►►►♠♣♥♦♪♫♫ ... những ngân hàng dư vốn khả dụng nhưng vẫn ...thiếu tiền ►►►♠♣♥♦♪♫♫

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by TLbooks, Sep 9, 2010.

1540 người đang online, trong đó có 616 thành viên. 21:32 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 0)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. TLbooks

    TLbooks Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 14, 2008
    Likes Received:
    11
    Tiền của ngân hàng đang chảy về đâu?

    [​IMG] E-mail [​IMG] Bản để in [​IMG] Cỡ chữ [​IMG] Chia sẻ: [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] Ý kiến (0)

    [​IMG]
    Khi lãi suất trái phiếu Chính phủ giảm dần thì các ngân hàng thương mại đã không còn mặn mà với chúng.


    NGUYỄN HOÀI
    09:49 (GMT+7) - Thứ Ba, 7/9/2010
    Xu hướng ngân hàng “kết bạn” với trái phiếu doanh nghiệp đang ngày càng rõ nét hơn
    Doanh số giao dịch trên thị trường mở (OMO) giảm mạnh, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 25% không phải quá nặng nhọc với các ngân hàng. Mua trái phiếu Chính phủ không còn động lực vì lãi suất thấp, trong tình trạng dư vốn khả dựng, các ngân hàng sẽ xử lý đầu ra như thế nào?

    Doanh nghiệp vớ được “thượng đế xịn”

    Từ đầu năm đến nay, sự chuyển động của dòng vốn trên thị trường có hai điểm chú ý là các tổ chức tín dụng tích cực mua vào trái phiếu Chính phủ và gần đây, hoạt động của họ khá gắn bó với các đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

    Trong 7 tháng qua, Chính phủ khá thành công trong các đợt phát hành trái phiếu Chính phủ nhờ vào lực lượng nòng cốt ngân hàng thương mại (ngân hàng thương mại). Doanh số mua vào của họ lên tới 43 nghìn tỷ đồng.

    Tuy nhiên, khi lãi suất trái phiếu Chính phủ giảm dần thì các ngân hàng thương mại đã không còn mặn mà với chúng. Chẳng hạn, trong các phiên đấu thầu sơ cấp trái phiếu kho bạc ngày 2/7 kỳ hạn 5 năm, khối lượng trúng thầu chỉ đạt 950 tỷ đồng, lãi suất thắng thầu 10,4%/năm; kỳ hạn 3 năm trúng thầu 550 tỷ đồng, lãi suất thắng thầu 9,8%/năm.

    Tương tự, ngày 15/7, kỳ hạn 5 năm trúng thầu 550 tỷ đồng, lãi suất 10,3%/năm; ngày 29/7, kỳ hạn 5 năm trúng thầu 350 tỷ, lãi suất thắng thầu 10,4%/năm và kỳ hạn 3 năm trúng thầu 300 tỷ đồng, lãi suất 9,8%/năm.

    Gần đây nhất (26/8), kỳ hạn 3 năm không có giao dịch, kỳ hạn 5 năm chỉ trúng thầu 400 tỷ đồng, lãi suất 10,4%/năm. Trong ngày 26/8, trái phiếu kỳ hạn 3 năm đã thất bại vì lãi suất trần thấp hơn lãi suất nhà đầu tư yêu cầu (9,8% so với 11%).

    Có một điểm đáng chú ý là ngay cả thời điểm trái phiếu Chính phủ đang lên ngôi cho đến gần đây, đã xuất hiện một xu hướng khác là ngân hàng thương mại quan tâm nhiều hơn đến trái phiếu doanh nghiệp kỳ hạn 3 năm. Khoảng thời gian đầu quý 2/2010, ANZ đã “quản lý chính” và “dựng sổ duy nhất” (theo cách gọi của ANZ) cho Tổng công ty Sông Đà phát hành thành công 1.500 tỷ đồng, lãi suất 15% cố định trong năm đầu tiên và lãi suất các năm tiếp theo được thả nổi theo mức lãi suất tiền gửi trung bình 12 tháng của 4 ngân hàng lớn nhất cộng thêm 4%.

    Tiếp đó, ngân hàng này cũng làm như vậy với Tập đoàn Hòa Phát để doanh nghiệp này phát hành 800 tỷ đồng, lãi suất năm đầu cố định ở 14,5%/năm, lãi suất các năm tiếp theo tương đương lãi suất tiền gửi 12 tháng trung bình của 4 ngân hàng lớn nhất cộng thêm lãi biên 3,5%/năm.

    Cùng đó, EVN phát hành 2.000 tỷ đồng, Vinaconex phát hành 1.000 tỷ đồng; Vincom phát hành 1.000 tỷ đồng lãi suất 16%/năm cho năm đầu do một ngân hàng quốc doanh tư vấn và mua luôn.

