi CTCK theo hình thức hợp tác đầu tư giống như việc khách hàng rút tiền gửi tiết kiệm ở ngân hàng. Do không phải là ngân hàng, CTCK không thể tiếp cận trực tiếp ngân hàng Nhà nước để xin hỗ trợ thanh khoản, nên nếu như có nhiều khách hàng đồng thời rút tiền, khả năng mất thanh khoản tại các CTCK hoàn toàn có thể xảy ra.
    Vòng xoáy giải chấp
    Để đảm bảo thanh khoản, các CTCK buộc phải bán chứng khoán từ doanh mục tự doanh cũng như danh mục cổ phiếu repo của khách hàng bất chấp việc giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch xuống rất thấp. Đối với các nhà đầu tư, do thị trường giảm sâu, cộng với lãi suất đối với lĩnh vực phi sản xuất tăng cao lên mức 24 – 25%, nên nhiều nhà đầu tư đã quyết định cắt lỗ để trả nợ gốc và lãi các NHTM. Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô chưa sáng sủa thì càng có nhiều nhà đầu tư chán nản. Khi mà không những chỉ các nhà đầu tư cá nhân mà cả nhà đầu tư tổ chức đồng thời phải xả hàng cắt lỗ thì thị trường chứng khoán Việt Nam đã chính thức rơi vào vòng xoáy suy giảm.
    Vì không có dòng tiền mới vào thị trường nên bất chấp giá đã giảm sâu khối lượng giao dịch vẫn ở mức rất thấp, hiện chỉ còn ở mức 30 triệu cổ phiếu/phiên, giảm còn 1/3 so với khối lượng giao dịch trong thời kỳ thị trường bùng nổ. Chỉ số VN-Index đã trải qua tới chín phiên giảm điểm còn HNX-Index cũng trải qua hơn mười phiên giảm điểm, với tốc độ tăng dần. Điều này khiến cho nhiều nhà đầu tư có bán hết cổ phiếu cũng không đủ để trả nợ cho CTCK. Nhiều tài khoản vô chủ xuất hiện để mặc cho CTCK tự xử lý. Đây có lẽ là lý do khiến cho chủ tịch HĐQT của CTCK Hà Thành đã phải bỏ trốn khi các tài khoản mà ông này bảo lãnh đều thua lỗ đến hơn 80 tỉ đồng.
    Hệ luỵ tới hệ thống tài chính
    Như vậy, khởi đầu từ việc các NHTM thu hẹp cho vay chứng khoán, dẫn đến các CTCK cắt lỗ, rồi đến lượt các nhà đầu tư rút tiền khiến dòng tiền vào thị trường bị rút ra ngày một nhiều, tất cả tạo thành một vòng xoáy suy giảm chưa có hồi kết.
    Nợ xấu gia tăng của các CTCK ảnh hưởng gián tiếp đến các NHTM. Các CTCK không phải là ngân hàng nhưng trong thời kỳ khó khăn về vốn lại thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ như một ngân hàng từ nhận gửi huy động và cho vay. Tất cả các hoạt động này được hợp thức hoá qua hợp đồng uỷ thác và repo hay đòn bẩy tài chính. Song, điểm khác biệt là tài sản đảm bảo chỉ là cổ phiếu và khi thị trường giảm thì tài sản đảm bảo trở thành tài sản khó phát mại vì giá trị quá thấp. Khi khách hàng rút vốn, CTCK có khả năng bị mất thanh khoản và không thể trả các khoản vay gốc cũng như lãi cho các NHTM đúng hạn.
    Với một hệ thống tài chính trong đó hầu hết các CTCK đều hoặc là công ty con hoặc có liên hệ mật thiết với các NHTM, thì sự sụp đổ của các CTCK ắt sẽ liên luỵ đến hệ thống ngân hàng. Đây là điều mà các cơ quan quản lý cần đặc biệt phải lưu ý trong thời gian tới.
    Nguyên Minh Cường
  3. Dainam68

    Dainam68 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    19/03/2011
    Đã được thích:
    0
    Đọc mà thấy ngán thật...Khi tin đồn tung ra tại sao ko phủ nhận để vài ngày sau nói vuốt đuôi...dân còn tin nữa ko???


    Thống đốc Nguyễn Văn Giàu: 'Không áp trần lãi suất cho vay'



    [​IMG]
    Tính đến 23/5, tín dụng cho nền kinh tế vẫn tăng ròng 135,8 nghìn tỷ đồng, tương đương mức tăng 6,2% so với cuối năm ngoái, cao gấp 1,2 lần tăng trưởng GDP.


    Thị trường những ngày gần đây lan truyền thông tin NHNN có thể khống chế lãi suất cho vay tiền đồng ở mức 18-19% và nới trần lãi suất huy động lên trên 14%. Thực hư của các phương án này là như thế nào, thưa Thống đốc?
    Đã có vài ý kiến đề cập tới chuyện này, nhưng tôi khẳng định đây không phải là chủ trương của NHNN và NHNN cũng chưa đưa ra bất cứ điều chỉnh nào về lãi suất cho vay cũng như huy động tiền đồng.
    Về lý thuyết, khống chế lãi suất cho vay có vẻ tốt, tưởng như sẽ khiến xã hội yên tâm. Nhưng hệ lụy của nó rất lớn. Cầu tín dụng đang cao hơn so với cung, nếu áp trần sẽ không khả thi và nhiều rủi ro. Điều tôi sợ nhất là sự biến tướng lách trần, dẫn tới tiêu cực trong cán bộ. Tôi cho anh vay 18% rồi anh biếu tôi 3-4%, phần tiền này đâu có chảy vào NH. Khi người ta mua chuộc nhau có thể dẫn tới chuyện châm chước cho nhau, nới lỏng điều kiện tín dụng. Hậu quả là không chỉ NH đó rủi ro, mà còn gây tổn thương cho cả hệ thống.
    Tôi chưa bao giờ phân công một ai trong NHNN nói về định hướng lãi suất cả. Nếu có ai đó phát ngôn thì đó cũng không phải là chủ trương của NHNN và họ phải tự chịu trách nhiệm cá nhân khi làm tổn thương các quyết sách của Đảng Nhà nước và điều hành của Chính phủ.
    Theo ông tại sao thị trường lại đồn thổi như vậy?
    Quả thật trong những ngày tin đồn lan đi, thị trường liên NH có hơi lộn xộn, lãi suất dâng cao, tỷ giá của các NH cũng tăng lên. Nhưng có điều lạ là thời gian đó thanh khoản NH không có vấn đề gì, NHNN lại đang bơm tiền đồng ra với một khối lượng lớn, mua vào rất nhiều đôla, có ngày mua trên 200 triệu USD. Mấy hôm nay tiền bơm ra rất ít, ở mức thấp nhất vài ba tháng trở lại đây, thị trường lại ổn định, tỷ giá xuống thấp cho dù Tổng cục Thống kê đã công bố nhập siêu tăng cao.
    Những ngày tin đồn lan đi, NHNN lại đang bơm tiền đồng ra với một khối lượng lớn, mua vào rất nhiều đôla, có ngày mua trên 200 triệu USD. Mấy hôm nay bơm tiền ra rất ít, thấp nhất vài 3 tháng trở lại đây, thị trường lại ổn định.

