Nhật kí tổng hợp về các yếu tố vĩ mô của 1 tháng sóng gió gần đây

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi Greencat118, 20/05/2022.

152 người đang online, trong đó có 61 thành viên. 05:30 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 242 lượt đọc và 0 bài trả lời
  1. Greencat118

    Greencat118 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/08/2021
    Đã được thích:
    274
    Một tháng quá nhiều biến động. Đọc bài tổng hợp hay quá, em xin phép share cùng các ACE:

    NHỮNG DIỄN BIẾN KINH TẾ GẦN ĐÂY

    Số ca nhiễm và số ca tử vong do COVID-19 giảm mạnh trong tháng 4

    Theo số liệu chính thức, đến đầu tháng 5, mỗi ngày có chưa đến 5.000 ca nhiễm COVID-19 mới và chỉ dưới 10 ca tử vong liên quan đến COVID-19 (Hình 1). Tính đến thời điểm ngày 8/5, có hơn 10,7 triệu ca nhiễm và 43.056 ca tử vong đã được ghi nhận kể từ đầu đại dịch.

    Các chỉ số đi lại tiếp tục phục hồi mạnh mẽ trong tháng 4

    Số lượt khách đến nhà hàng, quán cà phê, trung tâm mua sắm, và các điểm bán lẻ, giải trí khác đã đạt mức như trước COVID (Hình 2). Việc sử dụng phương tiện giao thông công cộng cũng tăng, tuy chưa phục hồi hoàn toàn về các mức được ghi nhận trước đại dịch. Xu hướng giảm số ca nhiễm mới và số ca tử vong mới liên quan đến COVID-19 đã giúp người dân yên tâm hơn để quay lại với các hoạt động kinh tế và xã hội.

    Sản xuất công nghiệp tiếp tục đà tăng trưởng vững chắc

    Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4 tăng 9,4% (so cùng kỳ năm trước), tương đương tốc độ tăng trưởng trước đại dịch (Hình 3). Sản xuất sản phẩm may mặc, giày dép, điện tử, thiết bị điện và sản phẩm kim loại là những ngành năng động nhất, ghi nhận tốc độ tăng trưởng hai con số. Tuy nhiên, sản xuất máy móc, thiết bị lại tăng trưởng chậm hơn, với tốc độ giảm từ 26,6% (so cùng kỳ năm trước) trong tháng 3 xuống chỉ còn 5,1% trong tháng 4 (so cùng kỳ năm trước). Sự giảm tốc này có liên quan đến gián đoạn chuỗi cung ứng do tình trạng phong tỏa ở Trung Quốc đã dẫn đến nhập khẩu máy móc, thiết bị từ thị trường này giảm mạnh trong 2 tháng qua. Chỉ số PMI ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 51,7 trong tháng 4, không thay đổi so với tháng 3 và đánh dấu 7 tháng tăng trưởng liên tiếp.

    Sự phục hồi mạnh mẽ của nhu cầu trong nước thúc đẩy doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

    Tăng trưởng doanh thu bán lẻ được nâng từ 10,4% trong tháng 3 (so cùng kỳ năm trước) lên 12,1% trong tháng 4 (so cùng kỳ năm trước) do nhu cầu trong nước vốn đang được củng cố lại tiếp tục mạnh mẽ hơn nhờ người dân tăng chi tiêu cho hai kỳ nghỉ lễ dài và du khách quốc tế đã bắt đầu quay lại (Hình 4). Ngoại trừ tốc độ tăng cao bất thường trong tháng 4/2021 chủ yếu do hiệu ứng cơ sở thấp thì đây là lần đầu tiên tăng trưởng doanh thu bán lẻ quay về sát với tốc độ trước đại dịch. Kết quả đáng chú ý này phản ánh cả sự tăng trưởng vững chắc của doanh thu bán lẻ hàng hóa (tăng 12,4% so cùng kỳ năm trước), và sự hồi phục mạnh mẽ của doanh thu dịch vụ tiêu dùng, với tốc độ tăng trưởng 11,0% trong tháng 4 (so cùng kỳ năm trước), gần gấp đôi so với tốc độ tăng trong tháng 3. Sự phục hồi của dịch vụ tiêu dùng được dẫn dắt chủ yếu bởi doanh thu từ dịch vụ lưu trú và ăn uống bùng nổ (tăng đến 14,8% so cùng kỳ năm trước). Có khoảng 101.000 lượt khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 4, con số cao nhất trong hai năm qua, nhưng vẫn chưa bằng 10% số lượt khách trước đại dịch.

    Cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 0,8 tỷ USD trong tháng 4

    Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng tốc từ 17,0% trong tháng 3 (so cùng kỳ năm trước) lên 25,2% trong tháng 4 (so cùng kỳ năm trước), trong khi tăng trưởng nhập khẩu nhích nhẹ từ 14,6% lên 16,5% (so cùng kỳ năm trước) (Hình 5). Xuất khẩu các sản phẩm chính và xuất khẩu sang các thị trường chủ lực đều tăng trưởng tương đối tốt. Nhập khẩu tăng chậm hơn xuất khẩu phần lớn phản ánh nhập khẩu từ Trung Quốc giảm tốc do quốc gia này thực hiện phong tỏa nhằm kiểm soát đợt lây nhiễm COVID-19 mới bùng phát. Tăng trưởng nhập khẩu từ Trung Quốc giảm từ 19,4% trong tháng 2 (so cùng kỳ năm trước), xuống còn 2,6% trong tháng 3 và 11,5% trong tháng 4. Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị từ Trung Quốc, chiếm hơn một phần năm tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường này và khoảng một nửa tổng kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị của Việt Nam từ thế giới, bị ảnh hưởng nặng nhất, giảm 15,2% trong tháng 3 (so cùng kỳ năm trước) và 6,4% trong tháng 4 (so cùng kỳ năm trước), hai tháng giảm đầu tiên kể từ tháng 6/2020. Tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu vải các loại, một nhóm mặt hàng quan trọng khác, cũng giảm từ 28,1% trong tháng 3 xuống còn 3,0% trong tháng 4 (so cùng kỳ năm trước). Do xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu từ Trung Quốc nên gián đoạn chuỗi cung ứng kéo dài có thể ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu của Việt Nam trong những tháng tới. Với giá dầu tăng cao, kim ngạch nhập khẩu nhiên liệu các loại tăng gần 120% (so cùng kỳ năm trước) và chiếm đến 9,3% tổng kim ngạch nhập khẩu trong tháng 4, gần gấp đôi tỷ lệ cùng kỳ năm trước.

    Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký giảm trong khi vốn giải ngân vẫn tăng trưởng mạnh

    Vốn FDI đăng ký đạt 1,9 tỷ USD trong tháng 4, giảm 12,6% so với cùng kỳ năm trước (Hình 6). Với tác động của cuộc chiến tranh tại U-crai-na và điều kiện tài chính toàn cầu đang thắt chặt, bất định toàn cầu gia tăng có thể đã khiến các nhà đầu tư trở nên thận trọng hơn. Sau một giai đoạn tương đối sôi động, hoạt động sáp nhập và mua lại (M&A) chững lại với giá trị góp vốn và mua cổ phần giảm 35% trong tháng 4 (so cùng kỳ năm trước), lần giảm đầu tiên sau 7 tháng. Theo lĩnh vực, vốn FDI đăng ký giảm ở công nghiệp chế biến, chế tạo (giảm 30,4% so cùng kỳ năm trước) và bất động sản (giảm 33,9% so cùng kỳ năm trước), nhưng lại tăng ở bán buôn và bán lẻ (tăng 36,0% so cùng kỳ năm trước). Mặc dù vốn đăng ký giảm, nhưng vốn thực hiện các dự án FDI đã được phê duyệt trong tháng 4 vẫn tăng tăng 7,1% so cùng kỳ năm trước, tháng tăng thứ năm liên tiếp.

    Lạm phát nhích lên nhưng vẫn dưới mục tiêu 4%

    Lạm phát chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng từ 2,4% trong tháng 3 (so cùng kỳ năm trước) lên 2,6% trong tháng 4 (so cùng kỳ năm trước) (Hình 7). Sau ba tháng liên tiếp tăng nhanh, giá xăng tháng 4 giảm 2,5% (so với tháng trước), phản ánh xu hướng toàn cầu, trong khi giá dầu diesel tăng 7,0% (so tháng trước). So với 1 năm trước, giá xăng dầu vẫn cao hơn gần 50% và vì vậy, tiếp tục là yếu tố đóng góp vào lạm phát lớn nhất thông qua nhóm giao thông. Giá lương thực, thực phẩm trong tháng 4 tăng 1,1% (so cùng kỳ năm trước), tương đương với tỷ lệ tăng trong tháng 3. Lạm phát cơ bản, không bao gồm giá lương thực, thực phẩm, năng lượng và các mặt hàng do Nhà nước quản lý giá, cũng tăng từ 1,1% trong tháng 3 (so cùng kỳ năm trươc) lên 1,5% trong tháng 4 (so cùng kỳ năm trước), tỷ lệ cao nhất kể từ tháng 12/2020. Giá cả gia tăng thể hiện tác động của cả yếu tố cung và yếu tố cầu. Về cung, một phần tăng trong giá hàng hóa thế giới và chi phí giao thông đã được chuyển sang giá lương thực, thực phẩm và các mặt hàng khác trong nước. Lạm phát do cầu kéo cũng bắt đầu hoạt động khi mà nhu cầu trong nước vốn đang củng cố lại được đẩy mạnh hơn nhờ người dân tăng chi tiêu cho hai kỳ nghỉ lễ dài. Điển hình là chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng tốc từ 0,5% trong tháng 3 (so cùng kỳ năm trước) lên 1,8% trong tháng 4 (so cùng kỳ năm trước), tỷ lệ tăng cao nhất kể từ đầu đại dịch.