    Gần đây nhất (16/8/2010), Vinalines cũng phát hành 1.000 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp, thời hạn 3 năm, lãi suất 14,5%/năm đầu tiên, thời gian còn lại là lãi suất tiết kiệm bình quân 12 tháng cộng thêm 3,5%.

    Có một điểm chú ý, là hầu hết các vụ phát hành trái phiếu doanh nghiệp gần đây được những người có trách nhiệm trong ngành ngân hàng hé lộ rằng: ngân hàng thương mại đã mua số trái phiếu trên nhưng khi hỏi ngân hàng thương mại thì họ không muốn đề cập đến, nếu hỏi kỹ, họ chỉ thừa nhận vai trò “tư vấn”, “bảo lãnh”. Ngay cả như ANZ cũng chỉ dùng cụm từ “quản lý chính” hay “dựng sổ duy nhất” mà không nói rõ ai mua, mua bao nhiêu… trong các thương vụ nêu trên.

    Giải thích vấn đề này, cán bộ đầu tư một ngân hàng thương mại nhà nước cho rằng, trước đây ngân hàng mua trái phiếu Chính phủ vừa được trả lãi suất 12,3%/năm, vừa được giao dịch trên thị trường OMO với mức lãi suất 7% - 8% để rút tiền ra đầu tư tiếp nên ít ngân hàng từ chối cơ hội “lãi đơn, lãi kép” này.

    Còn nay, lãi suất trái phiếu Chính phủ giảm, cơ hội đó không còn nên có vẻ như dòng tiền từ ngân hàng đang lúng túng, và đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp chỉ là một trong những chuyển động đáng chú ý, mặc dù sự chuyển hướng này đã xuất hiện từ trước đó.

    Được và mất

    Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cũng thừa nhận, chính các đợt phát hành trái phiếu Chính phủ đã “làm khó” việc hạ lãi suất thị trường. Bởi lẽ, khi ngân hàng thương mại đầu tư vào trái phiếu Chính phủ có lãi suất cao, tức là họ có thêm đầu ra với khả năng sinh lời cao so với cho vay ra thị trường.

    Đó là những bất cập tạm thời mà Ngân hàng Nhà nước buộc phải chấp nhận. Nhưng giả định Ngân hàng Nhà nước nâng lãi suất OMO lên thì sẽ bị lên án lập tức, vì đó là cửa thanh khoản và cửa làm ăn của các ngân hàng thương mại, hơn thế, Chính phủ sẽ rất khó phát hành trái phiếu.

    Có một sự trùng hợp khá thú vị: song hành với chủ trương hạ lãi suất và lãi suất trái phiếu Chính phủ giảm mạnh thì xu hướng ngân hàng “kết bạn” với trái phiếu doanh nghiệp cũng rõ nét hơn. Nhìn vào thực tế này, có người liên tưởng rằng, rất có thể Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính đang có sự kết hợp.

    Cụ thể: cùng với việc siết lại kỷ cương, hạn chế buôn bán vốn vô tội vạ trên thị trường 2 và hạ lãi suất trái phiếu Chính phủ thì ngân hàng thương mại sẽ buộc phải hạ lãi suất, nhất là trong điều kiện họ dư vốn khả dụng như hiện nay? Nếu vậy, có lẽ các cơ quan này nên xem lại những động thái của mình đã đạt hiệu quả đến đâu.

    Tạm quên đi những toan tính (nếu có) của các cơ quan quản lý, một lãnh đạo cấp vụ của Ngân hàng Nhà nước cho rằng, hiện đang nổi lên những lo ngại xung quanh vấn đề ngân hàng thương mại mua trái phiếu doanh nghiệp, mà đầu tiên là khẩu vị rủi ro.

    Thực tế, thời điểm quý 2/2010 cho đến nay, lãi suất cho vay trên thị trường vẫn phổ biến ở mức cao mà các ngân hàng thương mại đầu tư trái phiếu doanh nghiệp với mức lãi suất như trên là quá hời, nhất là trong bối cảnh đường cong lãi suất ở Việt Nam còn lệch pha: lãi suất trung dài hạn rẻ hơn cho vay ngắn hạn.

    Vị chuyên gia trên phân tích: nhưng đó là sự tính toán gắn liền với hiện tại và với điều kiện doanh nghiệp đẩy được hàng hóa ra thị trường để thu được thặng dư thật về cho mình, còn tương lai thì chưa biết thế nào. Theo ông, với lãi suất tới 15%/năm hoặc có thể cao hơn vì còn phụ thuộc vào lạm phát, tình hình vĩ mô chưa ổn định, “sức khỏe” doanh nghiệp còn nhiều vấn đề thì các ngân hàng đang chấp nhận khẩu vị “rủi ro cao để có lãi cao còn hơn an toàn mà lãi suất thấp”.