    Qua nhiều lần chiêm nghiệm, tôi tự hỏi liệu có ý đồ chính trị đăng sau những tin đồn đó hay không. Không hiểu tại sao người ta lại muốn tung hứng tâm lý cho thị trường, người ta cứ nói áp trần lãi suất cho vay rồi lại phân tích không nên làm, mà thực tế NHNN có động thái đó đâu, đã có tuyên bố chính thức gì đâu.
    Nhưng nhiều doanh nghiệp phàn nàn không thể tiếp cận vốn NH, lãi suất quá cao và có thể khiến lạm phát cao hơn nữa. Ông nghĩ sao về điều này?
    Tính đến 23/5, tín dụng cho nền kinh tế vẫn tăng ròng 135,8 nghìn tỷ đồng, tương đương mức tăng 6,2% so với cuối năm ngoái, cao gấp 1,2 lần tăng trưởng GDP.

    Một số thông tin gần đây cho rằng vài chục phần trăm doanh nghiệp không tiếp cận được vốn NH. Tôi không đồng ý với điều đó. Với những doanh nghiệp mới thành lập, có thể chưa tiếp cận được vốn ngay. Nhưng những doanh nghiệp cũ thì không có chuyện đó. Vốn đã rót cho anh từ trước rồi, nay vẫn tăng thêm 6,2%. Nếu anh không tiếp cận được và phải trả lại NH vì lãi suất cao quá thì dư nợ tín dụng phải giảm xuống chứ làm sao tăng được.
    Mong muốn của Chính phủ là kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô, qua được giai đoạn khó khăn này, lãi suất sẽ giảm xuống. Mọi người cần chia sẻ khó khăn, chứ giờ này yêu cầu tăng dư nợ cho vay hơn nữa làm sao thực hiện được. Khi lãi suất cao, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ không đạt như mong muốn nhưng cũng không đến mức phá sản hàng loạt, đóng cửa hàng loạt như người ta nói. Lãi suất là một chi phí tài chính quan trọng, nhưng không phải là thứ quyết định sự sống còn của doanh nghiệp.
    Bản thân doanh nghiệp trong bối cảnh lãi suất cao thế này cũng phải đề ra giải pháp vượt qua khó khăn, và tôi nghĩ phần nhiều sẽ chấp nhận giảm lợi nhuận một chút để hạn chế tăng giá bán, giữ chân khách hàng. Nếu tăng giá cao quá, không bán được hàng sẽ phải giảm xuống. Vì thế nói lãi suất tăng cao sẽ khiến lạm phát tăng cao cũng không đúng lắm.
    Các NH cho rằng lãi suất cho vay tăng cao thời gian qua chủ yếu do khó khăn về nguồn vốn, một số đơn vị đã phải đẩy lãi suất huy động vượt trần cho phép. Vậy tại sao NHNN không nới trần lãi suất huy động lên trên 14% để gỡ khó cho họ?

    Cầu tín dụng đang cao hơn so với cung, nếu áp trần sẽ không khả thi và nhiều rủi ro. Điều tôi sợ nhất là sự biến tướng lách trần, dẫn tới tiêu cực trong cán bộ.
    Còn trần huy động: Điều kiện vĩ mô đang tốt lên, lạm phát đang giảm thì tại sao phải nâng trần lãi suất huy động?
    Điều chỉnh lãi suất phải nhìn theo tín hiệu kinh tế vĩ mô. Thực ra cuối tháng 4, NHNN có cân nhắc khi thấy giá thế giới biến động. Nhưng nay giá đang giảm dần, các yếu tố địa chính trị trên thế giới cũng ổn định, khó có thể đẩy giá lên cao hơn nữa. Điều kiện vĩ mô đang tốt lên, lạm phát đang giảm thì tại sao phải nâng trần lãi suất huy động? Lạm phát cả năm liệu có lên tới 18% hay không mà đề nghị đẩy lãi suất huy động lên 18%. Cũng không nên đòi hỏi lãi suất thực dương vào lúc này, mà chúng ta chỉ hướng tới mục tiêu đó thôi. Khi thị trường kỳ vọng chính sách tốt lên, lạm phát giảm xuống, những ai đề nghị tăng lãi suất cần xem lại trách nhiệm của họ với xã hội, với đất nước.
    Trong điều kiện bình thường, các NH được thỏa thuận lãi suất, nhưng khi có vấn đề, luật cho phép NHNN can thiệp vào lãi suất mà NH ấn định cho khách. NH nào không chấp hành yêu cầu đó sẽ bị xử phạt. Tại Hà Nội đã có một trường hợp bị phát hiện và xử phạt. TP HCM cũng đang xem xét một vụ.
    Vậy tại sao NHNN không kiểm soát lãi suất trên thị trường liên NH, nơi các NH cho nhau vay với lãi suất còn cao hơn cả huy động từ dân cư?
    Trong nền kinh tế thị trường không phải cái gì cũng khống chế theo ý muốn chủ quan được. Khống chế càng lâu sẽ càng méo mó.
    Có người đã đề nghị áp trần với cả 3 loại lãi suất, lãi suất cho vay, huy động và trên thị trường liên NH. Nhưng làm vậy sao được. Trong nền kinh tế thị trường không phải cái gì cũng khống chế theo ý muốn chủ quan được. Khống chế càng lâu sẽ càng méo mó.

    Với NH trung ương, khống chế lãi suất liên NH đâu có khó, nếu muốn tôi có thể bơm tiền ra được ngay. Nhưng NHNN không làm thế vì mục tiêu dài hạn của chúng ta là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.
    Có ý kiến từ Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cho rằng nên tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để kiểm soát lãi suất cho vay. Ông nghĩ sao về giải pháp này?
    Các NH đang huy động 14-15% một năm. Dự trữ bắt buộc tức là ông giữ của NH một lượng tiền nhất định mà chỉ trả cho người ta lãi suất 1,2%. Vốn dĩ họ đã phải chịu âm lãi suất cho khoản dự trữ bắt buộc đó rồi, nay muốn họ dự trữ nhiều hơn thì làm sao lãi suất cho vay giảm xuống được? Vì thế người ta mới nói dự trữ bắt buộc là công cụ bạo lực, một cách hành xử bạo lực với thị trường.
    Theo Song Linh
    VnExpress
  4. Dainam68

    Dainam68 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    19/03/2011
    Đã được thích:
    0
    Ngân hàng cần bao nhiêu vốn (1): Một tấm đệm và ba lớp lót



    [​IMG]
    Một hệ thống ngân hàng có quá ít vốn rất dễ gây khủng hoảng và sẽ thường xuyên phải xin giải cứu.


    Bài viết này nằm trong chuỗi Báo cáo đặc biệt của tạp chí The Economist về hệ thống ngân hàng toàn cầu.

