Ngon roài!!!

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi rulebreaker, 09/08/2010.

2403 người đang online, trong đó có 961 thành viên. 09:41 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 1417 lượt đọc và 18 bài trả lời
  1. rulebreaker

    rulebreaker Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    23/01/2006
    Đã được thích:
    33
    Có khả năng giãn tiến độ thực hiện TT 13. Thị trường tránh bội thực Cp NH. Dòng tiền ẩn nấp ngoài thị trường sẽ mạnh dạn tìm kiếm cơ hội sau khi chờ đợi lâu mà không thấy sụt mạnh.:-bd

    Nhiều ngân hàng sẽ không kịp nâng tỷ lệ an toàn vốn?







    [​IMG] Nhiều ngân hàng cho biết không thể thực hiện yêu cầu nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ 8% lên 9% đúng hạn mà Ngân hàng Nhà nước quy định.

    Ngày 20/5/2010, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 13/2010/TT-NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Thông tư này thay thế Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN và một số văn bản liên quan của Ngân hàng Nhà nước.

    Một quy định mới quan trọng trong thông tư trên, theo Điều 4, là các tổ chức tín dụng, trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro của tổ chức tín dụng (tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ).

    Cũng theo Điều 4, tổ chức tín dụng phải thực hiện báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của pháp luật, ngoài việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ theo quy định nói trên, phải đồng thời duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% trên cơ sở hợp nhất vốn, tài sản của tổ chức tín dụng và công ty trực thuộc (tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất).

    Theo đó, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu mà các tổ chức phải đảm bảo được nâng từ 8% lên 9%. Thời điểm bắt đầu áp dụng tỷ lệ mới là từ ngày 1/10/2010.

    Sau gần ba tháng ban hành Thông tư, còn chưa đầy hai tháng nữa là có hiệu lực, nhiều ngân hàng thương mại cho biết sẽ không thể thực hiện được quy định mới theo thời hạn trên.

    Thông tin này được Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) đưa ra và có trong văn bản vừa gửi tới Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

    Cụ thể, theo văn bản trên, nhiều ngân hàng cho biết không thể thực hiện được việc nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ 8% lên 9% vào thời điểm quy định mới có hiệu lực.

    Nguyên do là họ phải có thời gian để điều chỉnh tài sản có rủi ro và phụ thuộc vào việc tăng vốn điều lệ của mình, đặc biệt là với các ngân hàng thương mại quy mô nhỏ và các ngân hàng thương mại phụ thuộc vào vốn ngân sách nhà nước cấp.

    Bên lề vấn đề này, sau khi thông tư trên ban hành, thị trường chứng khoán cũng đã đón nhận những chuyển động liên quan đến việc chuẩn bị cho việc thực hiện quy định mới.

    Đầu tháng 7 vừa qua, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) thông báo bán bớt 5 triệu cổ phiếu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank). Một trong những mục đích chính của hoạt động bán ra đó là nhằm cải thiện vốn tự có, chuẩn bị cho việc đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9%. Mục đích này cũng được Eximbank đề cập đến trong nội dung đại hội cổ đông bất thường vừa qua.

    Cũng ở trường hợp Vietcombank, việc đảm bảo tỷ lệ trên còn gặp khó khăn trong kế hoạch tăng vốn điều lệ, phải sau gần hai năm mới hiện thực, do những vướng mắc ở khâu chấp thuận của cơ quan chức năng…

    Ở một trường hợp khác, mới đây Ngân hàng Phát triển Nhà ĐBSCL (MHB) cũng vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án cấp bổ sung vốn để nâng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng. MHB theo đó có thêm điều kiện để nâng cao tỷ lệ an toàn vốn.

    Tuy nhiên, như thông tin từ VNBA, nếu nhiều ngân hàng đến hạn 1/10/2010 không đảm bảo được tỷ lệ 9% thì hướng xử lý sẽ như thế nào? Dĩ nhiên khi ấn định thời điểm áp dụng, Ngân hàng Nhà nước hẳn cũng đã tính toán một lộ trình, nhưng lộ trình đó đã hoàn toàn hợp lý?