    Vấn đề tiếp theo, ai cũng hiểu rằng, chỉ doanh nghiệp lớn, có “máu mặt” mới phát hành được trái phiếu doanh nghiệp, còn những doanh nghiệp vừa và nhỏ thì không. Và như vậy, mục tiêu phủ lãi suất thấp lên toàn bộ nền kinh tế vẫn chưa phải những gì có thể nhìn thấy.
  2. TLbooks

    TLbooks Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 14, 2008
    Likes Received:
    11
    Thông tư 13: Sẽ rà soát kỹ các khái niệm và tỷ lệ an toàn

    [​IMG] E-mail [​IMG] Bản để in [​IMG] Cỡ chữ [​IMG] Chia sẻ: [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] Ý kiến (2)

    THÙY DUYÊN
    08/09/2010 17:41 (GMT+7)

    [​IMG] Đầu tháng 8/2010, phản hồi từ 14 ngân hàng, công ty tài chính đã đề cập khá chi tiết nhiều điểm được cho là bất cập và “có ảnh hưởng lớn” đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng trong Thông tư số 13/2010/TT-NHNN.
    Đây là thông tin mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước về định hướng nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Thông tư 13/2010/TT-NHNN
    Đây là thông tin mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước về định hướng nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010.

    Ngày 8/9, Ngân hàng Nhà nước cho biết, liên quan đến quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, cơ quan này đã chỉ đạo đơn vị chức năng nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Thông tư 13/2010/TT-NHNN, ban hành ngày 20/5/2010.

    Việc nghiên cứu nói trên được định hướng theo yêu cầu đảm bảo thống nhất cách hiểu và triển khai thực hiện; trong đó sẽ rà soát kỹ về các khái niệm, cách xác định các tỷ lệ đảm bảo an toàn, xử lý những bất cập và đảm bảo hài hòa trong quá trình thực hiện của tổ chức tín dụng.

    Tuy nhiên, lộ trình và thời điểm hoàn tất việc nghiên cứu nói trên hiện chưa có thông tin xác định cụ thể.

    Cũng liên quan đến công tác phát triển và đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước cho biết đã thực hiện theo dõi, đánh giá tình hình cho vay của các ngân hàng đối với Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin); chuẩn bị phương án xử lý của ngành để tham gia tái cơ cấu tập đoàn này theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

    Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chỉ đạo, giám sát các tổ chức tín dụng thực hiện tăng vốn điều lệ theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP; nghiên cứu phương án xử lý đối với các tổ chức tín dụng không đáp ứng yêu cầu theo quy định.
  3. TLbooks

    TLbooks Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 14, 2008
    Likes Received:
    11
    80,000 tỷ của Vinashin là con số rất đáng ngờ, chắc chắn rằng các ngân hàng còn mất nhiều tiền hơn...
    600 triệu $ là con số công bố thêm tuần vừa rồi
    Kiểm toán không dám có ý kiến
  4. TLbooks

    TLbooks Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Feb 14, 2008
    Likes Received:
    11
    HSBC: “Cổ phiếu Việt Nam cần rẻ hơn mới đủ sức hấp dẫn”

    [​IMG] E-mail [​IMG] Bản để in [​IMG] Cỡ chữ [​IMG] Chia sẻ: [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] Ý kiến (0)

    [​IMG]
    HSBC: “Với tình trạng thanh khoản như vậy, mức độ minh bạch thấp, và môi trường vĩ mô khó dự đoán, giá cổ phiếu cần rẻ hơn mới đủ sức hấp dẫn".


    KIỀU OANH
    21:46 (GMT+7) - Thứ Ba, 14/9/2010
    Theo HSBC, giá cổ phiếu ở Việt Nam đã hợp lý hơn, nhưng thanh khoản của thị trường lại là một vấn đề


    Thận trọng về thị trường chứng khoán Việt Nam là quan điểm của HSBC đưa ra trong báo cáo Vietnam Monitor mới nhất. Theo ngân hàng này, giá cổ phiếu ở Việt Nam đã rẻ hơn ở một số thị trường khác trong khu vực, nhưng thanh khoản của thị trường lại là một vấn đề.

    Chuyên gia Jacqueline Tse, người thực hiện phần nhận định thị trường chứng khoán Việt Nam của bản báo cáo Vietnam Monitor công bố ngày 14/9, nhận xét tâm lý của giới đầu tư chứng khoán tại Việt Nam trong tháng 8 đã chịu tác động tiêu cực từ hai sự kiện. Thứ nhất là việc hãng định mức tín nhiệm Fitch hạ điểm tín nhiệm nợ công của Việt Nam hai bậc xuống B+ từ BB-, và thứ hai là việc Ngân hàng Nhà nước bất ngờ nâng tỷ giá bình quân liên ngân hàng USD/VND thêm 2%.