    Hãy tưởng tượng có một loại bằng lái xe ghi lại đầy đủ “thành tích” của bạn trên đường. Bạn lái xe an toàn càng lâu thì càng được phép chạy nhanh cho đến khi xác suất gây tai nạn được đánh giá là ở mức trung bình, khi ấy bạn sẽ luôn di chuyển với tốc độ này.
    Hãy hãy tưởng tượng một chiếc xe có phanh tốt hơn nhưng không có túi khí, hay động cơ máy bay đáng tin cậy hơn nhưng lại ít được bảo dưỡng hơn và cuối cùng khiến tính an toàn của máy bay hiện giờ chẳng khác gì thập niên 50. Mục đích chính của phát minh không phải là hạn chế rủi ro mà là giảm giá chiếc ô tô hay chiếc máy bay đó.
    Kiểu tưởng tượng ấy thật ngớ ngẩn, ấy thế mà đó chính là những gì người ta nghĩ về ổn định tài chính trong suốt không chỉ ba thập kỷ qua và thậm chí còn trong cả thời gian sắp tới.
    Vốn để làm gì?
    Trọng tâm của cuộc tranh luận “ngân hàng nên an toàn đến đâu” là câu hỏi “nên yêu cầu ngân hàng nắm giữ bao nhiêu vốn”.
    Một hệ thống ngân hàng có quá ít vốn rất dễ gây khủng hoảng và sẽ thường xuyên phải xin giải cứu.
    Mặt khác, quá nhiều vốn có thể khiến nhiều bộ phận của ngành ngân hàng thua lỗ, đẩy chi phí tài chính tăng lên và giảm đà tăng trưởng kinh tế (dù không ai dám chắc về hai điểm này). Một nguy cơ lớn hơn là tiền và rủi ro có thể dồn về những bộ phận nhiều nguy hiểm và ít bị điều tiết hơn của nền kinh tế, khiến toàn hệ thống thậm chí còn bất ổn hơn.
    VCSH của ngân hàng có rất nhiều tác dụng.
    Thứ nhất là hấp thụ thua lỗ, trong đó nó đóng vai trò như một tấm đệm bảo vệ những ai đã tin tưởng giao tiền của mình cho một ngân hàng trước sai lầm của những người điều hành và sở hữu ngân hàng đó.
    Thứ hai, vốn hạn chế bản chất liều lĩnh của giới ngân hàng bằng cách tăng phần đóng góp của họ. Rõ ràng trước khủng hoảng tài chính, một số ngân hàng đã có quá ít vốn. Royal Bank of Scotland cần gói giải cứu khổng lồ không phải vì thua lỗ của ngân hàng này quá lớn mà vì vào đầu khủng hoảng “tấm đệm vốn” của họ quá mỏng, chỉ 3,5%.
    “Hiện đại” – “hại điện”
    Nhờ hai phát minh mà điều này có thể thực hiện được.
    Thứ nhất là chính các bộ nguyên tắc. Theo hiệp ước quốc tế gốc về vốn ký tại Basel năm 1988, ngân hàng phải có VCSH trị giá 8% tổng tài sản. Vì có một số loại tài sản an toàn hơn, và một số ngân hàng cho vay an toàn hơn nên việc cho phép ngân hàng tính toán số vốn họ thực sự cần dựa trên xác suất phá sản của các khoản vay nghe có vẻ sáng suốt.
    Basel 2 năm 2004 công khai cho phép điều đó. Ngân hàng nào có khách hàng càng khả tín, càng được giữ ít vốn trong khi ngân hàng nào theo đuổi các thương vụ rủi ro hơn sẽ phải có nhiều vốn hơn. Dù vậy, mô hình tài chính xác định rủi ro của khoản vay khi đem thử nghiệm đã thất bại tuyệt đối vì nó được xây dựng trên dữ liệu thu thập trong điều kiện kinh tế ổn định một cách bất thường.
    Loại phát minh thứ hai là về vốn. Trong những năm tiền khủng hoảng, vô số nhà ngân hàng (banker) và luật sư đã cho ra đời các công cụ mới mà với ngân hàng “rẻ” chẳng kém gì chứng khoán nợ (chi phí lãi vay ở nhiều nước được khấu trừ thuế trong khi cổ tức thì không), dù vậy vẫn đủ “giống” chứng khoán vốn để làm hài lòng cơ quan điều tiết.
    “Tuần nào cũng có banker hoặc luật sư nào đó tuyên bố mình nghĩ ra một loại công cụ vốn mới,” một quan chức giám sát ngân hàng nói. “Đương nhiên là họ chỉ đang lách luật mà thôi.”
    “Tấm đệm vốn” của Basel 3
    Quy tắc mới về vốn, còn gọi là Basel 3, cố giải quyết tất cả những vấn đề trên bằng cách buộc ngân hàng tăng vốn chủ sở hữu và yêu cầu phần lớn trong số đó phải là vốn đầu tư của chủ sở hữu (tức vốn cổ phần).
    Về cơ bản, Basel 3 tăng gấp 3 lần số vốn đầu tư của chủ sở hữu mà phần lớn các ngân hàng lớn phải có so với giai đoạn trước khủng hoảng. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu sẽ tăng từ 8% lên 10,5% trước năm 2019, nhưng nhiều ngân hàng sẽ về đích trước để chứng minh sức mạnh của mình.
    Mức điều chỉnh theo Basel 3 này lớn hơn nhiều so với những gì người ta nghĩ vì ngân hàng phải có 7% dưới dạng vốn đầu tư của chủ sở hữu, thứ bản vị vàng của vốn. Những quy định trên cũng khắc phục được các lỗ hổng cho phép ngân hàng nắm giữ ít vốn hơn, ví dụ như chuyển tài sản khỏi bảng cân đối kế toán hay phân loại chúng thành tài sản để giao dịch.Số vốn sắp tăng mạnh nên sức chịu đựng thua lỗ của ngân hàng cũng sẽ tốt hơn.
    Nhưng “tấm đệm” ấy không rẻ chút nào. Standard & Poors’s nghiên cứu 75 ngân hàng lớn nhất thế giới và phát hiện họ sẽ phải huy động thêm 763 tỷ đôla vốn cổ phần chỉ để đạt mức vốn tối thiểu. Theo tính toán của McKinsey (có cả các tổ chức nhỏ hơn), ngân hàng Châu Âu sẽ cần thêm 1,1 nghìn tỷ đôla vốn cổ phần. Ngân hàng Mỹ sẽ phải huy động 870 tỷ đôla.
    “Lớp lót” Cocos và Bail-in debt
    Nhiều nước đang cân nhắc yêu cầu ngân hàng có thêm “lớp lót” là vốn có thể hoán đổi (convertible capital) và chứng khoán nợ giải cứu khẩn cấp (bail-in debt).
    Công cụ vốn có thể hoán đổi, còn gọi là Cocos, là loại đơn giản hơn. Đó là các trái phiếu tự chuyển đổi thành cổ phiếu khi tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng xuống quá thấp.
    Cho đến nay, cơ quan điều tiết Thụy Sỹ là nhiệt thành nhất với ý tưởng này. Họ đã yêu cầu hai ngân hàng lớn nhất nắm giữ lượng Cocos tới 9% tổng tài sản đã điều chỉnh theo rủi ro (trong số 19% VCSH). Theo họ, Cocos không chỉ là cách rẻ tiền để ngân hàng tăng dự trữ vốn mà còn khiến họ cẩn trọng hơn, vì cổ đông sẽ lỗ nặng do cổ phiếu bị pha loãng khi Cocos chuyển đổi.
    Vẫn có một số lo ngại không rõ nhà đầu tư có mua hàng tỷ đôla Cocos sẽ được phát hành hay không, nhưng dù sao thì hồi tháng 2 Credit Suisse cũng đã huy động được 8 tỷ đôla theo cách này.
    Một nguồn vốn nữa của ngân hàng là từ chuyển đổi một phần chứng khoán nợ dài hàn thành cổ phiếu, hay “giải cứu bằng chứng khoán nợ” (bail the debt in). Nó cũng tương tự như Cocos nhưng lý tưởng nhất là áp dụng cho tất cả chứng khoán nợ dài hạn của ngân hàng thay vì chỉ một phần nhỏ, thế nên ắt nó cũng sẽ gây nhiều tranh cãi hơn.
    Bất ngờ là nhà đầu tư trái phiếu nhìn chung thích mua trái phiếu có thể bị “bail in” hơn Cocos. Theo cách nhìn của họ, “bail-in debt” chỉ chuyển đổi khi ngân hàng thực sự phá sản và khi ấy thì đằng nào họ cũng lỗ, chứ không phải là khi ngân hàng mới “hấp hối”. Nhưng dù có chuyển sang dùng công cụ nào thì cũng phải mất nhiều năm và chúng còn phải chứng minh được ưu điểm của mình trong một cuộc khủng hoảng nữa.
    Minh Tuấn
    Economist
  5. Dainam68

