Những yểu tổ hình thành tâm lý đám đông

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi thankiu2016, 03/09/2016.

1401 người đang online, trong đó có 560 thành viên. 22:30 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 248 lượt đọc và 0 bài trả lời
  1. thankiu2016

    thankiu2016 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    03/09/2016
    Đã được thích:
    20
    Lãi suẩt chiết khấu:
    Bình thường, lãi suất thực chất không là gì khác hơn ngoài chi phí mà một ngưòi phải trả cho việc sử dụng tiền của người khác. Đối với hầu hết chúng ta thì thuật ngữ” lãi suất” có lẽ là không có gì xa lạ. Lãi suất có thể ảnh hưởng đến toàn bộ nhà đầu tư chính là lãi suất chiết khấu của ngân hàng trung ương (ở VN là ngân hàng nhà nước). Trong phạm vi bài tiểu luận, chúng tôi xin đề cập trực tiếp đến tác động của lãi suất chiết khấu đến TTCK mà không nhắc lại một số khái niệm cơ bản.

    a.Tác đông đến thi trường chứng khoán:

    Sự thay đổi trong lãi suất chiết khấu đã ảnh hưởng một cách gián tiếp đến hành vi của các nhà đầu tư cũng như các doanh nghiệp, nhưng không dừng lại ở đó,thị trường chứng khoán cũng bị ảnh hưởng. Như chúng ta đã biết, một trong những cách để định giá một doanh nghiệp chính là đưa tất cả các dòng tiền kỳ vọng trong tương lai chiết khấu về hiện tại. Lấy giá trị của doanh nghiệp chia cho số lượng cố phàn đang lưu hành ta có giá trị một cổ phần. Gía chứng khoán thay đổi tuỳ theo các kỳ vọng khác nhau của nhà đầu tư về công ty ở các thời điểm khác nhau. Do đó mà nhà đầu tư sẵn sàng mua hoặc bán cổ phần ở các mức giá khác nhau.

    Một khi doanh nghiệp bị thị trường nhìn thấy là sẽ cắt giảm các chi phí đầu tư tăng trưởng hoặc là doanh nghiệp đang tạo ra lợi nhuận ít hơn vì chi phí vay nợ tăng cao hoặc là doanh thu sụp giảm do người tiêu dùng thì dòng tiền tương lai được dự đoán sẽ giảm đi. Và hệ quả là giá cổ phần của doanh nghiệp sẽ thấp xuống. Nếu số lượng doanh nghiệp trên TTCK có sự sụp giảm này đủ lớn thì xét toàn bộ thị trường, chỉ số thị trường chứng khoán sẽ giảm.

    b.Tác đông đến đầu tư

    Đối với nhiều nhà đầu tư, thị trường đi xuống hoặc giá chứng khoán sụt giảm là điều không hề mong muốn. Nhà đầu tư nào cũng kỳ vọng giá trị khoản đầu tư của mình sẽ không ngừng tăng lên, có thể là ở dạng lãi vốn, cổ tức hoặc cả hai. Nhưng với kỳ vọng về sự tăng trưởng ừong tương lai thấp hơn và dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp không tốt như mong đợi, chắc chắn không nhà đầu tư thông minh nào tiếp tục đánh giá cao doanh nghiệp, nhà đầu tư sẽ mong đợi ít hơn khi sở hữu các cổ phần.

    Hơn nữa, đầu tư vào cổ phiếu có thể được xem là rủi ro hơn so với việc đầu tư vào các lĩnh vực khác. Khi ngân hàng trung ương công bố tăng lãi suất chiết khấu, thường sẽ kèm theo là các chứng khoán chính phủ mới được phát hành thí dụ như trái phiếu chính phủ. Đây được xem là cơ hội đầu tư an toàn nhất. Nói cách khác, lúc này tỷ suất sinh lợi phi rủi ro sẽ tăng và do đó đầu tư vào trái phiếu chính phủ và các cơ hội đầu tư tương tự trở nên hấp dẫn hơn. Nếu nhà đầu tư vẫn tiếp tục trung thành với các cổ phiếu thì họ sẽ nâng tỷ suất sinh lợi đòi hỏi của mình lên để bù đắp cho phàn rủi ro tăng thêm một lượng gọi là phần bủ rủi ro. Tỷ suất sinh lợi mong đợi từ việc nắm giữ cổ phiếu bao gồm tổng của tỷ suất sinh lợi phi rủi ro và phàn bù rủi ro thị trường. Dĩ nhiên là độ lớn của phần bù rủi ro khác nhau với mỗi nhà đầu tư, tuỳ thuộc vào khả năng chịu đựng rủi ro cũng như doanh nghiệp mà họ đầu tư. Tuy nhiên nói một cách tổng quát thì, khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu, lãi suất phi rủi ro cũng tăng theo, và do đó tổng tỷ suất sinh lợi đầu tư đòi hỏi cũng sẽ tăng. Do vậy, nếu phần bù rủi ro đòi hỏi giảm trong khi tỷ suất sinh lợi tiềm năng vẫn như cũ hoặc thậm chí là thấp hơn, thì chắc là nhà đầu tư sẽ cảm thấy đầu tư vào cổ phiếu trở nên rủi ro hơn và kết quả là họ sẽ chuyển tiền của mình vào các lĩnh vực đầu tư khác.

