Nông thôn ngày nay.

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi Freelander, 04/06/2008.

98 người đang online, trong đó có 39 thành viên. 04:17 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 394 lượt đọc và 5 bài trả lời
  1. Freelander

    Freelander Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    23/05/2008
    Đã được thích:
    13
    Nông thôn ngày nay.

    Bản thông cáo về những người nông dân

    Nếu bây giờ chúng ta đi dọc đường làng ở không ít miền quê, chúng ta sẽ dễ dàng thốt lên: Nông thôn giàu rồi! Đúng vậy. Chúng ta sẽ nhìn thấy hai bên đường nhà cửa ở những làng quê đó mọc lên như một lối phố với nhà bê tông cao tầng cửa kính, với cửa hiệu tạp hoá, cửa hàng điện tử, cửa hàng chơi game, với quán ăn?

    Không ai có thể phủ nhận được những thành tựu của công cuộc đổi mới của đất nước. Nhưng chúng ta cũng hiểu rằng: đổi mới là con đường mà mỗi một con người, mỗi một cộng đồng phải coi đó như sự sống còn. Vì không đổi mới là đồng nghĩa với sự bất động. Và mọi vật bất động sẽ bắt đầu ?osự lụi tàn êm ái?.

    Nhưng sau khi thốt lên câu: ?oNông thôn giàu rồi?, chúng ta hãy rẽ vào một lối ngõ, rồi vào một gia đình nông dân và ở lại một ngày, một tháng, một năm? chúng ta sẽ thấy câu chúng ta thốt lên đầy vẻ vui mừng có lẽ là sự lỡ lời.

    Những gì tôi vừa nói có vẻ mâu thuẫn và thiếu tính thuyết phục chăng. Nhưng nhưng ta hãy nhìn lại và nhìn sâu vào cuộc sống của những người nông dân ở thập kỷ thứ nhất của thế kỷ 21 này một cách nghiêm cẩn, chúng ta sẽ bắt đầu thấy hoang mang và đầy lo lắng.

    Chúng ta thử lược bỏ từng thứ một những đồ tiêu dùng trong một gia đình nông dân thì gia đình đó còn lại những gì? Chúng ta bỏ chiếc tivi đi, bỏ tiếp chiếc quạt điện, bỏ tiếp chiếc xe máy rẻ tiền nhập của người bạn láng giềng? Và bây giờ chúng ta xem họ còn lại những gì? Xin thưa, họ còn lại một đời sống với chất lượng sống đúng nghĩa cần phải báo động ở mức cao nhất và với không ít điều không bằng trước kia.

    Sẽ có những người phản đối nhận định đó của tôi và có thể nổi giận nói: ?oHãy chứng minh cho nhận định của ông?. Và tôi sẽ chứng minh trong một hình thức như một bản thông cáo - một bản thông cáo buồn gửi từ những làng quê yêu dấu của chúng ta.

    Chúng ta không thể chỉ lấy những tivi, quạt điện, nhà bê tông, và những chiếc xe máy nhập rẻ tiền? như những yếu tố nền tảng để mà mừng rỡ hay chứng minh về sự phát triển và chất lượng sống ở nông thôn hiện nay. Những thứ đó như là sự tất yếu ở bất cứ cộng đồng nào trên thế giới này. Một bản miền núi xa xôi và nghèo khó nhất ở Việt Nam cũng có thể có những thứ đó. Nhưng chất lượng sống ở những nơi đó mà các phương tiện thông tin đại chúng đã và tiếp tục đề cập lại là một hồi chuông báo động khẩn cấp.

    Chúng ta đang nói về đất canh tác của những người nông dân ngày càng thu hẹp lại. Đúng là như vậy. Và trên những mảnh đất bị cắt vụn, những người nông dân bao đời nay không biết làm gì ngoài trồng lúa và hoa màu. Đã mười năm nay, tôi vẫn mang một ý nghĩ ?onguy hiểm? rằng: Lúa, cây gậy thần của người nông dân Việt Nam trước kia lúc này lại có nguy cơ trở thành nỗi đe dọa với họ. Bởi họ chỉ có từng ấy ruộng, từng ấy thứ cây trồng, từng ấy phương pháp, từng ấy sản lượng? Bởi thế cho dù họ lao động quên ăn quên ngủ trên cánh đồng của mình thì cũng chỉ đủ để duy trì sự sống của họ mà thôi. Chúng ta phải thay đổi, hay nói đúng hơn, là phải có một cuộc cách mạng lớn của tư duy và một ý chí triệt để trên chính mảnh đất ấy thì mới có cơ hội thay đổi thực sự cuộc sống của họ.

    Tôi đã nhiều lúc lẩn thẩn nhẩm tính rằng: từ năm 1954 đến nay, hàng năm chúng ta đào tạo một số lượng kỹ sư nông nghiệp không nhỏ. Nhưng hơn 50 năm nay, chỉ tính những làng quê gần các thành phố lớn cũng rất hiếm thấy bóng dáng của những kỹ sư này trên cánh đồng cùng với những người nông dân. Tôi luôn luôn mang cảm giác chúng ta bỏ quên những người nông dân. Họ chỉ xuất hiện đâu đó trong lời nói của chúng ta khi cần thiết. Chúng ta đã không hành động một cách thiết thực cho họ.