    Dainam68 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    19/03/2011
    Đã được thích:
    0
    Căng tín dụng phi sản xuất

    Thứ Sáu, 27/05/2011 23:01
    Nhiều ngân hàng không thể đưa tỉ trọng cho vay phi sản xuất về đúng quy định bởi không thể thu hồi vốn từ cho vay bất động sản

    Tổng dư nợ cho vay tăng không đáng kể vì hạn mức tăng trưởng tín dụng bị khống chế dưới 20%/tổng dư nợ cho vay, khó thu hồi nợ… là những yếu tố khiến các ngân hàng (NH) căng thẳng trong việc giảm dư nợ cho vay phi sản xuất.
    Khó thu hồi nợ bất động sản
    Theo quy định của NH Nhà nước, ngày 30-6 là hạn chót các NH giảm tỉ trọng dư nợ cho vay phi sản xuất (chủ yếu là cho vay bất động sản, tiêu dùng, chứng khoán) xuống còn 22%/tổng dư nợ cho vay. Trước đó, tại thời điểm quy định này được ban hành (đầu tháng 3-2011), trong số 42 NH, có 18 NH có tỉ trọng cho vay phi sản xuất trên 25% và 24 NH có tỉ trọng trên 26%. Từ đó đến nay, các NH đồng loạt hạn chế cho vay phi sản xuất, tích cực thu hồi vốn từ khách hàng đã vay tiền đầu tư bất động sản, chứng khoán, mua sắm ô tô, vật dụng gia đình, du học…
    [​IMG]
    Nhiều ngân hàng đang phải tăng cường thu hồi vốn vay tiêu dùng, chứng khoán, bất động sản. Ảnh: TẤN THẠNH
    Cán bộ tín dụng của nhiều NH cho biết việc thu hồi nợ cho vay tiêu dùng, chứng khoán… không khó vì đây là các khoản vay ngắn hạn, tài sản thế chấp là các loại hàng hóa mà NH có thể nhanh chóng phát mãi để thu hồi vốn. Ví dụ, nếu người vay tiền để đầu tư chứng khoán không trả được nợ, NH sẽ thu hồi vốn từ việc giải chấp số cổ phiếu mà bên vay đã thế chấp...
    Còn việc thu hồi nợ bất động sản xem ra “bất khả thi” bởi trong cơ cấu cho vay phi sản xuất, cho vay bất động sản chiếm 80% và đều là các khoản vay có thời hạn 3-5 năm, thậm chí 10 năm và tập trung vào các dự án nhà ở cao cấp nên NH không thể một sớm một chiều thu hồi vốn. Trong khi đó, thị trường nhà đất thưa thớt người mua. Chủ dự án bất động sản, nhà đầu tư bất động sản nhỏ lẻ gần như không bán được hàng thì lấy đâu ra tiền trả nợ NH.
    Loay hoay ứng phó
    Nhiều ý kiến cho rằng các NH cần tập trung vốn cho sản xuất kinh doanh để tổng dư nợ cho vay tăng lên sẽ giảm được tỉ trọng cho vay phi sản xuất. Thế nhưng, do các NH đua tăng lãi suất đầu vào lên 17%- 19% nên lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh leo lên 20%-22%/năm, đồng thời điều kiện vay thắt chặt nên không mấy doanh nghiệp tiếp cận vốn. Vì thế, tổng dư nợ cho vay của nhiều NH tăng thêm không đáng kể, không thể giảm nhanh tỉ trọng cho vay phi sản xuất.
    Phó tổng giám đốc một NH ở TPHCM cho biết đến ngày 30-6, NH của ông chỉ có thể giảm tỉ lệ cho vay phi sản xuất xuống 25%, tức giảm được 1% so với đầu tháng 3-2011. Nhiều NH khác cũng cho biết không thể đưa tỉ trọng cho vay phi sản xuất về đúng quy định.
    Trước tình hình trên, một số NH đã đối phó bằng cách phối hợp với doanh nghiệp bất động sản tiếp tục cho vay sản xuất kinh doanh, trả nợ cũ để hợp thức hóa việc thu hồi nợ bất động sản giảm nhằm giảm tỉ trọng cho vay phi sản xuất. Trong khi đó, không ít chi nhánh của các NH ở các tỉnh lẻ mạnh tay huy động vốn với lãi suất 20%/năm, rồi biến tướng số vốn huy động được thành số tiền thu hồi từ cho vay phi sản xuất...
    Trao đổi với báo giới, lãnh đạo của nhiều NH thương mại đề xuất NH Nhà nước giữ nguyên thời hạn chót giảm tỉ trọng cho vay phi sản xuất nhưng nâng tỉ trọng lên 24%, rồi đến ngày 30-9 còn 22% và đến hết năm 2011 là 16% để các NH có thêm thời gian đốc thúc khách hàng trả nợ. Tuy nhiên, một quan chức của NH Nhà nước cho biết đầu tuần tới, NH Nhà nước sẽ làm việc trực tiếp với các NH thương mại về các vấn đề liên quan đến tín dụng. Theo đó, nhiều khả năng NH Nhà nước sẽ cụ thể hóa thời hạn, tỉ trọng cho vay phi sản xuất đối với từng NH.
    14 ngân hàng tăng trưởng tín dụng vượt 20%
    Theo Thống đốc NH Nhà nước Nguyễn Văn Giàu, hiện có 14 NH vượt trần tăng trưởng tín dụng 20%, trong đó, tăng trưởng tín dụng của NH Thương mại Cổ phần Phương Tây là 24%, NH Thương mại Cổ phần Việt Nam Thương Tín 26%. Ông Giàu cũng cho biết: Tính đến ngày 23-5, huy động vốn toàn hệ thống NH tăng 1,48% so với cuối năm 2010, trong đó huy động vốn VNĐ giảm 2,75%, dư nợ cho vay VNĐ tăng 2,59%.
    Như vậy, câu hỏi đặt ra là huy động VNĐ giảm 2,75% thì lấy đâu ra tiền để tín dụng VNĐ tăng 2,59%? “Thực ra, nguồn vốn của NH không chỉ phụ thuộc vào huy động dân cư và các tổ chức kinh tế mà còn có nhiều kênh huy động vốn khác nên tín dụng tăng cao hơn huy động là bình thường” - ông Giàu lý giải.

    Thy Thơ
    http://nld.com.vn/20110527105450587p0c1014/cang-tin-dung-phi-san-xuat.htm
  6. Dainam68

    Dainam68 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    19/03/2011
    Đã được thích:
    0
    Nền kinh tế này có chết đi...thì ta vẫn giàu...

    Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: “Chính sách tiền tệ đang đúng hướng”


    [​IMG] E-mail [​IMG] Bản để in [​IMG] Cỡ chữ [​IMG] Chia sẻ: [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] Ý kiến (18)

    [​IMG]
    Thống đốc Nguyễn Văn Giàu.


    NGUYỄN HOÀI
    00:09 (GMT+7) - Thứ Sáu, 27/5/2011
    Trước những bàn luận về trần lãi suất, về hoạt động mua vào ngoại tệ, lo ngại khi huy động vốn VND sụt giảm…, chiều 26/5, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chính thức có ý kiến với VnEconomy.

    Thưa Thống đốc, hiện đang có lo ngại huy động VND bị giảm, Thống đốc nói gì về vấn đề này?

