Ngày xuân câu đối Tết

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi linhlong_vn, 04/02/2008.

426 người đang online, trong đó có 170 thành viên. 00:06 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 1179 lượt đọc và 4 bài trả lời
  1. linhlong_vn

    linhlong_vn Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/08/2006
    Đã được thích:
    0
    Ngày xuân câu đối Tết

    Chuyện xưa kể rằng: Năm nào cũng thế, cứ đúng giờ cúng lễ giao thừa là ông đồ làng nọ đem hai câu đối đỏ treo ngoài ngõ. Tết năm nọ ông bị kẻ trộm lấy mất câu đối ngay trong đêm giao thừa. Ông chưa hiểu tên kẻ cắp đặc biệt này muốn điều gì, tiền của không lấy lại đi lấy hai miếng giấy hồng đơn người ta chỉ treo ba ngày Tết rồi cũng đốt thành tro thôi.

    Tết năm kế cũng vào giờ giao thừa ông lại đem một cặp đối treo ngoài ngõ thử xem kẻ cắp còn đến lấy nữa không? Và? sáng mùng một ông dậy thật sớm ra xem, may quá nó vẫn còn nguyên. Ông chợt mỉm cười vì hiểu ra một điều gì đó, ông lấy bút nghiên viết tiếp phần còn lại vì câu này ông mới viết có một nửa trước: Phước vô trùng chí?/Họa bất đơn hành?.

    Câu đối đầy đủ như sau: Phước vô trùng chí, kim triêu chí/Họa bất đơn hành, sạ nhật hành (Phước không đến lần nữa, nhưng đến đêm qua rồi/Họa chẳng đi một mình, nhưng đi sáng nay rồi).

    Người du xuân qua lại trầm trồ khen một câu đối Tết rất hay, trong số đó có anh chàng ăn cắp câu đối, hắn ta đang đọc và thầm phục tài năng ứng đối của ông: ?oThì ra câu đối Tết này, đêm qua ông ấy mới viết có một nửa toàn là điềm gở. Mình đâu có ngờ sáng nay ông ấy thêm vào thành một câu đầy đủ lại hay như thế. Nhưng cũng không sao!?. Hắn thích quá, lẩm nhẩm nhiều lần cho thuộc, có lẽ hắn sẽ thuê một ông đồ khác viết câu này để treo trong nhà hắn.

    Câu chuyện kể cũng lạ, ai đời hết thứ để ăn cắp lại đi ăn cắp câu đối Tết. Cũng dễ hiểu thôi, bởi vì ai đến xin chữ ông cũng cho, nhưng câu đối Tết đặc biệt để dành treo ngoài ngõ thì đời nào ông cho. Chỉ có một cách là ăn cắp thôi.

    Anh kẻ cắp thông thái ấy làm một việc không tốt lắm, nhưng không sao; ông đồ có hơi buồn một chút rồi ông sẽ viết lại tờ khác, còn anh thì được hưởng lợi.

    Câu đối Tết như một nguồn năng lượng lạc quan, giúp cho anh có thêm niềm tin bước sang năm mới sẽ gặp nhiều điều tốt lành (nói thông thái là vì trước khi lấy cắp anh phải cẩn thận đọc xem câu đối Tết ấy có gì đặc biệt không đã). Cách đối phó của ông đồ đã làm cho anh ta trở nên lương thiện.

    Phong tục ăn Tết có từ xa xưa, cứ đến Tết là chuẩn bị các thứ nào là thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ/Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh. Câu đối như một món ăn tinh thần, nhà nào cũng cố kiếm lấy một câu, hay chí ít cũng được một chữ Phước treo ba ngày Tết mong lấy hên một năm đầy hồng phúc như ý hoặc một chữ Xuân ngược chổng vó lên trời ước mong xuân ở mãi đừng đi vì hai chân nàng xuân đã bị treo ngược lên trời rồi!