    Chúng ta phải có một cuộc cách mạng của tư duy về nền nông nghiệp của chúng ta. Chẳng lẽ chúng ta cứ để những người nông dân sống một cuộc sống bản năng và mòn mỏi như thế. Chẳng lẽ họ mãi mãi là đối tượng để chúng ta làm từ thiện. Chẳng lẽ phong trào lá lành đùm lá rách rồi lá rách ít đùm lá rách nhiều lại là chiến lược của chúng ta. Phong trào ấy cho dù chứa đựng một phần của lòng nhân ái thì cũng chỉ là một giải pháp tạm thời.

    Chúng ta đang nói về môi trường sống của những người nông dân. Chưa bao giờ, môi trường ở nông thôn bị tàn phá và ô nhiễm đến kinh hãi như bây giờ. Chỉ riêng nguồn nước mà những người nông dân và các thế hệ tương lai của họ đang uống ngày ngày với mức ô nhiễm như các cơ quan chức năng thông báo thì có thể gọi là nguồn nước của Thần chết. Một số người nông dân biết điều đó nhưng đại đa số những người nông dân không biết. Nhưng biết thì họ cũng không thể nào làm khác được.

    Chúng ta thi nhau xây công sở thật to và nhiều khi diêm dúa, sắm xe thật đắt tiền và tổ chức quá nhiều các lễ hội không ích lợi gì cho dân sinh và dân trí như một sự chơi trội. Tôi phải xin nói thẳng rằng: mỗi một thành phố, mỗi một tỉnh khi có một lý do nho nhỏ và thậm chí vô lý cũng lại tổ chức ?olinh đình? tiêu tốn hàng tỷ. Chúng ta thử đặt câu hỏi rằng có cần thiết phải làm một buổi truyền hình trực tiếp về thị xã lên thành phố không? Làm thế để làm gì? Và chúng ta có biết phải tốn bao nhiều tiền cho một cuộc ?ovui chơi? như thế không?

    Tiền để làm những việc đó là tiền của chính nhân dân chứ đâu phải tiền của một cá nhân nào. Nhưng thử hỏi chúng ta đã làm gì cho một làng cụ thể để có được một nguồn nước sạch? Hoặc để thông báo với những người nông dân rằng nguồn nước họ đang uống ngày ngày có quá nhiều nguy cơ giết chết họ bằng một cái chết chậm và họ cần phải làm gì để giảm bớt những nguy cơ đó. Trong thế kỷ văn minh với nhiều đột phá khoa học lại xuất hiện những làng ung thư. Làng ung thư chẳng khác gì một cơn ác mộng được hiện thực hoá.

    Nếu chuyện các làng ung thư hay những làng có những bệnh kỳ quái như của chúng ta đã biết lại xảy ra ở thời gian của một 1000 năm trước thì sẽ được ghi lại trong sách cổ như sau: Trong cơ thể họ, gan, phổi, dạ dày? bắt đầu lở loét và thối rữa dần dần. Đám người đó đau đớn vật vã và gục xuống chết. Không một ai hiểu chuyện gì đã xảy ra. Một thời gian sau, khi các linh mục trở lại thì cái làng đó chỉ còn là một nghĩa địa hoang tàn đầy quạ. Họ làm dấu, cầu nguyện và vội vã bỏ đi.

    Chúng ta đang nói về những cuộc tha hương kiếm ăn của hàng triệu con em những người nông dân. Chúng ta chứng kiến hết chuyện bi thương này đến chuyện bi thương khác của các cô gái lấy chồng ngoại quốc. Chúng ta chứng kiến những cô gái trẻ là con em những người nông dân tìm về thành phố để làm tất cả những gì họ có thể làm. Liệu chúng ta có còn có khả năng cúi mặt khi biết rằng ở nhiều khu du lịch hay vui chơi giải trí có rất nhiều thôn nữ 17 tuổi đã ******* từ 10 đến 20 lần một ngày?


    Các cô gái đó đã ?olao động? như vậy để hy vọng có một món tiền trở về quê lập nghiệp. Với các cô gái trẻ và hiền lành ấy đang ở tuổi mơ mộng và học hành nhưng đã phải quyết định vứt đi đức hạnh mà chính họ luôn khao khát vươn tới để đổi lấy những đồng tiền. Họ muốn thay đổi một chút nhỏ trong cuộc sống bế tắc và đầy bi kịch của họ. Với một mảnh ruộng nhỏ một năm cấy hai hoặc ba vụ và trồng thêm hoa màu sẽ không bao giờ đổi thay được gia đình họ.

    Chúng ta đang báo động về việc bỏ học của học sinh ở các vùng nông thôn. Học sinh bỏ học không chỉ vì gia đình các em nghèo quá không làm sao có tiền cho các em ăn học mà còn bởi nhiều lý do khác nữa. Các em bỏ học vì trường học chẳng mang lại niềm vui cho các em. Vì dạy như chúng ta đang dạy và học như các em đang học đã làm cho các em biết rõ rằng: học xong các em lại trở về còng lưng cuốc đất như ông cha các em mà thôi. Vì rằng nếu học xong ở một trường cao đẳng hay dạy nghề họ cũng không biết kiếm việc làm ra sao. Có rất nhiều những thanh niên học xong những trường như thế lại quay về theo bước con trâu.