    Tới ngày 23/5 so với cuối năm 2010, tốc độ tăng trưởng huy động vốn toàn hệ thống ngân hàng tăng 1,48%. Trong đó, tốc độ huy động vốn VND giảm 2,75% nhưng tốc độ huy động ngoại tệ tăng 18,84%.

    Tuy nhiên, vốn huy động VND giảm nhưng chủ yếu ở khu vực tổ chức kinh tế với số tuyệt đối 156.700 tỷ đồng. Chúng tôi cho rằng, khi lãi suất tăng cao, bao giờ doanh nghiệp cũng rút tiền ra để sản xuất kinh doanh. Điều này là hoàn toàn lành mạnh. Vì nhờ đó, giá thành sản xuất giảm, thanh khoản nền kinh tế được cải thiện và góp phần làm giảm hệ số nở tiền trong nền kinh tế.

    Ngược lại, tiền gửi dân cư tăng tới 11,84%; trong đó, VND tăng 107.300 tỷ đồng, tương ứng 11,39% và tiền gửi ngoại tệ tăng 8,63%.

    Như thế, chính sách giảm tổng cầu và các giải pháp điều hành về lãi suất, tỷ giá đang có hiệu ứng tích cực, ở chỗ: dòng tiền gửi từ dân cư đang chảy mạnh vào hệ thống ngân hàng. Thử hình dung, nếu số tiền 107.300 tỷ đồng nói trên tiếp tục ngoài hệ thống ngân hàng thì chúng sẽ tấn công và tác động xấu đến giá cả hàng hóa như thế nào.

    Còn một số liệu quan trọng nữa là đến ngày 25/5/2011 so với 30/4/2011, tiền gửi ngoại tệ của dân cư giảm 2,89%, điều đó cho thấy một bộ phận lớn dân chúng đã bán mạnh ngoại tệ cho ngân hàng.

    Tóm lại, tiền gửi tổ chức kinh tế giảm nhưng lại tăng thanh khoản cho nền kinh tế, trong khi tiền gửi dân cư tăng, điều đó cho thấy diễn biến thị trường đã và đang đi đúng ý đồ điều hành của Chính phủ.

    Còn về tín dụng thì sao, thưa Thống đốc?

    Cũng so với cuối 2010 thì tính đến 23/5/2011, tổng dư nợ tín dụng tăng 6,2%. Trong đó, VND tăng 2,59%, tín dụng ngoại tệ tăng 18,9%. Khối lượng tín dụng tăng ròng cho nền kinh tế đạt 135.800 tỷ đồng, sau gần 5 tháng, mức tăng này đạt khoảng 33% so với dự kiến khối lượng tín dụng cả năm nay. Mức tăng này hoàn toàn an toàn và nằm trong tầm kiểm soát.

    Có một vấn đề ở đây, hẳn mọi người sẽ phân vân rằng: huy động VND giảm 2,75% thì lấy đâu ra tiền để tín dụng VND tăng 2,59%. Thực ra, nguồn vốn của ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào huy động thị trường 1, họ còn có nhiều kênh vốn khác nên tín dụng vẫn tăng cao hơn huy động là điều bình thường.

    Tôi thấy mừng vì Chính phủ kiên quyết đi theo Nghị quyết 11. Thủ tướng có nói với tôi rằng, nếu ngân hàng nào vượt tăng trưởng tín dụng 20% thì phải xử lý ngay. Chúng tôi đang làm và chờ tổng hợp để giải quyết cùng một lúc. Hiện có 14 ngân hàng vượt trần sẽ bị xử lý.

    Nhưng mức tăng nói trên có dồn về cho khu vực sản xuất như mong muốn của Chính phủ hay không?

    Theo Nghị quyết 11 của Chính phủ thì phải tập trung tín dụng cho khu vực sản xuất, đặc biệt là cho vay nông nghiệp - nông thôn và xuất khẩu. Hiện tại, tăng trưởng tín dụng khu vực này đang đạt 22,2%, so với mức tăng chung thì cao hơn 3,5 lần.

    Trong khi đó, xét về cơ cấu tín dụng thì tỷ trọng phi sản xuất hiện giảm được 1,92% và so với mức 18,87% cuối 2010, cơ cấu tín dụng phi sản xuất hiện nay là 16,95%. Tôi nghĩ, từ nay đến cuối 2011, toàn ngành có thể đưa tỷ trọng tín dụng phi sản xuất về mục tiêu 16% như mong muốn của Chính phủ.

    Tôi cũng muốn nói thêm, tới ngày 24/5/2011, có hai tổ chức tín dụng vẫn để tăng trưởng tín dụng vượt 20% so với yêu cầu của Nghị quyết 11 của Chính phủ như: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Tây 24%, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thương tín 26%. Tôi đã có chỉ đạo thanh tra hai ngân hàng này.

    Ngoài ra, một số ngân hàng nước ngoài có mức tăng tín dụng vượt quá 20% có đề nghị Ngân hàng Nhà nước cho phép vượt chỉ tiêu với lý do là quy mô nhỏ, mức tăng của họ không ảnh hưởng đến thị trường nhưng Ngân hàng Nhà nước kiên quyết không đồng ý. Bởi lẽ, đã ban hành chính sách thì tất cả phải thực hiện như nhau, không phân biệt. Quy mô lớn thì hoạt động lớn, quy mô nhỏ thì hoạt động nhỏ, không phải vì nhỏ mà có thể vượt quá tỷ lệ Ngân hàng Nhà nước cho phép. .

    Hơn nữa, trong điều kiện Nhà nước đã có những quy định áp dụng chung cho cả hệ thống thì tất cả phải nhất quán thực hiện, không có cá biệt. Rất có thể, khi thực hiện nghiêm túc thì sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận các ngân hàng nhưng trong điều kiện kinh tế vĩ mô còn khó khăn, mọi thành phần trong nền kinh tế phải chung vai chia sẻ.

    Hiện tại, nhiều tổ chức tín dụng xé rào lãi suất huy động 14%, Ngân hàng Nhà nước có ý kiến gì?

    Khi vi phạm thì phải xử lý và kỷ luật nghiêm, Ngân hàng Nhà nước không thể nương nhẹ với biểu hiện này. Những chi nhánh ngân hàng thương mại nào vi phạm nếu Ngân hàng Nhà nước phát hiện sẽ kỷ luật giám đốc chi nhánh, thậm chí xem xét tới việc dừng hoạt động chi nhánh đó. Khi đất nước khó khăn thì nên giảm bớt lợi nhuận, thậm chí phải “đồng cam cộng khổ”, đừng vin vào cớ lạm phát cao để làm loạn thị trường và gây ảnh hưởng xấu tới dư luận xã hội.

    Tới đây, Ngân hàng Nhà nước sẽ hợp tác chặt chẽ với cơ quan bảo vệ pháp luật và báo chí để phát hiện, điều tra và xử lý kịp thời những biểu hiện vi phạm nói trên.

    Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đang tập trung xử lý một vụ việc phi phạm xé rào lãi suất tại Tp.HCM, khi nào xong, chúng tôi sẽ công bố công khai.

    Hiện xôn xao thông tin Ngân hàng Nhà nước sẽ khống chế trần lãi suất cho vay, Thống đốc nói gì về vấn đề này?