    Người xưa đặt ra thể loại văn đối rất độc đáo, ít chữ nhưng hàm chứa nhiều ý nghĩa. Như một công án chốn thiền môn, giúp cho người ta tỉnh thức, cảm thấy yêu đời, yêu công việc hơn. Hiện chúng ta vẫn còn dịp thưởng thức một trong những câu đối xuân đẹp nhất của ngươi xưa để lại vào sáng mùng một trước ngõ nhà của một vài ông đồ già còn sót lại.

    Trên tấm giấy điều, mùa Xuân lộng lẫy non tơ tha thướt về, qua nét viết theo lối chữ hành tao nhã: Tân niên nạp dư khánh/Gia tiết hiệu trường xuân (Năm mới thừa chuyện vui/Tiết đẹp xuân còn mãi). Câu tuy ít chữ nhưng rất có ý nghĩa, không chỉ ba ngày Tết mà cả đời người đọc hoài không chán. Một câu khác cũng hay không kém: Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ/Nhân ư bách hạnh hiếu vi tiên (Mỗi năm có bốn mùa, xuân là mùa đầu tiên/Con người có trăm tính, hiếu thảo là tính quý nhất).

    Câu đối như người thầy lặng lẽ đáng kính, như món ăn tinh thần cần thiết và bổ ích lưu truyền đến hôm nay mà chúng ta đã được thừa hưởng từ kho tàng chữ nghĩa vàng ngọc quý báu của tổ tiên để lại. Đó như là những câu khẩu hiệu, ngày nào cũng đập vào mắt, khắc ghi vào trí nhớ, nhắc nhở, động viên và dẫn dắt chúng ta đi trên con đường thiện.

    Ngày xưa ông cha ta dùng chữ Nho, bây giờ ai không biết chữ Nho thì dùng chữ Việt; tiếng Việt rất phong phú, đầy ngữ điệu và chất thơ. Chúng ta thử xem một câu đối xuân thuần Việt sau đây và cho lời bình phẩm nhé, chắc cũng không đến nỗi nào: Bớt cơn giận, bớt hận trách người. Chào năm mới, đời vui tươi như TẾT/Thêm tiếng cười, thêm lời từ ái. Đón xuân về, sống trẻ mãi như XUÂN.

    Không cần phải đêm hôm rình mò cực khổ ăn cắp như anh chàng trong câu chuyện kia, chỉ cần nhờ một nhà thư pháp rất trẻ trên đường phố, một ông đồ Việt non choẹt, phóng bút như rồng bay phượng múa trên tấm giấy xuyến chỉ, gấy bồi thô hay giấy hồng điều là có ngay một câu đối Tết tuyệt đẹp vừa ý, kịp treo trong nhà đón Tết vui xuân, nối tiếp một truyền thống giáo dục gia đình độc đáo của tổ tiên.

    Mùa Xuân đã đến nhà quý vị rồi đó, có thấy không? Sương lặng lẽ long lanh chồi lộc biếc/Nắng lung linh lấp lánh cánh mai vàng. Vẳng đâu đây tiếng nhạc xuân quen thuộc: Cây sẽ cho lộc và cây sẽ cho hoa. Xuân đến bên kia đồi trời mở ra cánh én. Em hãy dâng cho đời một nụ hoa tình cờ. Đời sẽ cho lộc và đời sẽ cho hoa. Em líu lo bên đời dạy tôi biết xa gần?(Hoa xuân ca - Trịnh Công Sơn).

    Quý vị còn chần chờ gì nữa, hãy treo câu đối Tết trong phòng khách bên cạnh một nhành mai lấp lánh tia nắng xuân rực vàng ấm áp. Hãy thở và cười! Tâm hân hoan - hỷ xả để cho ba ngày TẾT, bao lo toan buông hết. Yêu cuộc đời tha thiết/ Bảy ngày XUÂN, lời chúc đẹp để dành. Tặng khách quý xa gần. Đâu phải chỉ ba ngày Tết, bảy ngày xuân mới vui, còn mọi ngày khác tại sao không?!