    Trong văn bản gửi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, VNBA đề xuất xem xét giãn tiến độ thực hiện Thông tư 13 nói trên để phù hợp với thực tiễn hoạt động của các ngân hàng thương mại trong điều kiện hiện nay.
  2. Macho

    Macho Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    21/03/2010
    Đã được thích:
    94
    Việt kiều được đăng ký là NĐT trong nước
    [​IMG]

    Trung tâm lưu ký chứng khoán (VSD) vừa có hướng dẫn về việc quản lý và theo dõi đối với NĐT là cá nhân tại Việt Nam có hai quốc tịch.



    st1\:-*{behavior:url(#ieooui) }
    Theo đó, NĐT là người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã nhập quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn có quốc tịch Việt Nam (hộ chiếu Việt Nam cấp còn hiệu lực) sẽ được đăng ký là NĐT trong nước và các NĐT này sẽ được sử dụng hộ chiếu còn thời hạn sử dụng do cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cấp để làm thông tin nhận diện người đầu tư khi đăng ký mở tài khoản hoặc đăng ký sở hữu.

    Trường hợp các NĐT này không lựa chọn quốc tịch Việt Nam thì phải làm thủ tục đăng ký mã số giao dịch với VSD theo quy định và các NĐT này sẽ không được thay đổi về quốc tịch Việt Nam trong quá trình giao dịch sau này.

    Trường hợp các NĐT nêu trên trước đây đã đăng ký quốc tịch nước ngoài trên danh sách cổ đông của tổ chức phát hành hoặc đăng ký mở tài khoản tại thành viên lưu ký, nếu muốn đăng ký lại là NĐT cá nhân trong nước với quốc tịch Việt Nam sẽ thực hiện điều chỉnh thông tin tại VSD.


    Theo ​


  3. batcandoi12

    batcandoi12 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    15/11/2009
    Đã được thích:
    143

    Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;}
    Cái lày còn ngon hơn:
    Kết luận của Bộ Chính trị về Tập đoàn Vinashin
    (Cập nhật: 8/8/2010)
    Tại phiên họp ngày 31-7, sau khi nghe Ban cán sự đảng Chính phủ báo cáo về tình hình Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin), ý kiến của Văn phòng Trung ương Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Bộ ******* và một số bộ, ngành Trung ương; Bộ Chính trị đã thảo luận và kết luận như sau:

    1- Từ khi được thành lập vào năm 1996 đến nay, Tập đoàn Vinashin (trong đó từ năm 1996-2006 là Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam) đã có bước phát triển nhanh trên nhiều mặt: bước đầu đã hình thành được cơ sở vật chất-kỹ thuật quan trọng, có trình độ công nghệ tiên tiến và khá đồng bộ của ngành công nghiệp đóng, sửa chữa tàu biển.

    Vinashin đã xây dựng được đội ngũ trên 70.000 cán bộ, công nhân kỹ thuật, trong đó nhiều người có tay nghề khá, có khả năng đóng được nhiều loại tàu phục vụ cho nhu cầu đa dạng và ngày càng cao của nền kinh tế, quốc phòng, an ninh và cho xuất khẩu, kể cả tàu trọng tải trên 100.000 DWT; xây dựng được một số cơ sở công nghiệp phụ trợ, nâng cao một bước tỉ lệ nội địa hoá trong đóng và sửa chữa tàu biển.

    Riêng trong thời kỳ từ năm 1996-2006, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao (bình quân từ 35-40%/năm), kinh doanh có lãi; tăng được vốn chủ sở hữu và giá trị tài sản của doanh nghiệp.

    Tuy nhiên, hiện nay, Vinashin đang gặp nhiều khó khăn rất lớn, bộc lộ nhiều yếu kém, sai phạm nghiêm trọng: đầu tư mở rộng quá nhanh, quy mô lớn, một số dự án trái với quy hoạch được phê duyệt, dàn trải trên nhiều lĩnh vực, địa bàn, có lĩnh vực không liên quan đến công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển, trong đó nhiều lĩnh vực kém hiệu quả, có nhiều công ty, dự án thua lỗ nặng nề.