    Chúng ta đang nói về việc chăm sóc sức khoẻ cho những người nông dân. Mỗi một xã đều có một trạm y tế. Nhưng thực chất trạm y tế bây giờ chỉ là một cửa hiệu bán thuốc lẻ giá cao mà thôi. Những năm tháng chiến tranh, tôi từng chứng kiến những phong trào giữ vệ sinh công cộng, trồng cây thuốc Nam, diệt muỗi, diệt ruồi, chống giun sán, uống nước sôi? Nghe có vẻ rất ?ongây thơ? nhưng lại thiết thực với sức khoẻ của những người nông dân vô cùng. Nhưng bây giờ chẳng còn những chuyện đó nữa. Cũng như các kỹ sư nông nghiệp, hàng năm chúng ta đào tạo bao nhiêu bác sỹ nhưng chẳng bao giờ chúng ta thấy họ sống và làm việc ở những vùng nông thôn. Chẳng lẽ hơn một nửa thế kỷ rồi mà chúng ta vẫn không làm được điều ấy. Mà điều ấy đâu phải là điều không tưởng?!


    Chúng ta đang nói về văn hoá mà cụ thể là đời sống tinh thần của những người nông dân. Năm 2007, tỉnh Bạc Liêu đã rút bằng chứng nhận gia đình văn hoá của gần 600 gia đình. Thực chất cái danh hiệu Gia đình văn hoá là hết sức ấu trĩ và mắc bệnh hình thức và thành tích quá nặng. Trong khi đó, những nền tảng của văn hoá truyền thống ở các làng quê đã biến dạng và bị phá vỡ. Cái quan hệ hàng xóm láng giềng được trong truyền thống tốt đẹp lâu đời của văn hoá làng Việt Nam mỗi ngày một mất đi những vẻ đẹp và tính nhân văn của nó. Làng quê Việt Nam bây giờ ?oông chẳng ra ông thằng chẳng ra thằng?. Phố cũng không phải phố mà làng cũng không phải là làng.

    Chúng ta đang nói về? và đang nói về? quá nhiều chuyện buồn. Tôi đang nói về những điều này không phải với danh nghĩa một nhà báo hay một người sống ở đô thị mấy chục năm nay mà là danh nghĩa của một người đã sống và theo dõi những biến đổi của nông thôn hàng chục năm nay. Nếu ai phản đối những suy nghĩ của tôi nói trên thì xin hãy cùng tôi làm thử một bài toán vô cùng đơn giản là: Nếu ta lược trừ cái tivi, cái quạt điện, cái xe máy rẻ tiền nhập từ một nước láng giềng thì thực sự đời sống nông thôn Việt Nam còn lại những gì (?)

    Nguyễn Quang Thiều
  2. Freelander

    Freelander Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    23/05/2008
    Đã được thích:
    13
    Kinh tế nông thôn và số phận những người nông dân



    Người nông dân đang có gì? Họ chỉ có mảnh ruộng của mình. Ngoài ra họ không có gì nữa. Người nông dân đang cần gì? Họ đang cần một cuộc cách mạng canh nông lần thứ 3 cho những cánh đồng ngàn năm của họ.

    Có hai cuộc cách mạng vô cùng hệ trọng đối với người nông dân. Cuộc cách mạng thứ nhất: người nông dân được chia ruộng sau bao nhiêu đời cày thuê cấy mướn. Cuộc cách mạng này đã thay đổi kiếp người lần thứ nhất cho những người nông dân. Cuộc cách mạng thứ hai: người nông dân được toàn quyền quyết định việc canh tác trên thửa ruộng của mình. Cuộc cách mạng này còn gọi bằng một cái tên khác: khoán quản. Hai cuộc cách mạng nói trên là hai cuộc cách mạng về quyền con người.


    Nhưng bây giờ, họ cần cuộc cách mạng thứ ba. Đó là cuộc cách mạng của tư duy và công nghệ đối với mảnh ruộng của họ. Nếu không có cuộc cách mạng này thì cuộc sống của người nông dân khó có khả năng có những thay đổi lớn lao như một bước ngoặt lịch sử. Và mãi mãi họ cũng chỉ là người ?ocấy cây lúa nào ăn cây lúa ấy ? mà thôi.

    Trước kia, cây lúa là sự sống còn của người nông dân. Bởi lúc đó, người nông dân chỉ cần một thứ duy nhất là lương thực. Ngày đó, công thức quan trọng nhất cho bất cứ gia đình nào ở nông thôn Việt Nam là: Gạo + Vải + Muối = Ấm no. Có được công thức đó thì tất cả những người nông dân có thể yên tâm sống mà không sợ hãi điều gì.

    Nhưng bây giờ, xã hội đã phát triển và nhu cầu cho cuộc sống của một gia đình nông dân của thế kỷ 21 có thể nói là gấp 100 lần nhu cầu cho cuộc cống của họ cách đây một nửa thế kỷ. Nhưng thực tế, mảnh ruộng và cây lúa - Cây đũa thần trước kia của người nông dân - đã bớt đi rất nhiều sức mạnh nếu không muốn nói nó đang trở lên bất lực.

    Nếu chỉ trồng lúa với sản lượng như bây giờ thì người nông dân có chịu khó đến đâu, có mưa thuận gió hoà đến đâu, có không phải đóng bất cứ thứ thuế gì thì cũng không thể đổi đời họ được. Theo khảo sát tạm thời hiện nay thì mỗi một khẩu ở nông thôn trung bình có 1, 2 sào ruộng để canh tác. Mỗi năm họ cấy hai vụ lúa với sản lượng trung bình là hai tạ/một sào. Mỗi tạ thóc bây giờ có giá là 250.000 đồng. Tuy rằng trong thời gian này, giá thóc đang rất cao. Nhưng giá thóc chỉ cao trong một thời gian không đáng kể. Đến mùa tới, đương nhiên là giá thóc sẽ cân bằng trở lại.