    Thi trường bẩt ổn trong hiên tai:
    Có thể nói thị trường Việt Nam cũng là một trong những thị trường bất ổn nhất thế giới. Điều đó ảnh hưởng khá nhiều đến tâm lý nhà đầu tư kể cả nhà đầu tư nước ngoài. Trong phạm vi kiến thức cho phép, chúng tôi đã nhận diện một số rủi ro trong thị trường chứng khoán ảnh hưởng đến tâm lí NĐT.


    a) Rui ro do tính thanh khoản thấp:

    Tính thanh khoản thấp của chứng khoán mà nhà đầu tư đang sở hữu có thể do chứng khoán đó khó và thậm chí không thể bán được, hoặc không được phép bán hay chuyển nhượng nhằm thu hồi vốn đầu tư. Thật không may cho nhà đầu tư chứng khoán, khi vì một lý do nào đó, chứng khoán đã mua là của một công ty có tình trạng tài chính thiếu lành mạnh và triển yọng cung cấp các yếu tố đầu vào, cũng như khả năng tiêu thụ sản phẩm thiếu hiệu quả vững chắc.

    Thậm chí, chỉ cần một sự thay đổi nhân sự cấp cao trong công ty cũng có thể khiến giá chứng khoán đó sụt giảm. Và rủi ro đối với nhà đầu tư sẽ là tối đa khi công ty phát hành chứng khoán bị phá sản và biến mất trên thương trường. Nhà đầu tư chứng khoán cũng có thể chịu rủi ro do “bỏ hết trứng vào một giỏ”. Thậm chí, việc sở hữu thuần túy các cổ phiếu ưu đãi mà không được chuyển nhượng trong thời hạn nhất định (thường từ 3-5 năm) cũng có thể khiến nhà đầu tư gặp rủi ro, nhất là khi cần tiền để trả lãi vay ngân hàng hoặc muốn rút vốn về để đầu tư vào chỗ khác. Ngay cả những chứng khoán tốt nhất cũng có thể không giữ vững được vị thế lâu dài trước sự biến động của thị trường. Điều này cũng đồng nghĩa với việc các nhà đầu tư chứng khoán này có thể phải hứng chịu cả hai thiệt hại dạng “khấu hao hữu hình” và “khấu hao vô hình” giá trị và tính thanh khoản của các chứng khoán đang nắm giữ.

    b)Rủi ro từ thông tin:

    Thật hiếm có hoạt động kinh doanh nào mà sự thành bại của nhà đầu tư lại đòi hỏi và gắn liền với yêu cầu về tính đa dạng, tính hệ thống, toàn diện, cập nhật và chính xác của các thông tin có liên quan trực tiếp và gián tiếp như đầu tư chứng khoán.

    Chân dung nhà đầu tư chứng khoán điển hình là người luôn háo hức trước mọi tin đồn và hăng hái góp phần vào tin đồn; luôn cảnh giác đề phòng và cũng rất nhẹ dạ, cả tin; ranh ma và nhạy cảm; quen biết nhiều, nhưng không kết bạn thân với ai trong làng chứng khoán. Và trong số họ, ai nắm được thông tin tốt hơn cả thì sẽ dễ dàng chiến thắng và giảm thiểu được nhiều rủi ro.

    Nói cách khác, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán có nguồn gốc rất sâu đậm từ số lượng và chất lượng thông tin mà nhà đầu tư cần để làm cơ sở đưa ra các quyết định đầu tư. Rủi ro luôn rình rập ở mọi nơi và nhà đầu tư sẽ phải trả giá sớm hay muộn, đắt hay rẻ, khi không nắm được các thông tin chính xác nhất, đầy đủ và kịp thời nhất liên quan đến môi trường đầu tư, chất lượng chứng khoán và tình hình thị trường...