    Lê Đàn (Theo Giác Ngộ xuân Mậu Tý)
  2. linhlong_vn

    linhlong_vn Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/08/2006
    Đã được thích:
    0
    Bí ẩn câu đối Tết

    [01.02.2008 21:39]


    Câu đối là một hiện tượng văn hóa phổ biến được lưu truyền từ xa xưa ở Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi câu đối là ?oDoanh liên? hay ?oĐối tử?.

    Nó có ý nghĩa sâu sắc, đối vần chỉnh tề, âm điệu hài hòa với hình thức nghệ thuật độc đáo của tiếng Hán là mỗi chữ một âm. Nghệ thuật câu đối có thể nói là tài sản văn hóa quý giá của dân tộc Trung Hoa.

    Câu đối thường được dán trước cửa nhà vào mỗi dịp Tết đến, trở thành biểu trưng của năm mới. Nhiều năm trở lại đây, xã hội Trung Quốc đã có nhiều chuyển biến, nhiều giá trị truyền thống được thay bằng những tập quán mới. Thị dân Trung Quốc không còn xa lạ với việc tổ chức sinh nhật theo lối phương Tây, vui Lễ Noel, Tết dương lịch hay mừng ngày Lễ tình nhân Valentinday?

    Dù vậy, song song với những sinh hoạt văn hóa phương Tây được du nhập, nhiều tập quán truyền thống vẫn được bảo lưu, trong đó có tục dán câu đối vào ngày Tết. Tất nhiên, câu đối không chỉ sử dụng vào mỗi dịp Tết, mà còn được dùng rộng rãi trong nhiều bối cảnh khác nhau, như cưới hỏi chẳng hạn.

    Câu đối thường có kết cấu đa dạng, câu ngắn thậm chí chỉ có 1 chữ, câu dài dài đến hàng mấy trăm chữ với nhiều hình thức như chính đối, phản đối, đối lưu thủy, đối liên câu, đối tập cú? Về đặc điểm của câu đối, dù ở bất cứ hình thức nào, nó cũng phải đảm bảo:

    Thứ nhất, số chữ của hai câu phải cân nhau, câu đoạn thống nhất.

    Thứ hai: Bình trắc tương hợp, âm điệu hài hòa. Theo truyền thống, trắc lên (trắc khởi), thì bình xuống (bình lạc), tức chẳng hạn chữ cuối của câu trên dùng thanh trắc, thì chữ cuối của câu dưới phải dùng thanh bình.

    Thứ ba, tính chất dạng từ phải tương ứng, vị trí đối xứng với nhau, hư đối hư, thực đối thực, danh từ đối với danh từ, động từ đối với động từ? Những từ tương đối cũng phải nằm ở những vị trí tương ứng với nhau.

    Thứ tư, hai câu phải có nội dung tương quan, trên dưới tiếp nhau, nhưng lại không được lặp lại.

    Ngoài ra, theo truyền thống, câu đối còn phải được viết từ trên xuống dưới, khi dán phải thẳng, từ phải qua trái, từ trên xuống dưới, không dán ngược. Về hiện tượng đảo ngược chữ, thường thấy là chỉ có một chữ phúc, với ý nghĩa phúc đảo, đồng âm với phúc đáo, có nghĩa là phúc đến. Nhưng, kiểu dán chữ đó thuộc tập quán dán ?oHuy xuân? nói chung, chứ không phải câu đối. Đi kèm với câu đối có khi kèm thêm cả hoành phi. Hoành phi có thể hiểu là tiêu đề của câu đối, là chủ đề chính. Những câu hoành phi hay góp phần làm nổi bật, cũng như bổ sung thêm ý nghĩa cho câu đối.