    Như vậy, mỗi năm bằng trồng lúa, một khẩu sẽ thu nhập là một triệu đồng. Xen vào hai vụ lúa là một vụ màu (ví dụ là ngô). Sản lượng ngô trên 1, 2 sào lúc này tính ra tiền xấp xỉ lúa. Như vậy, tổng doanh thu của một người nông dân trong một năm từ lúa và hoa màu trên mảnh ruộng của họ là khoảng 1.400.000 đồng. Trong khi đó, chi phí cho tất cả các dịch vụ từ cày cấy, giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thu hoạch, chế biến? chiếm ít nhất 60% tổng doanh thu.

    Thực thu còn lại của một người nông dân từ việc canh tác trên mảnh ruộng của họ mỗi năm là khoảng 500.000 đồng. Nếu chia ra 12 tháng thì mỗi người nông dân chỉ có khoảng 45.000 đồng cho toàn bộ chi tiêu trong một tháng. Việc cấy lúa trồng ngô của người nông dân hiện nay chỉ là việc lấy công làm lãi mà thôi. Họ đã tìm nhiều cách để thay đổi ?obi kịch? này. Nhưng họ đều nhận thất bại về mình.

    Con số 45.000 đồng/ một người/ một tháng là con số làm choáng váng tất cả những người không là nông dân. Chúng ta, những người đang sống ở các đô thị, hãy lặng lẽ về nhà tính thử một ngày tổng chi phí của mỗi chúng ta sẽ bằng bao nhiêu tháng chi phí của một người nông dân. Thậm chí, có không ít người chi phí một ngày cho riêng cá nhân họ sẽ bằng tổng chi phí từ 6 tháng đến 1 năm của một người nông dân.

    Tất nhiên, ngoài nguồn thu nhập từ canh tác trên mảnh ruộng của mình thì người nông dân phải tìm những nguồn thu nhập phụ khác như chăn nuôi, làm nghề phụ, làm thuê trong thời gian giáp hạt v.v? Nhưng những thu nhập phụ này không phải là nguồn thu nhập ổn định và cũng không đáng bao nhiêu. Chăn nuôi của hầu hết các gia đình nông dân cũng chỉ để cải thiện thêm đời sống của họ. Còn nghề phụ của hầu hết các làng nghề truyền thống đã và đang dần dần teo lại vì tính hiệu quả quá thấp.



    Số ruộng tính trên một đầu người mà tôi dẫn ra ở trên vẫn là một con số hơi lạc quan. Thực tế có những gia đình nông dân tính đầu người không quá một nửa sào ruộng và có nơi còn ít hơn thế. Vì tất cả những người sinh sau năm 1993 không còn được chia ruộng nữa. Vì vậy, một gia đình có 2 vợ chồng trẻ và 3 đứa con, tổng cộng là 5 người chỉ có 2,5 sào. Số gia đình như vậy ở nông thôn càng ngày càng nhiều. Nhiều người nói ruộng canh tác của nông dân càng ngày càng ít đi. Thực tế không hẳn là như thế. Nhưng vì dân số càng ngày càng tăng nên tất yếu số ruộng tính trên một đầu người càng ngày càng ít.


    Trong khi đó những chi phí cho sinh hoạt của người nông dân càng ngày càng nhiều. Họ phải trả tiền điện, tiền đóng góp trường học và tiền giấy bút cho con cái, tiền chất đốt, tiền chữa bệnh, tiền ma chay cưới xin, tiền sắm sửa đồ dùng, tiền sửa sang hoặc xây nhà cửa, tiền đóng góp xây dựng đường xá, cống rãnh trong làng?Tất cả những chi phí nói trên là những chi phí bắt buộc mà không một gia đình nông dân nào thoát khỏi. Họ thu nhập như thế và phải chi tiêu như thế. Bất cứ ai cũng có thể dễ dàng làm một phép tính cộng trừ đơn giản để thấy được đời sống thực sự của những người nông dân hiện nay như thế nào.


    Nhiều gia đình nông dân được hỏi họ cần bao nhiêu tiền để có thể có một chi phí tạm thời cho một miệng ăn trong một tháng? Một câu trả lời quá khiêm tốn nhưng lại quá đau lòng: 200.000 đồng/ một người/ một tháng. Nếu chỉ biết cấy lúa, trồng ngô như hầu hết các gia đình nông dân hiện nay thì sản lượng của họ cần một có một cú ?osiêu nhảy vọt? gấp khoảng 5 lần so với sản lượng hiện nay. Nhưng không một nhà khoa học nào giúp họ có được cú ?osiêu nhảy vọt? ấy. Họ sẽ suốt đời bay là là mặt đất với 2 vụ lúa (2 tạ/ sào) và một vụ mùa (80kg/ sào nếu trồng ngô). Họ không bao giờ có khả năng cất cánh được.

    Do đời sống của những người nông dân như vậy, cho nên việc học hành của con em họ cũng rơi vào quá nhiều bi kịch. Việc thi đỗ đại học hoặc các trường cao đẳng hay dạy nghề là vô cùng khó khăn với học sinh ở nông thôn. Học sinh ở nông thôn không có tiền để học thêm. Chúng không có đủ thời gian học ở lớp và ở nhà vì chúng phải tham gia như một lao động chính cho sự sinh tồn của gia đình chúng. Và dù cho con em của ai đó trong số những người nông dân có đỗ thì việc chi phí cho con em theo học từ 3 đến 5 năm thực sự là một nỗi kinh hoàng đối với hầu hết các gia đình nông dân. Nguyên nhân đó làm cho nhiều học sinh thi đỗ đại học phải bỏ giấc mơ trở thành cử nhân. Thế là khó khăn lại thêm khó khăn. Những người nông dân hoàn toàn bất lực trong cuộc trường chinh thay đổi cuộc đời họ.