    Một báo cáo tài chính hoặc cáo bạch chưa được kiểm toán, thẩm định bởi các tổ chức độc lập, chuyên nghiệp, có uy tín và trình độ chuyên môn cao; một thông tin đến chậm hoặc bị cắt xén, không chính xác về hoạt động kinh doanh của công ty phát hành cổ phiếu, về môi trường pháp lý và về các nhà đầu tư khác trên cùng “sân chơi”, hoặc đơn giản là về tình hình thời tiết hay dịch bệnh nào đó... đều có thể gây ra thiệt hại khôn lường cho nhà đầu tư chứng khoán.


    c)Rủi ro rừ các quy đinh và chất lượng dich vụ của sàn giao dich:

    Vì yêu cầu đặc thù đòi hỏi bắt buộc kinh doanh chứng khoán phải thông qua các tổ chức trung gian, môi giới, nên các nhà đầu tư có thể phải chịu nhiều rủi ro liên quan đến các quy định, quy trình nghiệp vụ và chất lượng dịch vụ của các tổ chức trung gian. Điển hình là các rủi ro liên quan đến việc tổ chức khớp lệnh và phân lô giao dịch cổ phiếu trên thị trường chứng khoán có tổ chức.Việc khớp lệnh định kỳ gây rủi ro cho nhà đầu tư vì họ không thể hủy ngang lệnh đã đặt trước khi kết thúc phiên khớp lệnh, bất chấp những biến động mới bất lợi trên thị trường, nếu họ không muốn chịu phạt về sự thay đổi quyết định này. Khớp lệnh định kỳ có thể gây rủi ro cho nhà đầu tư vì dễ gây tình trạng cung - cầu ảo trên thị trường và cả tình trạng nghẽn mạch, quá tải hoặc phân biệt đối xử theo kiểu bỏ rơi nhà đầu tư nhỏ ở các sàn giao dịch.

    Tuy vậy, việc khớp lệnh định kỳ này cũng có thể tạo cơ hội để nhà đầu tư giảm bớt thiệt hại khi hủy lệnh đã đặt sau khi khớp lệnh đối với các chứng khoán còn dư chưa xử lý hết trong phiên giao dịch gần nhất mà họ tham dự. Trong khi đó, việc khớp lệnh liên tục, mặc dù cho phép các nhà đầu tư đặt lệnh thận trọng, chính xác hơn, được giải quyết nhu cầu mua - bán nhiều hơn, nhanh chóng, bình đẳng hơn và giảm thiểu tình trạng cung - cầu ảo trên thị trường chứng khoán, song có thể gây rủi ro cho nhà đầu tư ở chỗ: khớp lệnh liên tục là giao dịch trên cơ sở khớp liên tục các lệnh mua- bán chứng khoán ngay khi lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch, không phải chờ đến thời điểm định kỳ như kiểu khớp lệnh định kỳ.

    Trong nguyên tắc xử lý khớp lệnh liên tục này thì quyền ưu tiên luôn dành cho các lệnh mua có mức giá cao hơn và các lệnh bán có mức giá thấp hơn. Trường hợp các lệnh mua và bán có đồng mức giá thì quyền ưu tiên sẽ dành cho lệnh nhập vào hệ thống giao dịch trước.

    Đến đây, rủi ro cho nhà đầu tư có thể xuất hiện theo hai cách: hoặc rủi ro vì lệnh mua - bán của họ bị nhập vào hệ thống chậm hơn so với các nhà đầu tư khác có lệnh tương tự nên không thực hiện được sớm hoặc hết các lệnh đã đặt; hoặc rủi ro vì họ buộc phải mua - bán bằng hết các chứng khoán đã đặt lệnh theo mức giá thị trường thời điểm hiện hành cao (khi mua vào) hoặc thấp hơn (khi bán ra) so với mức lệnh đã đặt.

    d) Rui ro tứ các chân động thị trường:

    Các nhà đầu tư chứng khoán, nhất là các nhà đầu tư nhỏ, có thể phải gánh chịu nhiều rủi ro liên quan đến các chấn động thị trường trong nước hoặc nước ngoài gây ra, bởi:

    - Các trào lưu mua, bán chứng khoán theo tâm lý đám đông làm phá vỡ các quy luật vận động bình thường của thị trường.

    - Các hoạt động đầu cơ, tung tin đồn thất thiệt, gây nhiễu thông tin và tự đánh bóng, thổi giá hoặc thậm chí lừa đảo và thông đồng có tổ chức của các nhà đầu tư chuyên nghiệp đủ sức gây biến động thị trường hòng trục lợi.