    Tình hình tài chính đứng trước bờ vực phá sản: theo số liệu ban đầu, ước tính dư nợ hiện đang rất lớn, lên tới khoảng 86.000 tỉ đồng; nợ đến hạn phải trả khoảng trên 14.000 tỉ đồng; tỉ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu gấp gần 11 lần, khó có khả năng tự cân đối dòng tiền. Sản xuất, kinh doanh hiện đang bị đình trệ; bị mất hoặc giảm nhiều đơn đặt hàng; nhiều dự án đầu tư dở dang, không hiệu quả. Tình hình nội bộ diễn biến phức tạp: hơn 70.000 cán bộ, công nhân viên lo lắng do việc làm và thu nhập giảm; hiện đã có khoảng 17.000 công nhân chuyển việc hoặc bỏ việc; 5.000 công nhân bị mất việc làm; nhiều công nhân của một số nhà máy, xí nghiệp bị chậm trả lương trong nhiều tháng...

    Mặc dù vẫn trong tầm kiểm soát và có thể khắc phục được, nhưng nếu không có các chính sách, biện pháp đúng đắn, kịp thời, tình hình của Vinashin có thể ảnh hưởng xấu đến các tổ chức tín dụng, các đơn vị được nhận chuyển giao, ngân sách Nhà nước, sự ổn định vĩ mô của nền kinh tế, việc làm và thu nhập của cán bộ, công nhân Tập đoàn và nhiều hộ gia đình nông dân nơi có đất bị thu hồi; ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển doanh nghiệp Nhà nước và mô hình tập đoàn kinh tế Nhà nước; tác động tiêu cực đến ổn định chính trị-xã hội của đất nước.

    2- Những hạn chế, yếu kém nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, song nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, trước hết thuộc về trách nhiệm trực tiếp của Hội đồng Quản trị và Ban Lãnh đạo Tập đoàn, trong đó có cá nhân Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn và trách nhiệm của một số cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan ở Trung ương và địa phương; cụ thể và chủ yếu là:

    Về nguyên nhân chủ quan:

    - Trình độ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Công ty mẹ và các đơn vị thành viên của Vinashin chưa đáp ứng được yêu cầu quản trị một tập đoàn kinh tế lớn, đặc biệt là người đứng đầu còn hạn chế về năng lực, có biểu hiện thiếu trách nhiệm, tùy tiện, cá nhân, báo cáo không trung thực, cố ý làm trái, vi phạm pháp luật trong việc chấp hành các quy định của Nhà nước, quyết định của Thủ tướng Chính phủ khi chỉ đạo các hoạt động đầu tư, dự án, vốn cho sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn và bố trí cán bộ.

    Lãnh đạo Tập đoàn, trước hết là Hội đồng quản trị và người đứng đầu với chức năng đại diện trực tiếp chủ sở hữu đã có nhiều khuyết điểm, sai lầm trong tổ chức, quản lý, điều hành, nhất là trong việc xác định lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tổ chức quản lý các công ty con, công ty liên kết, tiến hành các hoạt động đầu tư xây dựng, quản lý vốn, tài chính, vay và trả nợ; trong một thời gian ngắn đã mở rộng quá nhanh quy mô tập đoàn, nhất là mở ra rất nhiều công ty con, công ty liên kết; mở sang một số lĩnh vực không phải là những chuyên ngành phục vụ cho nhiệm vụ chính của mình.

    Tập đoàn đã chậm xây dựng Điều lệ hoạt động và các quy định quản lý tài chính khác như quy chế quản lý tài chính, quy chế quản lý đầu tư xây dựng, các định mức kinh tế kỹ thuật…