    Chúng ta không có đủ và cũng chẳng bao giờ có đủ các xí nghiệp, các nhà máy, các công ty ltd hay các cơ sở liên doanh để giải quyết công ăn việc làm cho con em những người nông dân. Mà thực tế thì chúng ta cũng không quan tâm đến họ, ngoại trừ ?orủ rê? họ bán ruộng đất canh tác giá rẻ cho chúng ta. Ai sẽ giúp họ và sẽ giúp như thế nào? Không còn cách nào khác ngoài con đường giúp những người nông dân ?olật ngược? cánh đồng của họ lên để tìm ra câu trả lời chẳng dễ dàng một chút nào này. Cây đũa thần ?omảnh ruộng và cây lúa? của người nông dân giờ đã không còn uy quyền như trước nữa.

    Cách đây mấy năm, người ta đã dựng lên giấc mơ Cánh đồng 50 triệu cho những người nông dân. Nghĩa là trên một ha ruộng, những người nông dân sẽ làm ra 50 triệu đồng trong một năm. Nhưng người ta lại không đưa cho những người nông dân câu thần chú để tìm ra Cánh đồng ấy. Thế là, người nông dân quần nát ruộng của mình mà vẫn không tìm thấy 50 triệu đâu cả. Và trước đó, các nhà quản lý nông thôn, các chuyên gia nông nghiệp và các nhà kinh tế học đã từng tung ra nhiều ?obảo bối? để giúp những người nông dân thoát khỏi tấm lưới gai của gã Phù thủy Nghèo đói nhưng tất cả những ?obảo bối? này đều bị gã Phù thủy Nghèo đói thu mất. Vì sao lại thế?



    Minh Luận
  3. Freelander

    Freelander Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    23/05/2008
    Đã được thích:
    13
    Cánh đồng 50 triệu - Sự thất bại của một giấc mơ

    Những người nông dân không thể mãi mãi sống với những điều kiện hiện nay của họ. Chẳng lẽ những người thành phố đã và đang tiến tới ở phòng máy lạnh, đi xe hơi, ăn tối cuối tuần ở những nhà hàng đặc sản và đi du lịch nước ngoài còn những người nông dân vẫn mãi mãi sống với chi phí hơn 40.000 đồng một tháng ? Không một quốc gia nào lại có thể nhắm mắt làm ngơ trước cảnh tình của nông dân như vậy.

    Sự thật là những nhà quản lý, những chuyên gia kinh tế và nông nghiệp nước ta cũng đã từng tung ra một vài ?obảo bối? nhằm thay đổi đời sống của người nông dân. Thay đổi đời sống người nông dân nghĩa là thay đổi hiệu suất lao động trên mảnh ruộng của họ. Nông dân Việt Nam không thể có thêm ruộng được nữa. Nếu không muốn nói họ đang phải đứng trước thách thức của việc ruộng đất canh tác mỗi ngày mỗi ít đi tính theo đầu người. Dân số chúng ta mặc dù được kiềm chế bằng nhiều cách nhưng vẫn phát triển đáng sợ. Cùng với vấn đề dân số là sự phát triển đô thị và những khu công nghiệp cũng làm giảm đi diện tích đất canh tác của người nông dân.

    Nhiều năm trở lại đây, chính những người nông dân đã tự tìm mọi cách xoay sở cách làm trên mảnh ruộng của họ. Nhưng họ chỉ làm với một tư duy hạn chế và những điều kiện khó khăn. Bởi thế, những thay đổi cây trồng hay vật nuôi của họ cũng chỉ mang lại cho họ những thay đổi nho nhỏ. Những thay đổi đó đầy tính bản năng và tạm thời.


    Tôi xin đưa một ví dụ: có một thời, thấy giá vải thiều đắt, họ đổ xô vào trồng vải thiều. Nhưng họ đâu biết rằng vải thiều là một đặc sản nhưng không bao giờ là một mặt hàng thiết yếu hàng ngày cho con người. Không có vải thiều nước Mỹ hay nước Pháp không thấy khổ sở. Ngay cả ở Việt Nam, không có vải thiều cũng chẳng thấy ai phàn nàn. Chỉ sau một hai năm, những người trồng vải thiều có vụ phải khóc mà đổ đi vì giá quá rẻ. Đấy chỉ là một ví dụ nhỏ trong hàng trăm ví dụ về sự tự tìm cách ?othoát hiểm? đói nghèo của những người nông dân.


    Nhiều năm trước, tôi đã đến hai bản người Mông ở Mai Châu, Hòa Bình. Các nhà quản lý và các chuyên gia đã đưa cây mận tam hoa về cho người dân ở đó trồng như là một lọai cây trồng chiến lược. Trừ những nương ngô, đất còn lại của họ đều trồng mận tam hoa. Nhưng chỉ sau một vụ quả, mận tam hoa ngay lập tức trở thành sự thất bại thảm hại của họ. Mỗi vụ, hai bản người Mông đó thu hoạch hàng trăm tấn mận. Họ sẽ bán cho ai hàng trăm tấn mận này? Những ai có nhu cầu ăn hàng trăm tấn mận ấy? Thế là có những vụ họ cứ để cho mận chín rụng ngập gốc mà không thèm ngó ngàng tới. Vì sau một hai vụ, những người buôn hoa quả có cho không mận họ cũng không thèm lấy vì giá bán mận không bù được công thu hoạch và vận chuyển. Lại còn việc bảo quản mặt hàng khó tính này nữa. Thà họ trồng bí xanh, bí đỏ hay rau sạch gì gì đó còn bán được dù giá lúc cao lúc thấp. Vì rau xanh là nhu cầu thường ngày của thị trường.