    Ở đồng bào người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh, tập tục dán huy xuân (một tập hợp gồm nhiều vật trang trí như hình Chiêu tài tiến bảo, các chữ Cát, Tài, hay Bách vô cấm kỵ, Xuất nhập bình an, Ngũ phúc lâm môn, Tiếp dẫn tài thần; nhà nào buôn bán thì Khai trương hồng phát?) nói chung diễn ra vào dịp trước Tết âm lịch một tuần. Khoảng gần tới ngày ông Táo lên trời, người Hoa thường mua Huy xuân về để trang trí nhà cửa. Trong đó có cả câu đối. Nhưng, không phải gia đình nào cũng dán câu đối.

    Mặc dù tập quán truyền thống của người Hoa hải ngoại được bảo lưu tốt hơn tại bản xứ, nhưng riêng tục dán câu đối vào dịp Tết, ở Trung Quốc vẫn luôn phổ biến. Song, câu đối đã hình thành như thế nào? Nó ra đời từ bao giờ? Cho đến hiện tại, người ta vẫn chưa tìm ra câu trả lời.

    Có người cho rằng, câu đối xuất hiện sớm nhất vào thời kỳ Tần, Hán, bấy giờ vào dịp Tết, bà con thường treo bùa Đào (Bùa đào là hai miếng gỗ lớn làm bằng gỗ cây đào) lên hai bên cửa ra vào, trên viết tên của đại thần Giáng quỷ trong truyền thuyết, dùng để trừ ma đuổi quỷ.

    Về sau, để tiện người ta viết thành câu đối. Căn cứ vào sách sử ghi chép, thời Ngũ đại chúa Hậu Thục Mạnh Sưởng viết một câu đối vào đêm 30 rằng ?oTân niên nạp dư khánh, Giai tiết hiệu trường xuân?. Nhiều người cho rằng, đó là một câu đối xuất hiện sớm nhất trong sịch sử Trung Quốc. Sự thật có phải là như vậy? Vì, thời gian quá xa xôi, nguồn gốc của tập tục này đã trở thành một điều bí ẩn.

    Lê Hải Đăng
  3. uyennt

    uyennt Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    14/03/2006
    Đã được thích:
    0
    Đọc và suy ngẫm thấy hiểu ra được nhiều điều.
  4. linhlong_vn

    linhlong_vn Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/08/2006
    Đã được thích:
    0
    Làm câu đối, thách họa đối, chơi câu đối... vốn là hình thức sinh hoạt độc đáo và tao nhã của người Việt Nam. Nó thể hiện trí thông minh sắc sảo, cách xử sự linh động và cao thượng, thế giới quan lành mạnh cũng như những mong ước tốt đẹp về cuộc sống thường ngày.

    Tết đến, câu đối lại càng khó có thể thiếu trong niềm vui đón chào năm mới của mỗi gia đình.

    Ngày xưa, câu đối thường treo lên cột, khắc trên khung mái, hoặc viết lên cổng, cửa, tường nhà, đền miếu, đình chùa... Đặc biệt, hai hàng cột gỗ hai bên bàn thờ phải treo câu đối, còn phía trên bàn thờ là hoành phi, cuốn thư. Tất cả làm cho không gian thờ cúng trở nên cân bằng vuông vức như có khuôn phép, tạo cảm giác hài hòa, trang trọng và linh thiêng.

    Câu đối được làm từ nhiều chất liệu: có loại sơn son thiếp vàng để dùng lâu dài, có loại làm bằng giấy bồi (gọi là liễn) hoặc cắt bằng giấy màu, viết bằng mực nho... để dễ thay đổi theo từng năm, từng mùa cho mới, cho hợp hoàn cảnh. Ngày thường, câu đối chỉ treo trên bàn thờ. Ngày tết thì treo ở nhiều nơi, thậm chí những người ham mê và muốn giữ tục lệ cũ còn chơi câu đối giấy, dán suốt từ ngoài cổng vào trong nhà! Câu đối có thể mua sẵn hoặc nhờ, thuê người viết, nhưng hay nhất vẫn là do tự chủ nhân làm ra.