    Cũng có ý kiến về vấn đề này nhưng đã có chủ trương, chính sách gì đâu? Đừng nghĩ quy định trần lãi suất cho vay thì dễ quản lý nhờ vào “tố cáo” của khách hàng! Thực tiễn cuộc sống không đơn giản như vậy. Bởi lẽ, khi cung tín dụng dư thừa thì có thể làm như thế nhưng cung đang thiếu thì làm thế sao được? Hơn nữa, tố cáo được một ông thì cả trăm ông không được vay đâu. Thế rồi ngân hàng không cho doanh nghiệp vay mà mang tiền đi làm đủ chuyện: bán vốn cho nhau, mua bán ngoại tệ, mua giấy tờ có giá và cuối cùng thì tín dụng không đi vào nền kinh tế, hóa ra lợi bất cập hại.

    Mới đây, thị trường xôn xao thông tin Ngân hàng Nhà nước mua 1 tỷ USD, cung ra thị trường khoảng 20 nghìn tỷ đồng vì thế, có thể Ngân hàng Nhà nước sẽ phát hành tín phiếu bắt buộc để hút số tiền này về. Thống đốc giải thích như thế nào?

    Ngân hàng Nhà nước mua bán ngoại tệ như thế nào, giá cả, số lượng ra sao là nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước. Không phải Ngân hàng Nhà nước làm cái gì là cứ công bố tất thảy được.

    Tuy nhiên, với những gì đang diễn ra trên thị trường ngoại tệ, đã cho thấy chúng tôi đang điều hành chính sách ngoại hối đúng hướng và điều này nằm trong cả gói chính sách quản lý từ quản lý thị trường vàng, ngoại tệ đến lãi suất. Hiện tại, Ngân hàng Nhà nước không có chủ trương phát hành tín phiếu bắt buộc.
  7. Dainam68

    Dainam68 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    19/03/2011
    Đã được thích:
    0
    "Chính sách tiền tệ đi đúng hướng.." để rồi lãi suất cao như thế thì doanh nghiệp có sống được ko...???


    Giám đốc ADB Việt Nam: ‘Lãi suất khó hạ trong năm 2011’

    Nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, ông Ayumi Konishi cho rằng Việt Nam cần tiếp tục thắt chặt tiền tệ và duy trì mức lạm phát thấp trong vòng 12 - 18 tháng. Do đó, lãi suất ngân hàng sẽ khó có khả năng hạ trong năm nay.
    > 'Lạm phát cao hơn vì kỳ vọng của người dân'


    Giám đốc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam Ayumi Konishi vừa có cuộc trao đổi với VnExpress.net bên lề Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam 2011.
    - Tại Diễn đàn Doanh nghiệp năm nay, có nhiều ý kiến cho rằng Chính phủ Việt Nam cần đưa ra những giải pháp dài hạn hơn để xử lý những bất ổn vĩ mô, đặc biệt là vấn đề lạm phát. Ông nghĩ sao về những đề xuất này?
    - Không chỉ ở Việt Nam mà bất cứ đâu khác trên thế giới, người ta đều đang phải nghĩ tới việc cải tổ cơ cấu nền kinh tế. Tại sao lại vậy? Chúng ta có vấn đề vào năm 2008. Sau khi phục hồi được một chút vào 2009 thì nguy cơ khủng hoảng gần đây lại xuất hiện. Nguyên nhân chủ yếu là những bất ổn cơ bản của nền kinh tế không được giải quyết.
    [​IMG]
    Giám đốc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam Ayumi Konishi. Ảnh: Nhật Minh. Tại Việt Nam cũng vậy, tôi nghĩ các nhà lãnh đạo cũng đã bắt đầu nhận thức điều này và sự thay đổi phần nào được thể hiện trong Chiến lược phát triển 2011 - 2020 được Đại hội Đảng XI đề ra, trong đó tập trung vào cải thiện năng suất của nền kinh tế, phát triển nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng.
    Tuy nhiên, các bạn sẽ cần thêm một số giải pháp cụ thể hơn ở tầm trung hạn, trong giai đoạn từ nay đến 2015. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần thực hiện tốt các giải pháp tức thời đã được đề ra tại Nghị quyết 11 của Chính phủ, trong đó, tập trung vào thắt chặt tiền tệ và giảm đầu tư công…
    - Tuy nhiên, mặt trái của việc thắt chặt tiền tệ là đưa mặt bằng lãi suất hiện nay lên cao, gây khó khăn cho sản xuất của doanh nghiệp, ông nghĩ sao?
    - Tôi nghĩ trong ngắn hạn, lãi suất tại ngân hàng có xu hướng đi lên vì lạm phát của Việt Nam vẫn ở mức cao. Do đó, chính sách tiền tệ vẫn cần tiếp tục được thắt chặt. Chúng tôi rất hiểu những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải trong điều kiện lãi suất cao. Tuy nhiên, cần thấy rằng mục tiêu tối thượng hiện nay là kiềm chế lạm phát. Khi các điều kiện vĩ mô ổn định hơn, tôi cho rằng lãi suất mới có điều kiện hạ.
    Về lý thuyết thì lãi suất chỉ có thể hạ khi lạm phát xuống thấp. Tuy nhiên, ở Việt Nam có một vấn đề là lạm phát kỳ vọng của nền kinh tế là rất cao. Nếu muốn ổn định, mức độ lạm phát thấp phải được duy trì trong ít nhất là 12 - 18 tháng. Do đó, tôi cho rằng các doanh nghiệp cần có sự chuẩn bị bởi chu kỳ lãi suất cao rất có thể sẽ kéo dài thêm một khoảng thời gian nữa.
    - Vậy ông nhận định, khi nào mặt bằng lãi suất có khả năng đi xuống?
    - Việt Nam đã có bài học từ cuối năm 2010, khi chính sách tiền tệ được nới lỏng sớm, lãi suất hạ thì lạm phát lại tăng cao. Điều này không nên lặp lại trong năm nay. Bản thân ADB đánh giá rất cao quyết tâm của Chính phủ tại Nghị quyết 11 và thực tế những giải pháp đề ra đã phát huy tác dụng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn cần thêm thời gian.
    Theo nghiên cứu của chúng tôi thì lạm phát của Việt Nam vẫn sẽ ở mức cao cho đến tháng 8. Lạm phát tính theo năm (year-on-year) khi đó khoảng 20%. Do đó, nếu thực sự muốn kiềm chế lạm phát, lãi suất khó có thể hạ trong những tháng cuối năm 2011.
    - Ông nghĩ thế nào về ý tưởng cho rằng việc thắt chặt tiền tệ, nâng lãi suất là cơ hội để Việt Nam đào thải những doanh nghiệp yếu kém, góp phần tái cấu trúc nền kinh tế?
    - Ý tưởng này đã được Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình chia sẻ tại Diễn đàn Doanh nghiệp năm nay. Tôi hoàn toàn ủng hộ. Khi tái cấu trúc nền kinh tế, yếu tố năng suất và sử dụng vốn hiệu quả cần được đề cao. Trong điều kiện tiền tệ thắt chặt, lãi suất cao, các doanh nghiệp yếu kém, sử dụng vốn kém hiệu quả sẽ càng gặp khó khăn. Nếu họ không thay đổi thì tất yếu sẽ bị đào thải. Bên cạnh đó, đây cũng là cơ hội cho một thế hệ doanh nghiệp mới, gọn nhẹ hơn, hiệu quả hơn ra đời.
  8. thailo2011

    thailo2011 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    21/05/2011
    Đã được thích:
    1.308
    Chỉ vì mấy câu nói của anh R phát ra mà kinh tế đã ổn được chăng???? Thật là quá hài hước
  9. Dainam68

    Dainam68 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    19/03/2011
    Đã được thích:
    0
    Ko biết nói gì hơn...khi mà ở Vịt ngan sao lại thế,,,chắc phải 50 năm nữa những sự thật sẽ được phơi bày....