    - Một số cơ quan tham mưu liên quan thuộc Chính phủ, một số địa phương và một số cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát ở Trung ương có thiếu sót, khuyết điểm trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu Nhà nước đối với Tập đoàn; chưa sát sao giám sát, kiểm tra chặt chẽ và đánh giá đúng, kịp thời về công tác tổ chức, cán bộ và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện định hướng chiến lược phát triển của Tập đoàn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) và Kết luận số 45-KL/TW, ngày 10/4/2009 của Bộ Chính trị về việc thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế; đến nay vẫn chưa phê duyệt được Điều lệ tổ chức, hoạt động và Quy chế quản lý tài chính của Công ty mẹ - Tập đoàn Vinashin; từ năm 2006-2009 tuy đã qua 11 lần kiểm toán, kiểm tra, thanh tra nhưng vẫn không phát hiện được đầy đủ, kết luận đúng tình hình và những yếu kém, khuyết điểm nghiêm trọng của Tập đoàn, chưa đưa ra được những biện pháp chấn chỉnh, ngăn chặn, xử lý kịp thời, có hiệu quả, mặc dù những biểu hiện về những khó khăn, khuyết điểm của Vinashin đã được cơ quan thông tin đại chúng và dư luận phản ánh, cảnh báo từ sớm và nhiều lần.

    Về nguyên nhân khách quan:

    - Mô hình tập đoàn còn đang trong giai đoạn thí điểm, chưa có sơ kết, tổng kết, đánh giá hiệu quả; thể chế, cơ chế còn thiếu hoặc chưa đồng bộ.

    - Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới gần đây đã ảnh hưởng nặng nề đến phát triển ngành công nghiệp đóng tàu, vận tải biển, trong đó có Vinashin.

    3- Để khắc phục có hiệu quả những khuyết điểm, sai phạm trên đây của Vinashin, Bộ Chính trị giao:

    3.1- Ban cán sự đảng Chính phủ chủ trì chỉ đạo: - Phát huy những kết quả đã đạt được của Vinashin trong nhiều năm qua; tiếp tục khẳng định công nghiệp cơ khí chế tạo là ngành trọng điểm trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; ngành công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển là ngành mũi nhọn để phát triển kinh tế hàng hải và thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và những năm tiếp theo.

    Khẩn trương cơ cấu lại Tập đoàn Vinashin theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) và Kết luận số 45-KL/TW, ngày 10/4/2009 của Bộ Chính trị về việc thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế; chỉ tập trung vào ba lĩnh vực chính là công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển với quy mô phù hợp; công nghiệp phụ trợ phục vụ cho việc đóng và sửa chữa tàu biển; đào tạo, nâng cao tay nghề cho đội ngũ cán bộ, công nhân công nghiệp tàu biển.

    Sớm ổn định tổ chức sản xuất, kinh doanh; từng bước củng cố uy tín thương hiệu Tập đoàn Vinashin; cương quyết không để vỡ nợ, sụp đổ, gây tác động xấu đến sự phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu, mức độ tín nhiệm vay, trả nợ quốc tế và môi trường đầu tư của đất nước.

    - Khẩn trương đánh giá lại chính xác, khách quan, trung thực tình hình hoạt động của Công ty mẹ Tập đoàn, các công ty con, công ty liên kết, các dự án đầu tư của Tập đoàn để có phương án sắp xếp, xử lý cụ thể, phù hợp, theo hướng: chỉ giữ lại Tập đoàn Vinashin ba lĩnh vực chính nói trên; bán, chuyển nhượng, chuyển giao, cổ phần hóa các lĩnh vực còn lại cho các tổ chức kinh tế và cá nhân khác có nhu cầu phù hợp pháp luật hiện hành, sớm thu hồi vốn để tập trung cho nhiệm vụ xây dựng ngành công nghiệp đóng tàu biển và trả nợ.

    Trong xử lý nợ và tăng vốn điều lệ của Tập đoàn, nhất là những khoản liên quan đến ngân sách nhà nước, Chính phủ cần có phương án khả thi, phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Trong quá trình giải quyết phải đảm bảo hài hòa quan hệ lợi ích giữa các bên, không gây khó khăn, đổ vỡ cho các tập đoàn, tổng công ty khác cũng như các tổ chức tín dụng. Chú ý hạn chế tối đa thiệt hại và những ảnh hưởng tiêu cực về tư tưởng, tài sản và việc làm, thu nhập của công nhân, lao động.

    - Giao các cơ quan chức năng sớm điều tra, làm rõ và xử lý nghiêm minh, kịp thời, khách quan những cá nhân vi phạm pháp luật theo đúng quy định của pháp luật.