    Mỗi câu đối gồm hai vế có số chữ bằng nhau, ý nghĩa và luật bằng trắc đối chọi hoặc tương hợp nhau. Câu đối thể hiện những cảm nhận sâu sắc về thiên nhiên và cuộc sống trần thế, về năm mới và mùa xuân, đề cao đạo lý cùng những quan niệm đẹp, cầu mong mọi việc tốt lành... Mơ ước năm mới vui vẻ, hạnh phúc, làm ăn phát đạt và có nhiều bạn bè. Ngày tết người ta thường dán ở hai trụ cổng câu đối:

    Môn đa khách đáo thiên tài đáo
    Gia hữu nhân lai vạn vật lai
    (Cửa nhiều khách đến, nhiều tiền đến
    Nhà có người vào, lắm vật vào)

    Còn trên hàng cột ở hiên nhà thì lại thường dán câu đối ca ngợi cảnh sắc mùa xuân và niềm vui năm mới, như:

    Sơn thủy thanh cao xuân bất tận
    Thần tiên lạc thú cảnh trường sinh
    (Non nước thanh cao - xuân mãi mãi
    Thần tiên vui thú - cảnh đời đời)

    Câu đối dán, treo trong nhà mang nội dung thiết thực, gần gũi hơn (dù vẫn thể hiện ước vọng chung). Có thể là câu đối cầu thọ, cầu phúc như:

    Thiên tăng tuế nguyệt niên tăng thọ
    Xuân mãn càn khôn phúc mãn đường
    (Trời thêm năm tháng, tuổi thêm thọ
    Xuân khắp thế giới, phúc khắp nhà)

    hoặc câu đối cầu đức như:

    Tổ tông công đức thiên niên thịnh
    Tôn tử hiếu hiền vạn đại vương
    (Công đức tổ tiên ngàn năm thịnh
    Hiếu hiền con cháu vạn đời lưu)

    hay câu đối cầu toàn (phúc - an - vinh - phú), như:

    Tân niên hạnh phúc bình an tiến
    Xuân nhật vinh hoa phú quý lai
    (Năm mới - hạnh phúc, bình an đến
    Ngày xuân - vinh hoa, phú quý về)

    Dịp tết, thường phải có câu đối đỏ. Màu đỏ vốn được coi là màu rực rỡ nhất và theo quan niệm dân gian, là biểu tượng của sức sống mãnh liệt (máu, lửa). Nó vừa nổi trội vừa hài hòa với màu xanh của bánh chưng, màu vàng của hoa mai... làm tươi sáng thêm không khí tết, tạo cảm giác ấm áp trong mùa xuân mới.

    Văn Hiến
  5. linhlong_vn

    linhlong_vn Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/08/2006
    Đã được thích:
    0


    Những Câu đối Tết Hay


    ?oThiên tăng tuế nguyệt, niên tăng thọ
    Xuân mãn càng khôn, phúc mãn đường?


    (Trời thêm tuổi mới, năm thêm thọ
    Xuân khắp càn khôn, phúc khắp nhà)

    ?oTối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo Ma vương đưa quỷ tới,

    Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước Xuân vào?

    (Hồ Xuân Hương)

    ?oChiều ba mươi nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa,

    Sáng mồng một rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà"

    (Nguyễn Công Trứ)

    ?oTối ba mươi, giơ cẳng đụng cây nêu
    Ủa ! Tết !

    Sáng mồng một, lắng tai nghe lời chúc
    Ồ ! Xuân !? ()


    ?oThịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
    Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh? ()

    - Phước thâm tự hải (hạnh phúc nhiều sâu như biển)
    - Lộc cao như sơn (của cải nhiều cao như núi)

    Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái Tết
    Ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa Xuân. ()

    Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ
    Nhân bách hạnh hiếu vi tiên.

    (Năm có bốn mùa, mở đầu bằng mùa Xuân;
    Người ta có trăm tính nhưng tính hiếu thảo là cần trước hết.)