    Vì thế, khi phong trào Cánh đồng 50 triệu ra đời đã làm những người nông dân mất ngủ vì sung sướng. Họ tin rằng những người quản lý và các chuyên gia khi đưa ra giấc mơ này đã đúc sẵn chiếc chìa khóa cho họ để mở cửa giấc mơ đó. Hồi đó, mà đâu phải xa xôi gì, chỉ mới vài năm trước đây thôi, mọi tỉnh đều rầm rộ ra quân tiến thẳng tới những cánh đồng 50 triệu. Nhưng đến bây giờ, tôi chẳng thấy ai buồn nhếch mép nhắc lại giấc mơ ấy nữa.


    Ai đã nghĩ ra cánh đồng này? Và họ đã dựa trên những luận cứ nào để có thể tự tin như thế? Mọi điều kỳ diệu đều có thể xẩy ra. Nhưng tất cả những điều kỳ diệu đều phải dựa trên cơ sở hiện thực của nó. Trong vụ cánh đồng 50 triệu, tôi thấy các nhà quản lý và các chuyên gia đã ?obốc? như vừa uống xong một lít rượu mạnh. Có bạn đọc của Vietimes phản hồi nói 50 triệu/ha là con số có thể thực hiện được nhưng nhó là phải trừ mọi chi phí để làm ra 50 triệu ấy. Điều đó đúng. Nhưng một điều vô cùng quan trọng là các nhà quản lý và các chuyên gia phải vạch cho người nông dân phải làm gì và làm như thế nào để thu được 50 triệu. Chứ cứ về nông thôn chăng lên cái khẩu hiệu đó rồi lại lên xe hơi trở về thành phố thì một tỷ năm sau người nông dân cũng chẳng biết làm gì ra số tiền ấy ngoại trừ bán đứt ruộng đất của họ đi.


    Một cánh đồng 50 triệu không thể là một cánh đồng chỉ trồng toàn lúa hay nuôi vịt cỏ. Đấy là một điều chắc chắn. Vậy những người nông dân phải làm gì để biến một hecta ruộng của họ để có được 50 triệu đồng trong một năm. Tất nhiên họ phải thay đổi cây trồng hoặc thay đổi vật nuôi. Vậy cây trồng đó là cây gì và vật nuôi đó là vật nuôi gì? Xã hội đã có một câu chuyện hài hước đến chảy ra nước mắt về cái gọi là cây trồng và vật nuôi. Nhưng khi có sự lựa chọn đúng về cây trồng và vật nuôi thì tiếp đó phải có đầu tư, phải có phương pháp, phải có công nghệ và phải có thị trường cho những sản phẩm ấy. Thế nhưng thực tế, các nhà quản lý và các chuyên gia mới chỉ đưa ra giấc mơ cho những người nông dân chứ không đưa cho họ bất cứ cái gì để thực hiện giấc mơ ấy. Nếu chỉ như vậy, thì giấc mơ kia mãi mãi chỉ là một giấc mơ hão huyền. Và thực tế nó đang là sự hão huyền.

    Điều nói trên cho thấy các nhà quản lý và các chuyên gia không hề có một chiến lược cho sự phát triển nông nghiệp Việt Nam. Hoặc họ không tìm được một chiến lược rõ ràng dựa trên tất cả điều kiện mà nền nông nghiệp Việt Nam đang có và cần có để phát triển. Khoảng mươi năm trước, một nhóm các nhà quản lý và chuyên gia đã đến xã tôi để khảo sát cho một cuộc thay đổi nông nghiệp ở vùng đó. Họ định biến những cánh đồng trồng lúa nước quê tôi thành những cánh đồng trồng nho làm rượu vang theo công nghệ của người Pháp. Nhưng hình như họ không để ý đến thổ nhưỡng và khí hậu của những cánh đồng thuộc châu thổ sông Hồng là không hề phù hợp với việc trồng nho làm rượu vang. Lúc đầu, cả vùng quê đó náo nức và hân hoan về một cuộc đổi đời. Nhưng tôi biết họ sẽ thất bại. Thực tế sau này họ đã hoàn toàn thất bại.


    Thất bại trên cũng giống những thất bại khác bởi tư duy của các nhà quản lý và các chuyên gia. Cũng như họ đã thất bại trong việc cho nông dân nuôi bò sữa, bò thịt, nuôi tôm?Tôi không biết Việt Nam có Viện chiến lược nông nghiệp không nhưng tôi thấy cái Viện đó thực chất là vô cùng cần thiết vì nước ta là nước nông nghiệp. Nông thôn ở nhiều nước trên thế giới trong hàng trăm năm nay không hề thay đổi sản phẩm nông nghiệp của họ. Bởi họ có nghiên cứu chiều sâu và có một chiến lược đúng và đầu tư đúng cho từng vùng nông nghiệp. Hơn nữa, họ biết quảng bá cho sản phẩm của họ và biết đưa sản phẩm của họ đến thị trường như thế nào.