    - Các chấn động thị trường khác từ nước ngoài như cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á hồi năm 1997 là một ví dụ điển hình.

    e) Rủi ro lạm phát:

    Trước tiên là khả năng kiếm lời không đuổi kịp sự mất giá của đồng tiền đã bỏ ra đầu tư. Và khi sức mua của đồng bạc giảm sút do giá tiêu dùng tăng sẽ kéo theo lãi suất tăng. Tác động của lạm phát lên cổ phần và cổ phiếu, theo đó, thể hiện ở nhiều chừng mực khác nhau và rất phức tạp. Khái quát có thể nên biết rằng các trái phiếu càng dài hạn càng bị mất giá nhiều hơn loại ngắn hạn, các cổ phần thuộc về các công ty tiện ích có thể bất lợi vì không dễ tăng giá, cổ phần ưu đãi bị mất giá nhiều so với cổ phần thường, ...

    f) Rui ro bỉ cụt vốn:

    Nhà đầu tư - đặc biệt là trong TTCK- có thể bị mất một phần hoặc toàn bộ vốn đã bỏ ra do tiên đoán trật, hoặc do những hoàn cảnh bất lợi ập đến từ bên ngoài chứ không phải

    vì sức khoẻ công ty. Ví dụ một ảnh hưởng tâm lý xa lánh, tẩy chay đối với một sản phẩm hay ngành sản xuất, sự thay đổi tập quán tiêu dùng,..

    g) Rui ro do chọn nhâm đối tượng:

    Người ta vẫn có thể bị lầm lẫn trước một quyết định tồi, ngay cả khi mọi thứ đã bày công khai ra trước mắt. Sự chủ quan hoặc hời hợt có thể cũng xui khiến ta làm sai mong đợi. Đó là lúc người đầu tư quyết định khi mua phải một loại chứng khoán không sinh lợi hoặc thậm chí lỗ.

    h) Rủi ro do sai thời điểm:

    Mua hoặc bán cổ phần hoặc chứng khoán sai thời điểm cũng được xem là một rủi ro vì nó có thể dẫn đến lỗ hoặc bị hớ giá mất ăn. Bán quá bèo hoặc mua quá cao ngay ở các ngưỡng biến động có khi là một thiệt hại đáng kể.

    i) Rủi ro vì lãi suất:

    Người ta còn gọi đây là rủi ro mất khả năng tái đầu tư. Loại rủi ro này thường xảy ra đối với người đầu tư vào chứng khoán có thu nhập đều đặn, do họ không thể dùng tiền lãi hoặc tiền gốc để mua lại loại chứng khoán cùng mức cũ. Khi lãi suất thị trường tăng, giá thị trường của các chứng khoán có thu nhập ổn định sẽ giảm. Các trái phiếu dài hạn và cổ phiếu ưu đãi bị rủi ro cao nhất do bị mất giá. Ngược lại các chứng khoán ngắn hạn, do sẽ được đáo hạn trong một thời gian ngắn, khả năng tái tạo nhanh, nên không bị ảnh hưởng nhiều so với biến động của lãi suất cổ phần thường cũng sẽ có biến động mặc dù mối liên hệ không có gì là rõ ràng.

    j) Rủi ro vì tài chính:

    Đây là rủi ro trực tiếp và đôi khi thảm hại do công ty phát hành làm ăn thất bại hoặc phá sản, đe doạ người đầu tư thiệt hại một phần hoặc mất trọn số tiền đã bỏ ra mua chứng khoán.

    Tâm lý và văn hóa truyền thống:
    a) Ảnh hưởng của văn hóa truyền thống đến NĐT chứng khoán

    Để tham gia trên TTCK,đòi hỏi các nhà đầu tư phải có một trình độ văn hóa, tư duy, cũng như một đầu óc phán đoán nhạy bén với các “thông số” trên thị trường. Nhưng ít ai biết được “văn hóa truyền thống” dân tộc đã ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý và khả năng “làm kinh tế” của họ. Các nhà đầu tư đã vô tình “ứng dụng”các đặc trưng văn hóa “nông nghiệp-làng xã” vào hoạt động kinh doanh của mình. Từ đó, đã hình thành cái văn hóa mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, hình thành nên những kiểu kinh doanh “ổn định” và “đặc thù” chính họ.