    Tăng trưởng tín dụng được đẩy mạnh để đáp ứng nhu cầu cao

    Tăng trưởng tín dụng tăng tốc từ 15,9% trong tháng 3 (so cùng kỳ năm trước) lên 16,4% trong tháng 4 (so cùng kỳ năm trước), tốc độ cao nhất kể từ tháng 1/2018 (Hình 8). Tăng trưởng tín dụng nhanh hơn có thể phản ánh nhu cầu tín dụng cao hơn do người tiêu dùng tăng chi tiêu cho hai kỳ nghỉ lễ dài và các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng được kỳ vọng sẽ tăng mạnh trong mùa hè. Mặc dù vậy, lãi suất qua đêm liên ngân hàng vẫn giảm từ 2,08% vào cuối tháng 3 xuống còn 1,37% trong tháng 4, thấp hơn nhiều so với lãi suất chiết khấu 2,5% của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Lãi suất giảm cho thấy thanh khoản tương đối dồi dào trên thị trường trong nước. Điều này có thể phản ánh mức thặng dư ngân sách Nhà nước đáng kể và sự tăng trưởng mạnh hơn của tiền gửi từ khu vực tư nhân sau khi một số ngân hàng nâng lãi suất.

    Ngân sách Nhà nước ghi nhận tháng thứ 4 liên tiếp bội thu nhờ thu ngân sách đạt kết quả tốt

    Cân đối ngân sách bội thu 2,9 tỷ USD trong tháng 4. Thu ngân sách tăng tháng thứ tư liên tiếp (với tốc độ 32,2% so cùng kỳ năm trước) trong khi chi ngân sách giảm 2,4% (so cùng kỳ năm trước) do giảm chi thường xuyên. Trong 4 tháng đầu năm 2022, thu ngân sách đạt 46% dự toán trong khi chi chỉ đạt 26% dự toán, dẫn đến bội thu 7,7 tỷ USD. Giải ngân đầu tư công đạt 18,2% kế hoạch do Quốc hội phê duyệt, tương đương với mức ghi nhận trong cùng kỳ năm trước.

    Kho bạc Nhà nước phát hành lượng trái phiếu chính phủ bằng nội tệ có giá trị tương đương 201 triệu USD trong tháng 4, toàn bộ đều có kỳ hạn dài (mười năm trở lên). Lợi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn 10 năm trên thị trường sơ cấp tăng nhẹ từ 2,20% vào cuối tháng 3 lên 2,28% vào cuối tháng 4. Cùng lúc đó, tỷ lệ trúng thầu, tức là tỷ lệ giá trị trái phiếu trúng thầu trên giá trị trái phiếu được Kho bạc mời thầu đã giảm tháng thứ 3 liên tiếp, từ 31% trong tháng 3 xuống còn 22% trong tháng 4, tỷ lệ thấp nhất trong 12 tháng qua. Trong bốn tháng đầu năm 2022, tổng khối lượng trái phiếu phát hành (bao gồm trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh) đạt 11,5% kế hoạch năm, thấp hơn rất nhiều so với cùng kỳ năm trước (18,7%).

    Cần theo dõi:

    Nền kinh tế Việt Nam đang lấy được đà phục hồi bất chấp bất định toàn cầu gia tăng liên quan đến cuộc chiến tranh kéo dài ở U-crai-na, giá hàng hóa thế giới tăng và điều kiện tài chính toàn cầu đang thắt chặt. Mặc dù vậy, các cấp có thẩm quyền vẫn cần thận trọng với lạm phát và các rủi ro đối với việc duy trì tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ như hiện nay. Cả lạm phát cơ bản và giá lương thực, thực phẩm đều tiếp tục nhích lên, cho thấy cần phải theo dõi chặt chẽ. Nếu lạm phát tiếp diễn trong trung hạn thì nền kinh tế nên được cho phép điều chỉnh theo mức giá cả cao hơn, với các cấp có thẩm quyền đóng vai trò cung cấp các ưu đãi khuyến khích đầu tư nhằm nâng cao năng suất và tổng cung. Gián đoạn chuỗi cung ứng có thể tiếp tục nâng giá nhập khẩu và ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ giá thương mại vốn đã xấu đi đáng kể trong quý I/2022. Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu và Trung Quốc, ba đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, được kỳ vọng sẽ đạt tốc độ tăng trưởng thấp hơn dự kiến trong năm 2022, và điều này có thể ảnh hưởng đến viễn cảnh xuất khẩu của Việt Nam. Cuối cùng, vì Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai và là nguồn nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam nên tác động toàn phần của tình trạng phong tỏa ở quốc gia này đối với hoạt động sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo và xuất khẩu của Việt Nam sẽ còn được cảm nhận trong những tháng tới. Điều này cho thấy đa dạng hóa đối tác thương mại sẽ là một cân nhắc chiến lược an toàn để giảm nhẹ rủi ro và đảm bảo tăng trưởng xuất khẩu được duy trì.

    Nguồn: World Bank VietNam
    Khavienthanh thích bài này.

Chia sẻ trang này