    Nếu bạn đi nước ngoài và đến các siêu thị bán thực phẩm bạn sẽ thấy một hiện thực giản đơn nhưng lại chứng minh một điều quan trọng. Tôi chỉ lấy ví dụ về nước mắm. Việt Nam có truyền thống làm nước mắm. Nhưng hầu hết nước mắm ở các siêu thị nước ngoài lại mang mác của người Thái Lan. Người Thái Lan xuất khẩu cả măng tre và một số nông sản khác. Với những sản phẩm đó thì người Việt trong thực tế có ưu thế hơn người Thái. Nhưng người Thái đã có chiến lược đúng và theo đuổi chiến lược đó một cách bền bỉ và có phương pháp. Hầu hết những hộ nông dân Việt Nam tạo ra được sự thay đổi lớn trong cuộc sống của họ là những người đã thay đổi như là một cuộc tiểu cách mạng về tư duy và công nghệ trên chính mảnh ruộng của mình. Chúng ta phải coi Việt Nam là một cái làng bên cạnh một thành phố là thế giới. Như vậy, chúng ta phải biết thành phố kia cần gì để nuôi trồng và giới thiệu cho cho thành phố đó cái mà họ cần. Nếu những người nông dân chỉ mới làm được việc trao đổi nông sản giữa làng này với làng khác thì mãi mãi chỉ dừng lại ở hình thức duy trì cuộc sống tối thiểu mà thôi.


    Một hiện thực của nông nghiệp Việt nam là: trên những mảnh ruộng nhỏ bé của mình, người nông dân hoàn toàn tự phát trồng cấy và chăn nuôi. Bởi thế, có mảnh ruộng chỉ với diện tích một sào mà họ đã trồng cùng một lúc nhiều loại nông sản. Một chút lúa, một chút ngô, một chút đậu, một chút khoai, một chút vừng, một chút cà, một chút bầu bí?Hình thức canh tác này chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp của họ mà thôi. Hình thức canh tác đó cũng chứng minh rằng các nhà quản lý và các chuyên gia không hề có một chiến lược đúng cho nền nông nghiệp Việt Nam. Họ không xác lập các vùng chuyên canh. Và nếu các chuyên gia có một đề án chiến lược nào đó tương tự thì họ cũng không hề triển khai đề án đó. Các đề án này chắc chắn là sau khi báo cáo ?ocấp trên? lại được cất vào tủ hồ sơ.


    Bạn có thấy những người nông dân Việt nam lâu nay đang tự nghĩ, tự làm trên cánh đồng của họ không? Hình như các nhà quản lý và các chuyên gia đã bỏ rơi họ hay là bỏ chạy vì không biết phải bắt đầu như thế nào ? Theo tôi, cả hai lý do trên đều đúng. Những người nông dân bây giờ vẫn cày ruộng bằng cuốc, tát nước bằng gàu, vẫn góc ruộng này trồng ngô góc ruộng kia trồng rau muống, vẫn cắp thúng gạo, rổ khoai đến chợ làng để bán, vẫn gom từng quả trứng gà, trứng vịt cho đủ một chục vv?Phương thức sản xuất như thế và phân phối sản phẩm như thế thì cánh đồng 50 triệu chỉ là một cánh đồng nằm trên đường chân trời.


    Việt Nam đang là một cường quốc xuất khẩu gạo nhưng đời sống nông dân Việt Nam đang ở mức gần như thấp nhất thế giới. Chúng ta không thể loại bỏ hoàn toàn cây lúa ra khỏi những cánh đồng Việt Nam. Nhưng chúng ta cũng sẽ thất bại và thực tế đã thất bại nếu chúng ta chỉ mãi mãi dành tất cả ruộng đất để chỉ trồng lúa với kỹ thuật canh tác cũ kỹ lâu nay.


    Vậy chúng ta có thay đổi được cuộc sống của những người nông dân hay không? Và thay đổi bằng cách nào? Ai sẽ là người thiết kế mẫu chiếc Chìa khóa vàng để cho những người nông dân mở được cánh cửa đi vào cánh đồng 50 triệu của họ? Không ai khác là các nhà quản lý và các chuyên gia phải trả lời câu hỏi này.

    Minh Luận
  4. modep4

    modep4 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/07/2007
    Đã được thích:
    14
    Rất thích coi tivi mấy ct khoa học .Tớ mà làm BT NN thì cử 1 tiểu đội sang TL , 1 TĐ sang ISAREL học cách phát triển NN .Phục ,thương dân DO THÁI ,và thích có quốc tịch DO THÁI
  5. Freelander

    Freelander Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    23/05/2008
    Đã được thích:
    13
    Hạt đắng cay


    Một ?othảo dân? vừa gửi thư lên Thủ tướng để nói về những khó khăn và nguyện vọng của người nông dân, mong người đứng đầu Chính phủ thấu hiểu nỗi khổ của người nông dân.

    Ông là Lê Văn Lam, 57 tuổi, ngụ ấp Tuyết Hồng, Tân Phước, Tân Hồng, Đồng Tháp, có thâm niên làm ruộng hơn 40 năm. Nghề trồng lúa đã nuôi sống mấy thế hệ trong đại gia đình ông. Một lão nông tri điền, hiểu rõ mùi bùn đất từng thửa ruộng, bờ kênh, gốc rạ và nỗi sướng khổ của người trồng lúa.