    Thay vì đem lại những lợi ích ưu điểm cho nhà đầu tư chứng khoán thì “văn hóa truyền thống” lại có quá nhiều điểm không phù họp với việc “kinh doanh chứng khoán” hiện nay .Nó chủ yếu làm hạn chế những khả năng kinh doanh, xây dựng cũng như sức hấp dẫn của chứng khoán đối với NĐT.

    b)Những yếu tố dặc trưng của văn hóa nông nghiệp ảnh hưởng đến tâm lý người chơi chứng khoán:

    · Tính cộng đồng:

    Như ta biết tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên trong làng xã với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác. Con người trong xã hội nông nghiệp thường chú trọng đến các mối quan hệ.Từ đó, dẫn đến việc thủ tiêu vai trò cá nhân, làm cho người Việt Nam thiếu hụt những cá tính mạnh mẽ, mỗi con người chưa thực sự phát triên với tư cách là một chủ thể tự chủ, môi trường xã hội mang đậm tính cộng đồng không thể khuyến khích cao độ những động lực và lợi ích, tài năng sáng tạo của cá nhân.Trong khi thời đại nhiều thách thức như bây giờ, người chiến thắng là những nhà doanh nhân can đảm với những khát khao cháy bổng và một đầu óc phán đoán cực kì nhạy cảm. Đó là những người biết tạo cho mình một văn hóa kinh doanh mới, một văn hóa mang tính cá nhân cao độ, không còn quá lệ thuộc vào các mối “quan hệ nông nghiệp” như trước. Yếu tố tâm lý đám đông chi phối mạnh.

    · Tính đồng nhất:

    Nhân vật trung tâm trong nền văn hoá truyền thống chủ yếu là con người nông thôn,với các tính cách hay dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể,chịu ảnh hưởng tư tưởng “kéo theo” một cách khá mạnh mẽ từ tập thể: nước trôi thì bèo trôi, nước nổi thì thuyền nổiđó là một tư tưởng cầu an.Từ đó, đã hình thành nên tâm lí “ăn theo”trong việc kinh doanh cũng như thị trường chứng khoán, chứ chưa phải là con người kinh doanh.

    · Tính tự trị

    Con người Việt Nam ừong nền văn hóa nông nghiệp làng xã có tính tự trị khá cao, những người vùng nào thì chỉ biết vùng đó, đôi khi cả cuộc đời họ cũng không bao giờ bước chân ra khỏi “lũy tre” làng. Với cuộc sống và các mối quan hệ ổn định nên người Việt Nam thường có lối suy nghĩ đơn giản, tùy tiện, manh mún, phân tán,thiếu hệ thống...tính hợp tác,ỷ vào khả năng xoay sở của mình , không nhìn xa trông rộng.Đây chính là những tối kị trên thương trường, chính những điều này đã làm cho các nhà đầu tư chứng khoán gặp không ít khó khăn trong việc nắm bắt và phân tích ,tìm hiểu các “thông số” để đưa ra chính sách đầu tư hợp lí nhất để thu lợi nhuận cao. Chính những yếu kém về tâm lí mà nhà đầu tư thường gặp nhiều khó khăn trong việc quyết địnhkịp thời, dẫn đến những hậu quá khó lường.

    Từ những hạn chế của nền “văn hóa truyền thống” làm nảy sinh tâm lý về số phận. Phản ánh một tâm lý thiếu tự tin hay bất an nào đó,vì cảm thấy không an toàn trong một môi trường rủi ro, cảm thấy bất lực không làm chủ được cuộc sống từ đó xuất hiện xu hướng cục bộ, trong khi yêu cầu của xã hội hiện đại cần sự họp tác theo quan hệ chức năng, thích vào quen biết.Và nếu cái gì cũng dựa vào sự vất vả chạy chọt thì chắc chắn xã hội không thể vận hành một cách lành mạnh được huống gì trong “kinh doanh thị trường chứng khoán”, là một nơi với nhiều “thông số” phức tạp.

    Nói vậy, nhưng không phải nền văn hóa nông nghiệp truyền thống lại không đem đến những lợi ích cho người chơi chứng khoán: nhờ vào tính cộng đồng mà người chơi ở Việt Nam thường có tâm lí hỗ trợ lẫn nhau nên thị trường không bị một số cá nhân “lũng đoạn” chi phối như một số nước có nền văn hóa du mục.Mặt khác ,nhờ vào tính tự trị mà thị trường trong nước thường ổn định hơn so với thị trường thế giới (dù bị thị trường thế giới tác động tới cũng không nhỏ)

Chia sẻ trang này