    Xuân tha hương, nhấp giọt rượu sầu, nhớ vòm trời đất nước !
    Tết xứ người, hớp ngụm cafe đắng, thương mảnh đất quê nhà !
    (Quảng Ngôn)

    Tân niên hạnh phúc bình an tiến
    Xuân nhật vinh hoa phú quý lai

    Nghĩa là:
    Năm mới hạnh phúc bình an đến
    Ngày Xuân vinh hoa phú quý về.

    Ðuột trời ngất một cây nêu, tối ba mươi ri là Tết
    Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mồng một rứa cũng Xuân
    (Nguyễn Công Trứ)

    Ðấp gốc cây cao, Tết đến thắp hương thơm đèn sáng,
    Khơi nguồn nước mát, Xuân về dâng trái ngọt hoa thơm.

    Tối ba mươi, nợ réo tít mù, ấy mới Tết,
    Sáng mồng một, rượi tràn quí tị, ái chà Xuân.

    Tết có cóc gì đâu, uống một vài be củ tỏi,
    Nợ đâm ương ra đó, nói ba bốn chuyện cà riềng.
    (Nguyễn Công Trứ)

    Ba vạn sáu ngàn ngày, góp lại chốc đà trăm bận Tết,
    Một năm muời hai tháng, ước chi đủ cả bốn mùa Xuân.

    Nực cười thay! Nêu không, pháo không, vôi bột cũng không, mà Tết,
    Thôi cũng được! Rượu có, nem có, bánh chưng đều có, thừa Xuân.
    (Tú Xương)

    Ủa! Tết đến rồi đó, chẳng lẽ trơ cùi cùng tuế nguyệt,
    Kìa! Xuân sang đấy ư, thôi đành mở múi với giang sơn.

    Ngào ngạt mùi hương, dẫu tại đất người, không mất gốc,
    Lung linh ánh lữa, dù xa quê cũ, chẳng quên nguồn.

    Xuân vẫn còn dài, hướng đến tương lai vùng đất mới,
    Tết dù đã ngắn, quay nhìn dĩ vãng cảnh người xưa.

    Già trẻ gái trai đều khoái Tết,
    Cỏ cây hoa lá cũng mừng Xuân.

    Chúng nó dại vô cùng, pháo nổ đì đùng thêm mất chó,
    Ông đây khôn bất trị, rượu say túy lúy lại nằm mèo
    (Nguyễn Khuyến)

    Đêm 30 nghe tiếng pháo nổ... Đùng !... ờ ờ... Tết
    Sáng mùng 1 ra chạm niêu đánh... Cộc !... á à... Xuân

    Xuân tha hương, sầu thương về quê mẹ
    Tết xa nhà, buồn bã nhớ quê cha

    Tết với chả xuân, sáng mì gói tối mì gói, sợ vợ buồn ngán mà không bỏ nuốt vội để mà no
    Dậu rồi thì Tuất, xưa kéo cày nay kéo cày, lo chủ đuổi mệt chẳng dám ngưng làm nhanh không mất việc.

    Số lông vịt xác xơ, tiền chỉ mấy xu, sắm nào được gì, nên không mong tết
    Đời ve chai tan nát, tuổi đà dăm bó, cho có ai thèm, mới chẳng tiếc xuân.

    Đêm ba mươi, đếm tờ lịch, ba mươi tờ buồn xa tháng cũ
    Sáng mồng một, ngắm cành mai, đơn một cành vui đón năm mới.

    Khoai lang sùng nhúng bột? chiên, đậm đà vị mứt mốc, thẫn thờ tưởng nhớ tết quê cha
    Hột mít sượng lùi tro? nướng, thoang thoảng mùi chè thiu, đờ đẫn mơ màng xuân đất mẹ.

    Tết tha hương có bánh chưng, bánh tét sao không thấy tết
    Xuân viễn xứ cũng cành đào, cành mai mà chẳng gặp xuân.

    Trời thêm tuổi mới, người thêm thọ
    Xuân khắp mọi nơi, phúc khắp nhà

    Niên hữu tứ thời, xuân vi thủ
    Nhân sinh bách hạnh, hiếu vi tiên

Chia sẻ trang này