Ngân hàng nội... toát mồ hôi

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi botaydotcom, 28/04/2008.

653 người đang online, trong đó có 261 thành viên. 18:06 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 417 lượt đọc và 0 bài trả lời
  1. botaydotcom

    botaydotcom Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    09/05/2007
    Đã được thích:
    19
    Ngân hàng nội... toát mồ hôi

    Nhiều ngân hàng lớn trên thế giới vừa công bố các khoản nợ xấu và thua lỗ, ngân hàng nội...cũng toát mồ hôi.

    Sự kiện nhiều NH lớn trên thế giới công bố các khoản nợ xấu và thua lỗ đang được cộng hưởng với tình trạng tiền khủng hoảng tín dụng toàn cầu sẽ ảnh hưởng xấu trực tiếp đến thị trường tài chính - tín dụng quốc tế. Việt Nam liệu sẽ chịu tác động thế nào? Các NH Việt Nam có cần phải ?otrông người ngẫm đến ta??

    Trong thời gian tới, nếu nhiều ngân hàng lớn có tầm ảnh hưởng toàn cầu không cải thiện được tình hình kinh doanh và lành mạnh tài chính thì dấu hiệu của làn sóng khủng hoảng tín dụng thế giới càng hình thành đậm nét hơn.

    Khi đó, những hoạt động đầu tư và tín dụng bề rộng trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt ở những vùng kinh tế nhạy cảm, nhiều rủi ro có nhiều nguy cơ bị thu hẹp do những tiêu chuẩn ngặt nghèo hơn về an toàn tài chính-tín dụng, cũng như có thể có sự điều chỉnh chiến lược kinh doanh thích ứng từ các bên liên quan.

    Nguy cơ mất vốn ngoại
    Trong bối cảnh hiện nay, nếu Việt Nam nằm trong diện bị đánh giá là có nhiều rủi ro thì sẽ phải chịu sự thu hẹp đáng kể luồng vốn quốc tế đổ vào, thậm chí cả sự đảo chiều và gia tăng của những dòng vốn chảy ra, tháo chạy khỏi Việt Nam.

    Cho nên, muốn hấp thụ nguồn vốn lớn từ các định chế tài chính thế giới, Việt Nam cần phải có chính sách ổn định môi trường đầu tư và cải thiện mức lạm phát theo hướng kéo xuống.

    Tuy nhiên, với những giải pháp kiềm chế lạm phát như hiện nay thì chưa thật đủ để làm điều này. Chúng ta còn một số vướng mắc, cả về nhận thức cũng như về xử lý kỹ thuật.

    Hơn nữa, chúng ta đang lúng túng trong nhận diện lạm phát khi chống lạm phát mang tính chất cả gói, không có giải pháp trọng tâm. Nhiều giải pháp đã được thực hiện, nhưng mới ở mức độ thăm dò, bằng chứng là những hoạt động hạn chế mở rộng tín dụng, tăng lượng cung tiền cũng chưa được khởi động thực sự.

    Đặc biệt, nguyên tắc lãi suất tiền gửi thực dương đã bị coi thường một cách thô bạo trong suốt gần 2 năm nay do chưa thống nhất về nhận thức, cũng như do các ngân hàng còn thờ ơ, bất chấp lệnh của chính phủ, thậm chí tranh thủ "đục nước béo cò".

    Như vậy, khả năng kéo lạm phát ở trong nước xuống dưới 2 con số trong năm 2008 và cả 2009 là hơi khó. Trong khi đó, thông thường, mức lạm phát 2 con số là nguy cơ cao đe doạ sự ổn định vĩ mô, làm giảm đáng kể sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước.

    Bất cập hệ thống ngân hàng
    Cần thấy rằng hệ thống NH Việt Nam cũng còn nhiều bất cập. Xét theo các khía cạnh: tổng vốn chủ sở hữu, tỷ lệ nợ xấu, cũng như các nghĩa vụ nợ và khả năng thanh khoản thì không phải tất cả các NH đều đảm bảo tiêu chuẩn an toàn.

    Bên cạnh đó còn là sự hạn chế về số lượng và chất lượng dịch vụ, nhất là các dịch vụ hiện đại và ngày càng phổ biến. Các yếu tố: chất lượng cán bộ, sự hợp tác, kiểm soát, giám sát và cảnh báo an toàn hệ thống cần thiết cũng còn nhiều vấn đề.

    Do đó, trước những vấn đề lớn của hệ thống NH quốc tế, hệ thống NH Việt Nam cần chủ động rà soát lại theo hướng lành mạnh hoá tài chính, tái cấu trúc để hình thành những tập đoàn ngân hàng lớn mạnh hơn, được quản lý chuyên nghiệp hơn, giám sát chặt chẽ hơn thay vì hàng trăm NH nhỏ lẻ như hiện nay.

    Đồng thời, cần phát triển hệ thống thông tin kinh doanh liên quan đến nợ và khách hàng, bảo đảm cập nhật, công khai và phổ biến rộng rãi, cảnh báo kịp thời mức độ an toàn và an ninh NH... Hiện nay, chúng ta mới chỉ có một số đề tài nghiên cứu, chứ chưa có một hệ thống cảnh báo cấp quốc gia.

    Cuối cùng, cần phải có sự kiểm soát chặt chẽ những tiêu chuẩn thành lập, nguyên tắc hoạt động của các NH. Thời gian qua, đã có làn sóng thành lập các NH mới và mở rộng hoạt động tín dụng, đặc biệt từ các tập đoàn kinh tế nhà nước.

    Theo đó, hoạt động đầu tư chéo, đầu tư mở rộng, hạ thấp các chuẩn mức an toàn tín dụng... đã xuất hiện. Nếu không sớm được kiểm soát, điều này có thể gây ra sự đổ vỡ hàng loạt cho toàn hệ thống.

    Quản lý hiệu quả đầu tư gián tiếp nước ngoài và thực hiện theo xu hướng công khai, lành mạnh hóa nợ của hệ thống NH toàn cầu cũng là một thách thức mới và lớn cho Việt Nam trong quá trình hội nhập vào thị trường tài chính-tín dụng, phòng chống khủng hoảng quốc tế.

    Theo TS Nguyễn Minh Phong - Viện nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội.
    DĐDN

Chia sẻ trang này