    Chỉ số VN-Index đã tụt dốc mạnh trong tháng 8, có thời điểm chỉ còn 423 điểm, trước khi phục hồi trở lại. Dù vậy, HSBC chỉ ra rằng, giá trị giao dịch của cả hai sàn vẫn không thể đi lên, bình quân mỗi ngày chỉ còn 96 triệu USD trong 1 tháng trở lại đây, thấp hơn 20% so với hồi tháng 7.

    Trong tháng 8, có 20 công ty chào sàn trên HNX, 7 công ty niêm yết mới trên sàn HOSE, nhưng 27 gương mặt mới này không đủ sức vực dậy giá trị giao dịch vì phần lớn đều là những doanh nghiệp nhỏ, có giá trị vốn hóa thị trường không đầy 100 triệu USD. Trong số này, duy chỉ có Công ty Cổ phần Bất động sản Phát Đạt (PRD) là có giá trị vốn hóa 241 triệu USD.

    Theo HSBC, việc bổ sung các doanh nghiệp niêm yết mới sẽ không thể tăng giá trị giao dịch của thị trường cho tới khi một vài doanh nghiệp quốc doanh quy mô lớn lên sàn.

    Báo cáo nhận định, hoạt động tăng vốn của các ngân hàng nhằm đáp ứng yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước về vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng và tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu (CAR) 9% sẽ là một rào cản đối với khả năng tăng điểm của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên, HSBC cho rằng, đây là việc làm cần thiết vì không chỉ giúp làm gia tăng uy tín của Ngân hàng Nhà nước và sẽ buộc những ngân hàng yếu kém phải đi tới những lựa chọn như sáp nhập với ngân hàng khác hoặc chấm dứt hoạt động.

    Theo báo cáo, thị trường chứng khoán Việt Nam có thể phải trải qua ít nhiều xáo trộn cho tới khi các ngân hàng hoàn tất việc tăng vốn theo quy định mới, có hiệu lực từ ngày 1/10/2010 này.

    Một động thái khác của cơ quan chức năng Việt Nam cũng được HSBC đánh giá cao trong báo cáo này là việc tăng cường nỗ lực kiểm soát những vi phạm liên quan tới lĩnh vực chứng khoán như công bố thông tin sai lệch, thao túng giá cổ phiếu, giao dịch nội gián phi pháp… Hình phạt đối với các hành vi này sẽ được các nhà chức trách tăng lên kể từ ngày 20/9/2010.

    Theo số liệu mà báo cáo đưa ra, hệ số giá/thu nhập (P/E) của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện là 11,9 lần, và mức P/E dự báo cho năm 2010 là 9,5 lần. Với mức P/E dự báo này, giá cổ phiếu ở Việt Nam đang rẻ hơn một số thị trường cùng khu vực như Thái Lan và Philippines, nhưng đang đắt hơn thị trường Hàn Quốc, nơi có P/E dự báo cho năm 2010 chỉ là 9,2 lần.

    HSBC nhận xét: “Giá cổ phiếu đã trở nên hợp lý hơn, nhưng thanh khoản lại là một vấn đề đáng ngại”. Hiện chỉ có 30 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có giá trị vốn hóa trên 200 triệu USD, giảm 1 công ty so với hồi tháng 7, nhưng số cổ phiếu đạt trần tỷ lệ sở hữu nước ngoài đã giảm từ 5 xuống còn 3 công ty.

    “Với tình trạng thanh khoản như vậy, mức độ minh bạch thấp, và môi trường vĩ mô khó dự đoán, giá cổ phiếu cần rẻ hơn mới đủ sức hấp dẫn. Chúng tôi có hứng thú hơn với những thị trường khác, có mức độ phát triển cao hơn và có mức giá rẻ hơn như thị trường Hàn Quốc”, báo cáo có đoạn viết.

    Báo cáo kết luận, HSBC ở thời điểm này tiếp tục thận trọng về thị trường chứng khoán Việt Nam.

    Trong phần phân tích về thị trường ngoại tệ, báo cáo cho rằng, việc điều chỉnh tỷ giá USD/VND của Ngân hàng Nhà nước vừa qua chưa thể giải quyết được áp lực mất giá đối với tiền đồng. Áp lực này, theo HSBC, đến từ những yếu tố mang tính dài hạn như lãi suất cơ bản VND quá thấp và dự trữ ngoại hối hạn chế của Việt Nam. Ngoài ra, sự thiếu hụt mang tính chu kỳ của nguồn cung USD cũng sẽ là nhân tố đẩy tỷ giá USD/VND tăng.

    Tuy nhiên, khác với nhiều báo cáo Vietnam Monitor trước đây của HSBC, trong báo cáo lần này, ngân hàng này không đưa ra bất kỳ con số dự báo cụ thể nào về chỉ số VN-Index hay tỷ giá USD/VND.

Share This Page