    - Thành lập Ban Chỉ đạo do đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ làm Trưởng ban với thành phần gồm đại diện các bộ, ban, ngành có liên quan thuộc Chính phủ, một số cơ quan đảng gồm Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Đảng Ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương.

    Giao Ban Chỉ đạo đầy đủ thẩm quyền và trách nhiệm theo quy định của pháp luật trong việc nghiên cứu, đề xuất, triển khai thực hiện các chính sách, biện pháp xử lý để sớm ổn định và phát triển sản xuất, kinh doanh của Tập đoàn.

    - Đồng thời, tiến hành tổ chức các hoạt động giám sát, kiểm tra, đánh giá đúng thực trạng tình hình hiện nay và công khai, minh bạch tình hình tài chính cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước khác, trong đó chú ý kịp thời chấn chỉnh việc mở rộng đa ngành nhưng không liên quan đến ngành sản xuất chính của các đơn vị.

    3.2- Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì phối hợp với Ban cán sự đảng Chính phủ giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo kiểm điểm những tổ chức và cá nhân có liên quan ở Trung ương và địa phương có thiếu sót, khuyết điểm trong việc quản lý Nhà nước đối với Tập đoàn Vinashin, việc thực hiện chức năng tham mưu cho Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu đối với Tập đoàn Vinashin; thành lập các đoàn kiểm tra có sự tham gia của một số bộ, ngành liên quan để kiểm tra, giám sát việc xử lý các cá nhân sai phạm ở Tập đoàn Vinashin và các cơ quan, đơn vị phù hợp với quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

    3.3- Đảng đoàn Quốc hội, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các cấp ủy đảng có liên quan ở Trung ương và địa phương có trách nhiệm phối hợp cùng các cơ quan của Chính phủ trong việc giám sát, thực hiện những chính sách, biện pháp phù hợp theo chủ trương trên đây để giúp Tập đoàn Vinashin sớm vượt qua khó khăn, ổn định sản xuất, kinh doanh, lấy lại uy tín của thương hiệu Vinashin và niềm tin vào sự phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu biển Việt Nam, của các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp Nhà nước, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước, trong đó có kinh tế biển.

    4- Văn phòng Trung ương Đảng, các ban đảng Trung ương phối hợp với Ban cán sự đảng Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương theo dõi, giám sát chặt chẽ việc thực hiện Kết luận này; định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư./.

  4. rulebreaker

    rulebreaker Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    23/01/2006
    Đã được thích:
    33
    "Lần đầu tiên trên màn ảnh", 14 TCTD ký tên phản pháo Thông tư 13 của SBV. Nhiều thế này thì Mr. Rich không thể dọa thanh tra toàn diện được đâu nhỉ.[:D][:D][:D]
    14 ngân hàng, công ty tài chính “phản pháo” chính sách mới

    [​IMG] [​IMG] 14 ngân hàng thương mại và công ty tài chính đưa ra những bất cập cũng như yêu cầu xem xét lại trong chính sách Ngân hàng Nhà nước mới ban hành.