    Lạm phát và chính sách tiền tệ ở một số nước Đông Nam Á



    Tình trạng giá cả tăng cao ở các nước Đông Nam Á khiến ngân hàng trung ương các nước khu vực phải thắt chặt tiền tệ.
    Ngày 12/5/2011, Ngân hàng trung ương Indonesia duy trì lãi suất cơ bản ở mức 6,75%. Các nhà phân tích dự đoán rằng ít có khả năng nước này tăng lãi suất, do diễn biến lạm phát có thể suy giảm trong tháng 5 và tháng 6.
    Tuy vậy, Ngân hàng trung ương Indonesia có thể sẽ tăng lãi suất trong quý 3 nếu lạm phát tăng trở lại do năm học mới bắt đầu và người dân có thể chi tiêu nhiều hơn trong tháng Ramadan.
    Lạm phát năm của Indonesia đã giảm tới mức thấp trong vòng 6 tháng vừa qua, xuống 6,16% vào tháng 4; tháng 3 là 6,65%. Giá lương thực, thực phẩm đang giảm.
    Tháng 2 vừa qua, Indonesia đã tăng lãi suất thêm 25 điểm phần trăm, đây là đợt tăng lãi suất đầu tiên của Inđônêsia trong vòng 2 năm qua.
    Ngân hàng trung ương Thái Lan được dự đoán sẽ tăng lãi suất chuẩn – lãi suất mua lại 1 ngày - thêm 25 điểm phần trăm, đưa lãi suất này lên mức 3% trong phiên họp ngày 1/6/2011 nhằm kiềm chế lạm phát.
    Từ tháng 7 năm ngoái, Thái Lan đã tăng lãi suất 6 lần, từ mức thấp kỷ lục là 1,25% nhằm hỗ trợ nền kinh tế vượt qua khủng hoảng. Lạm phát năm của nước này đã lên tới 4,04% vào tháng 4, tháng 3 là 3,14%. Ngân hàng trung ương nước này dự báo lạm phát ngắn hạn năm nay của Thái Lan sẽ ở mức 3,9% và lạm phát mục tiêu (dài hạn) là 2,3%. Tuy nhiên, mức lạm phát mục tiêu có thể tăng thêm từ 0,3 – 0,5% tuỳ thuộc vào kết quả thực hiện chính sách tiền tệ.
    Lạm phát năm của Singapore giảm xuống mức 4,5% vào tháng tư so với mức 5,0% của tháng 3. Ngân hàng trung ương nước này đã cảnh báo lạm phát năm nay của Singapore có thể ở cận trên của mức dự báo 3-4%.
    Trong tháng 4, nước này đang tiếp tục thắt chặt tiền tệ bằng cách tăng giá trị đồng đôla Singapore và tiếp tục duy trì mức tham chiếu để điều chỉnh tăng tỷ giá một cách từ từ với mức tăng trung bình.
    Lạm phát năm của Malaysia đã ở mức 3,2% vào tháng 4, và 3,0% trong tháng 3. Các nhà kinh tế cho rằng Ngân hàng trung ương Malaysia có thể sẽ thắt chặt tiền tệ trở lại trong tháng 7 tới.
    Ngày 5/5/2011, Ngân hàng trung ương Malaysia đã tăng lãi suất thêm 25 điểm phần trăm lên mức 3%/năm nhằm kiềm chế lạm phát và yêu cầu các ngân hàng thương mại tăng cường dự trữ tiền.
    Ngân hàng trung ương Philippines đã tăng lãi suất lần thứ 2 liên tiếp trong tháng 5 sau khi giá tiêu dùng của nước này đã tăng với tốc độ cao nhất trong tháng 4 vừa qua.
    Thống đốc Ngân hàng trung ương Philippines cho biết, có thể mục tiêu lạm phát năm 2011 từ 3-5% do Chính phủ đề ra có thể sẽ không thực hiện được. Việc điều chỉnh lãi suất lần này cũng để nhằm kéo lạm phát trở lại mức mục tiêu. Lạm phát năm của Philippines trong tháng 4 đã tăng lên tới 4,5%.
    Bên cạnh khu vực Đông Nam Á, Mỹ và châu Âu cũng có những phản ứng chính sách thích hợp để hỗ trợ sự phục hồi kinh tế.
    Theo James Bullard, Giám đốc Ngân hàng Dự trữ Liên bang St. Louis, Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) có thể dỡ bỏ chính sách tiền tệ cực lỏng vào nửa cuối của năm 2011 nếu đà phục hồi kinh tế tiến triển tốt.
    Ông Bullard nói, Fed có thể không dỡ bỏ chính sách ngay lập tức, mà sẽ tiếp tục duy trì chính sách "trong một vài cuộc họp" cho tới khi chương trình mua trái phiếu kết thúc vào tháng Sáu. Điều này đồng nghĩa với việc Fed sẽ duy trì lãi suất gần 0% thêm một thời gian nữa và tái đầu tư các trái phiếu đáo hạn để duy trì ổn định quy mô danh mục đầu tư.
    Trả lời phỏng vấn báo chí về việc liệu Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) có tiếp tục tăng lãi suất sau đợt tăng lên mức 1,25% vào tháng 4, ông Juergen Stark, thành viên Ban giám đốc điều hành ECB cho biết, ECB sẵn sàng tăng lãi suất nếu cần thiết.
    Tuy nhiên ông cũng nói: “Chúng tôi cũng hy vọng rằng đà tăng trưởng kinh tế của khu vực sẽ tiếp tục được duy trì. Do đó, ít có khả năng phải điều chỉnh chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ”.
    Theo SBV
  10. Dainam68

    Dainam68 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    19/03/2011
    Đã được thích:
    0
    Ngân hàng cần bao nhiêu vốn (2): “Sống” chưa đủ, còn phải “làm”



    [​IMG]
    Liệu ngân hàng đơn giản chỉ cần đủ vốn để tồn tại trong khủng hoảng mà không mất thanh khoản hay họ nên có đủ vốn để hấp thụ thua lỗ và vẫn tiếp tục cho vay.


    Bài viết này nằm trong chuỗi Báo cáo đặc biệt của tạp chí The Economist về hệ thống ngân hàng toàn cầu.
    “Lớp lót phản chu kỳ kinh doanh”
    “Tấm đệm vốn” còn có hai “lớp lót” nữa.
    Thứ nhất là phần thặng dư mà các ngân hàng xuyên quốc gia hàng đầu phải chịu do khả năng tàn phá to lớn nếu chúng sụp đổ.
    Thứ hai là “lớp lót phản chu kỳ kinh doanh” (countercyclical buffer), “lớp lót” này sẽ “dày thêm” khi kinh tế bùng nổ (khiến bong bóng chậm phồng lên hơn) và “mỏng đi” khi bong bóng vỡ. Nó sẽ đảm bảo ngân hàng có thặng dư vốn trên mức tối thiểu để ghi giảm nợ xấu. Nó sẽ không chỉ giúp ngân hàng mà còn toàn bộ nền kinh tế vì giúp ngân hàng duy trì được tỷ lệ an toàn vốn quy đình ngay cả khi tiếp tục cho vay.
    Các quy định “phản chu kỳ kinh doanh” dần trở nên phổ biến kể từ khi NHTW Tây Ban Nha sử dụng chúng để kiềm chế cơn sốt bất động sản lan tràn tại nước này trước khủng hoảng.
    Cuối cùng thử nghiệm của TBN không giúp nước này tránh được vỡ bong bóng bất động sản và khủng hoảng ngân hàng, nhưng nếu không có chúng, tình hình có lẽ còn tồi tệ hơn. Ý tưởng thì hay nhưng thực hiện lại khó, chủ yếu là vì NHTW và cơ quan giám sát ngân hàng phải đủ dũng cảm để “cất rượu đi khi bữa tiệc đến cao trào”.