    Có nhiều nỗi khổ; khổ vì một nắng hai sương thì không đáng bàn; cái đáng nói bây giờ là sự thiếu công bằng trong việc phân phối của cải xã hội dành cho nông dân. Việt Nam tuy là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, nhưng người làm ra lúa gạo không được hưởng lợi nhiều. Giá lúa rất rẻ. Theo cách tính của ông Lam, với giá gạo xuất khẩu là 1.000 USD/tấn hiện nay thì giá lúa phải là 8.000 đồng/kg mới đúng, nhưng thực tế chỉ có 5.400 đồng. Nông dân luôn bị ép giá; tư thương ép đã đành, mà doanh nghiệp nhà nước cũng mua lúa với giá rất thấp. Chênh lệch lớn về giá lúa gạo xuất khẩu là khoản lợi nhuận kếch sù chảy vào túi các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, còn người trồng lúa cảm thấy lợi ích chính đáng của họ bị tước đoạt. Đất nước được ca ngợi về thành tích xuất khẩu gạo như một thắng lợi thần kỳ, nhưng người trồng lúa không thấy mình được mở mày mở mặt . Vĩ mô thì huy hoàng, nhưng vi mô còn những khoảng tối.

    Nông dân là những con nợ lớn nhất - nợ ngân hàng. 95% nông dân phải vay vốn để sản xuất. Mùa màng năm được năm không, thiên tai dịch bệnh, giá cả trồi sụt, nông dân phần nhiều từ huề tới lỗ, có người đã bị ngân hàng phát mãi nhà. Giá vật tư nông nghiệp càng lên cao, người trồng lúa càng bị trói chặt vào chủ nợ. Việc sản xuất không ổn định, năng suất hiệu quả thấp, không nắm bắt được yêu cầu của thị trường? là những yếu kém cố hữu khiến người nông dân càng làm càng nợ, càng nợ càng phải làm để trả nợ; cứ thế như cái vòng luẩn quẩn. Thực tế là họ có làm ra được nhiều lúa gạo hơn, bán được nhiều tiền hơn, nhưng vị trí của họ thì chưa thay đổi, họ chỉ từ chỗ đói nghèo đi sang chỗ khốn khó.

    Việc liên kết ?obốn nhà? gồm nhà nước, nhà nông, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp trên thực tế là không có gì. Lợi ích của nhiều doanh nghiệp không đi cùng với lợi ích người nông dân. Ngân hàng vẫn là chủ nợ lớn nhất, quan hệ hai bên vẫn là quan hệ chủ nợ - con nợ. Các doanh nghiệp mua lúa với giá rẻ, bán vật tư nông nghiệp giá cao; thậm chí còn liên kết ngầm nâng giá phân bón nhập khẩu để hưởng lợi trên đầu trên cổ nông dân? Trong mối liên kết này, nhà nông không tìm được bàn tay ấm áp nào để mà nắm lấy.

    Công nghệ thông tin và không khí dân chủ xã hội đã giúp cho lá ?otâm thư kể khổ? của ông nông dân miệt vườn được gửi thẳng tới bàn làm việc của Thủ tướng Chính phủ. Lâu nay họ không quen ăn nói, chỉ quen chịu đựng, nay thì đã mạnh dạn hơn; nhưng điều đó cũng cho thấy nỗi bức xúc của họ đã bị dồn nén lắm, phải được giải quyết.

    Thành quả phát triển của đất nước phải đem lại những cải thiện cụ thể trong sự hưởng thụ của cá nhân từng người dân. Cụ thể ở đây là người trồng lúa phải bán được lúa với giá hợp lý, có lợi nhuận thỏa đáng để nuôi được con cái ăn học, dựng nhà cửa, sắm phương tiện sản xuất và sinh hoạt, được giải trí về văn hóa tinh thần? Những yêu cầu ấy là tự nhiên và bình thường mà xem ra còn xa mới đạt tới được.

    Nước ta có khoảng 80% dân số sống ở nông thôn, khoảng 20% còn lại cũng có gốc gác nông thôn - nông dân, cũng sinh ra, được nuôi lớn lên từ ruộng vườn, trâu bò, gà lợn, thóc lúa. Và nếu không có cơm ăn dù chỉ một ngày là xã hội đã bất ổn. Vậy mà nguyện vọng của người nông dân làm ra lúa gạo nuôi sống xã hội vẫn khó được chia sẻ; vẫn có một thực tế là không phải ở đâu, lúc nào, với bất cứ ai thì nỗi cực nhọc của người trồng lúa cũng được thấu hiểu và tri ân. Cho nên câu ca dao này vẫn cứ cất lên và lưu truyền khắc khoải từ đời này sang đời khác, vừa là tâm sự vừa là nhắc nhở: ?oCày đồng đang buổi ban trưa/ Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày/ Ai ơi, bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần!?

    Hải Thanh
  6. almera168

    almera168 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    28/03/2008
    Đã được thích:
    0
    Nhà nước đã cử hàng đại đội sang nhiều nươc học hỏi rồi nhưng không kết quả .Cử qua Tháilan học chăn nuôi trồng trọt thì nó học được cách tổ chức nhà thổ và chăn dắt ****.Còn cử qua Mỹ học kinh tế không biết tụi nó học cái gì bên đó mà không thấy đứa nào trở về phục vụ đất nước mà còn quay lại nói xấu lảnh đạo.Đảng và nhà nước thỉnh thoảng cũng có quan tâm đến nhân dân nhưng kết quả lực bất tòng tâm chỉ vì bản chất người VN chúng ta quá tệ (trong đó có em) .Bản chất người VN quá ích kỷ chỉ vì trong quá khứ bị đói nghèo lâu ngày nên bây giờ hể thấy tiền là muốn lấy về cho bản thân ,nếu không sài hết thì để dành .Em thấy từ lảnh đạo cao cấp (mà em quen biết) cho đến người nông dân nghèo đều như thế ai cũng ham tiền của .Đất nước ta còn lâu mới giàu được

Chia sẻ trang này