    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết đã nhận được ý kiến phản hồi của 14 hội viên, đề cập khá chi tiết nhiều điểm được cho là bất cập và “có ảnh hưởng lớn” đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng trong Thông tư số 13/2010/TT-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 20/5/2010, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/10/2010.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Trên cơ sở ý kiến của 14 hội viên, VNBA đã có văn bản gửi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề cập các nội dung và khuyến nghị cụ thể.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Không để những nguồn vốn “nằm chết”[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Điểm đầu tiên được nêu lên trong văn bản của Hiệp hội là những bất cập cần xem xét lại trong Điều 18 của Thông tư (Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động).[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Theo Thông tư, tỷ lệ sử dụng vốn được tính theo công thức: Cấp tín dụng / Nguồn vốn huy động = 80% / 85%.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Trong công thức trên, VNBA nhấn mạnh đến vai trò của nguồn vốn tiền gửi không kỳ hạn và cho rằng quy định liên quan trong Thông tư là không hợp lý.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Cụ thể, theo nội dung Thông tư, nguồn vốn huy động sử dụng để cho vay không bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế, Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm Xã hội và các tổ chức khác.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Theo VNBA, quy định trên là không hợp lý, vì tiền gửi không kỳ hạn của những đối tượng trên thường chiếm tỷ lệ từ 15% - 20% trong tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng. Đây là nguồn vốn có tính ổn định cao, VNBA dẫn khẳng định từ các ngân hàng thương mại.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Như vậy, ngoài tỷ lệ 20% của nguồn vốn huy động không được sử dụng để cho vay theo công thức trên, thì còn khoảng 15% tiền gửi không kỳ hạn kể trên không được sử dụng để cho vay. Do đó, phần nguồn vốn để đảm bảo khả năng thanh toán là 20% + 15% = 35% trên tổng nguồn vốn huy động. “Tỷ lệ này là quá cao, không hợp lý”, đầu mối đại diện cho các ngân hàng thương mại khẳng định.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Ngoài tiền gửi không kỳ hạn, theo VNBA, ở các ngân hàng thương mại và các công ty tài chính còn có vốn tự có (phần còn lại sau khi đã trừ đi phần mua sắm tài sản cố định cho phép) và các loại vốn mang tính chất “coi như tự có” là những nguồn vốn do chính họ tạo ra như vốn khấu hao tài sản cố định, các quỹ… cũng cần được tính vào nguồn vốn huy động để cho vay.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Theo Thông tư, nguồn vốn huy động không bao gồm tiền vay tổ chức tín dụng trong nước trong khi lại bao gồm tiền gửi của tổ chức tín dụng trong nước. VNBA cho rằng, về bản chất 2 khoản mục này là tương đương về tính chất sử dụng, vì vậy, Ngân hàng Nhà nước nên bổ sung thêm khoản mục vay các tổ chức tín dụng trong nước vào nguồn vốn huy động.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]“Những nguồn vốn này các tổ chức tín dụng phải sử dụng để tạo nguồn thu không thể để vốn nằm chết được, nhất là sắp tới vốn tự có và các quỹ của các tổ chức tín dụng ngày càng lớn. Theo quy định tại Điều 18 các loại vốn này không được tính vào trong mẫu số. Điều đó là không hợp lý. Vì vậy, VNBA đề nghị Ngân hàng Nhà nước cho tính tất cả tiền gửi không kỳ hạn, vốn tự có và coi như tự có, tiền vay của các tổ chức tín dụng trong nước vào nguồn vốn huy động (mẫu số)”, văn bản của VNBA viết.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Đánh đồng các rủi ro?[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Điều 5 Thông tư số 13 quy định về tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ của tổ chức tín dụng. Trong đó, Khoản 5.6 quy định về các tài sản có hệ số rủi ro là 250%. Ở đây cũng có bất cập khi hệ số 250% đó là mẫu số chung cho các đối tượng khác nhau, các mức độ rủi ro khác nhau.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Cụ thể, Điểm a Khoản 5.6 quy định các khoản cho vay để đầu tư chứng khoán có hệ số rủi ro bằng 250%. VNBA đề nghị Ngân hàng Nhà nước xem xét lại với trường hợp cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán do mức độ rủi ro về tín dụng là không đáng kể.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Tương tự, ở Điểm c Khoản 5.6, việc quy định hệ số rủi ro 250% đối với tất cả các khoản vay kinh doanh bất động sản không phân biệt là bất động sản đã hình thành hay là tài sản hình thành trong tương lai, theo VNBA, là không phù hợp với mức độ rủi ro đối với từng loại tài sản khác nhau.