    [​IMG]

    Không dễ chặn kẻ “lách luật”
    Thị trường tài chính cũng lắm tin đồn. Tín dụng có thể chảy xuyên biên giới hay xuất phát từ các “ngân hàng bóng” (shadow bank), khiến cố gắng dùng quy định về vốn để ngăn chặn bong bóng của NHTW càng thêm phức tạp, James Mason từ Roubini Global Economics nói.
    Nhật Bản là một ví dụ điển hình. Hai thập kỷ trước, Bộ Tài chính Nhật không cho ngân hàng cho vay dùng bất động sản làm tài sản thế chấp nhằm chọc thủng bong bóng tài sản, nhưng sau đó bong bóng này nổ tung và để lại hậu quả thảm khốc. Nỗ lực ấy là quá muộn để có thể thay đổi điều gì, nhưng rút cục thì nó cũng bị các công ty cho vay mua nhà “lách” vì dù sao thì các công ty này cũng chẳng phài ngân hàng.
    Ở Mỹ và Châu Âu, sự tăng trưởng ấn tượng của các quỹ trên thị trường tiền tệ và hệ thống ngân hàng bóng trong vài thập kỷ trước khủng hoảng chủ yếu phản ánh việc rủi ro được chuyển khỏi ngân hàng để tránh né các quy định về vốn (xem đồ thị 2).


    [​IMG]
    Xu hướng này đảo ngược trong khủng hoảng nhưng nay lại tiếp diễn khi quỹ đầu cơ các sản phẩm có thu nhập cố định và tài sản thay thế tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với ngân hàng.
    Một giải pháp là mở rộng định nghĩa về ngân hàng và ngành ngân hàng để bao gồm tất cả những tổ chức cho vay. Anil Kashyap từ ĐH Chicago nằm trong số những người cho rằng cơ quan điều tiết nên áp đặt các quy định về vốn lên thị trường repo, bộ phận ít nhận được chú ý của thị trường tài chính thế giới (cho đến khi nó đột ngột dừng hoạt động).
    Quyết định ngân hàng cần bao nhiêu vốn nên là một quy trình toán học tương đối đơn giản, nhưng vẫn có bất đồng sâu sắc ngay cả về số vốn ngân hàng cần nắm giữ để tồn tại được trong cuộc khủng hoảng trước chứ chưa nói đến cuộc khủng hoảng tiếp theo.
    Vài tháng gần đây bất đồng lại càng sâu sắc hơn sau khi hai nghiên cứu giàu sức thuyết phục được công bố, một của David Miles từ NHTW Anh và một của một nhóm các nhà kinh tế bao gồm Anat Admati và các cộng sự của bà tại ĐH Stanford và Martin Hellwig từ Việ Max Planck tại Bonn.
    Họ cho rằng ngân hàng cần số vốn cổ phần lớn gấp 2-3 lần so với đề xuất hiện nay vì thiệt hại khổng lồ mà xã hội phải gánh chịu nếu chúng sụp đổ. Hơn nữa, họ cho rằng làm vậy không gây nhiều tác dụng phụ như người ta tưởng.
    “Sống sót” thôi chưa đủ, còn phải “làm việc” được
    Tranh luận còn xoay quanh việc liệu ngân hàng đơn giản chỉ cần đủ vốn để tồn tại trong khủng hoảng mà không mất thanh khoản hay họ nên có đủ vốn để hấp thụ thua lỗ và vẫn tiếp tục cho vay.
    Nếu nhắm tới mục tiêu trên thì số vốn hiện nay có lẽ là ổn. Trong khủng hoảng, ngân hàng Mỹ hấp thu số lỗ tương đương 7% tài sản. Vì không phải hấp thu ngay một lúc và một số bộ phận của ngân hàng vẫn cho lợi nhuận nên đặt tỷ lệ an toàn vốn ở mức 7% là vừa. Tuy vậy, theo nghiên cứu của Kashyap, nếu mục tiêu là đảm bảo ngân hàng không chỉ sống sót mà còn đủ sức tiếp tục cho vay, thì tỷ lệ an toàn vốn phải được tăng lên khoảng 15%.
    Vài thập kỷ qua cơ quan điều tiết có xu hướng yêu cầu số vốn quá thấp. Nay họ đã nhận ra sai lầm. Nhưng phần lớn các cơ quan điều tiết và NHTW vẫn không sẵn sàng yêu cầu ngân hàng giữ tỷ lệ vốn trên 10%.
    Trừ Thụy Sỹ, nước đang đề xuất các yêu cầu về vốn cao nhất trong các nước giàu, và Anh, nước đang cân nhắc mức vốn cổ phần tối thiểu 10%, dường như sẽ không có nước phát triển nào yêu cầu “tấm đệm vốn” phải lên tới 15-20% tài sản.
    Nguyên nhân là vì vốn khá “đắt”. Tiêu chuẩn về vốn tăng làm giảm lợi nhuận cổ đông và hạn chế đà tăng trưởng của các nền kinh tế tăng trưởng nhanh như Ấn Độ và Indonesia (vốn có tăng trưởng tín dụng 20-25%/năm).
    Ông Aditya Puri, Giám đốc điều hành HDFC, một trong những ngân hàng tư nhân tăng trưởng nhanh nhất Ấn Độ, cho rằng vì ngân hàng ông làm ăn quá có lãi nên chỉ cần sử dụng nguồn lợi nhuận giữ lại chứ không cần tăng quá nhiều vốn. ICICI, ngân hàng lớn thứ hai Ấn Độ, cũng vậy. Dù vậy, State Bank of India, ngân hàng lớn nhất và thuộc quyền kiểm soát của chính phủ, có lẽ sẽ phải hỏi ý kiến cổ đông để huy động thêm vốn.
    Tăng yêu cầu về vốn ảnh hưởng thế nào tới tăng trưởng?
    Ít ai không cho rằng tăng yêu cầu về vốn sẽ làm giảm tăng trưởng, nhưng giảm đến đâu lại gây nhiều tranh cãi.
    FED New York tính toán rằng cứ tăng tỷ lệ an toàn vốn thêm 1%, tăng trưởng kinh tế sẽ chậm lại 0,09%/năm. Ủy ban Basel và NH Thanh toán quốc tế cho rằng tác hại chỉ bằng một phần ba và sau một thời gian nó sẽ biến mất. OECD đưa ra kết quả nằm trong khoảng rộng tới mức chấp nhận được cả hai. Và Viện Tài chính Quốc tế, một tổ chức của các ngân hàng, cho rằng tác động lớn hơn cả chục lần.
    Dù vậy vẫn chưa rõ điều đó có ý nghĩa gì mấy không. OECD cho rằng vì tác động tới tăng trưởng chủ yếu là do chi phí lãi vay tăng, NHTW có thể bù đắp lại bằng cách nới lỏng nhẹ chính sách tiền tệ.
    Cũng không nên nhìn nhận chi phí một cách độc lập. Ngân hàng có thể mua bảo hiểm giúp họ hoàn toàn tránh hoặc giảm nhẹ được thiệt hại trong cuộc khủng hoảng tiếp theo.
    Minh Tuấn


    Economist, DĐDN

Chia sẻ trang này