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Với những bất cập trên, VNBA đề nghị: “Ngân hàng Nhà nước nên căn cứ vào mức độ rủi ro của khoản cho vay kinh doanh bất động sản để quy định hệ số rủi ro cho phù hợp, vì việc tăng hệ số rủi ro đối với các khoản vay kinh doanh bất động sản làm tăng tổng tài sản có rủi ro của ngân hàng lên rất nhiều, trong khi mức vốn tự có không thay đổi thì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng sẽ giảm đi đáng kể”.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, Hiệp hội cũng cho biết nhiều ngân hàng không thể thực hiện được yêu cầu nâng từ 8% lên 9% vào thời điểm 1/10/2010 như Thông tư số 13 quy định.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Sẽ có thêm loạt văn bản hướng dẫn?[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Một nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư số 13 là giới hạn góp vốn, mua cổ phần (tập trung ở Điều 16). Tuy nhiên, khi thông tư đã ban hành và sắp có hiệu lực, nhiều thành viên vẫn chưa rõ về một số trường hợp điều chỉnh.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Trong văn bản gửi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Hiệp hội Ngân hàng cũng không rõ các tổ chức tín dụng đang ủy thác đầu tư ở nước ngoài theo dịch vụ quản lý tài sản để đầu tư vào các loại chứng khoán ở nước ngoài có chịu điều chỉnh của giới hạn Thông tư 13 đặt ra hay không?[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Trường hợp tổ chức tín dụng góp vốn vào doanh nghiệp khác để đầu tư vào một dự án mà giá trị của dự án đầu tư lớn hơn vốn điều lệ của doanh nghiệp đó thì giới hạn góp vốn được xác định theo vốn điều lệ của doanh nghiệp hay giá trị của dự án đầu tư?[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Theo quy định tại Khoản 2, Điều 12 Nghị định 69/2002/NĐ-CP về việc xử lý nợ tồn đọng của doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng được quyết định chuyển dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa thành vốn góp vào công ty cổ phần khi doanh nghiệp có khó khăn về tài chính. Như vậy, nếu phần dư nợ còn lại của tổ chức tín dụng tại doanh nghiệp nhà nước vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó thì xử lý như thế nào?[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Hay ở một tình huống khác, tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng tại tất cả các công ty trực thuộc tối đa không quá 25% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của tổ chức tín dụng. Vậy những phần góp vốn vào công ty liên doanh, công ty liên kết có bị khống chế bởi tỷ lệ này không?[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Chỉ riêng một nội dung điều chỉnh liên quan đến giới hạn góp vốn, mua cổ phần của các tổ chức tín dụng cũng đã có một loạt câu hỏi được VNBA đặt ra. Vậy, khi Thông tư 13 đi vào đời sống, khi thực hiện có lẽ sẽ lại phải có thêm một loạt văn bản hướng dẫn hỗ trợ.[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Và nhìn lại các vấn đề VNBA đưa ra sau khi tập hợp ý kiến của 14 ngân hàng và công ty tài chính, câu hỏi chung là: Tại sao khi Thông tư đã ban hành và chỉ còn chưa đầy hai tháng nữa có hiệu lực mà vẫn còn nhiều điểm được cho là bất hợp lý, từ ý kiến của chính các đối tượng bị điều chỉnh?[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Được biết, trong quá trình xây dựng dự thảo và hoàn thiện để ban hành, Ngân hàng Nhà nước cũng có tổ chức tìm hiểu, nghiên cứu các chuẩn mực quốc tế và có lấy ý kiến các ngân hàng thương mại…[/FONT]
    [FONT=arial, helvetica, sans-serif]Minh Đức[/FONT]​
    Vneconomy

  5. tegiacbanme

    tegiacbanme Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    13/02/2010
    Đã được thích:
    0
    chạy gấp đi may ra còn lại cái mạng cùi
  6. sieutenlua

    sieutenlua Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    10/04/2010
    Đã được thích:
    1
    trời, ngon nhỉ?
  7. rulebreaker

    rulebreaker Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    23/01/2006
    Đã được thích:
    33
    Chạy vào rọ à. Cắt loss được chưa mà sao cay cú thía [:D][:D][:D]
  8. libi123456

    libi123456 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    02/12/2009
    Đã được thích:
    0
  9. flyupsky

    flyupsky Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    14/07/2010
    Đã được thích:
    68.338
    toàn tin xấu như gấu->ngon j vậy bác
  10. lapthien

    lapthien Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    08/06/2010
    Đã được thích:
    1
    CTN-VNC chuẩn bị có biến trong tuần này

Chia sẻ trang này