PAN cổ phiếu đặc biệt trên sàn Hà Nội ??????????

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by hungbaongo, Oct 19, 2007.

683 người đang online, trong đó có 273 thành viên. 18:46 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 0)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. ttsapa

    ttsapa Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 25, 2006
    Likes Received:
    56
    Thông báo từ TTGD CK HN, nguồn cung từ các thành viên Công ty đã hết. Thị trường lên là PAN lên ầm ầm thôi.
  2. chuyengiachungkhoanvn

    chuyengiachungkhoanvn Thành viên quen thuộc

    Joined:
    May 29, 2006
    Likes Received:
    0
    Ầm ầm cái dề, chym em vẫn nhức nhối đây này.
  3. thieuhoangde

    thieuhoangde Thành viên tích cực

    Joined:
    May 25, 2006
    Likes Received:
    3
    [/quote]

    Ầm ầm cái dề, chym em vẫn nhức nhối đây này.


    [/quote]

    Đau quá thì cắt đi thôi.
  4. Saola

    Saola Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    May 20, 2002
    Likes Received:
    106
    Toàn mấy ông kẹp chim bơm vá cho nhau, SSI còn chưa được 3x nữa là Pan. Khổ quá,,, hê hê
  5. sv57

    sv57 Thành viên mới

    Joined:
    Oct 24, 2007
    Likes Received:
    0
    Phân tích cổ phiếu nóng: Xuyên Thái Bình (PAN)


    http://www.atpvietnam.com/vn/thitruongotc/5517/index.aspx
  6. thuylinhsex

    thuylinhsex Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Oct 26, 2007
    Likes Received:
    0
    Ầm ầm cái dề, chym em vẫn nhức nhối đây này.


    [/quote]

    Đau quá thì cắt đi thôi.


    [/quote]

    Cắt gì hả bác?? Cắt Chym hay cut loss???????
  7. thuylinhsex

    thuylinhsex Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Oct 26, 2007
    Likes Received:
    0
    Phân tích cổ phiếu nóng: Xuyên Thái Bình (PAN)
    Thứ hai, 5/11/2007, 14:33 GMT+7
    (ATPvietnam.com) - CTCP Xuyên Thái Bình (mã chứng khoán: PAN) hiện nay đang được rất nhiều nhà đầu tư quan tâm. Để giúp các nhà đầu tư có cái nhìn tổng quát hơn, ATPvietnam phân tích qua về cổ phiếu PAN.

    * KQKD Quý III/07: sàn HOSE
    * KQKD Quý III/07: sàn HASTC

    Với số vốn điều lệ là 70 tỷ đồng, PAN chính thức giao dịch tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội vào ngày 22/12/2006 và đã có những ngày tháng diễn biến khá ấn tượng.

    Phân tích các kết quả kinh doanh

    Kết quả kinh doanh
    9 tháng đầu 07
    Năm 2006
    Năm 2005

    Doanh thu thuần
    63.983.667.543
    62.485.045.847
    27.469.546.877

    Lợi nhuận gộp
    13.419.901.593
    17.324.724.796
    27.469.546.877

    Doanh thu hoạt động tài chính
    45.829.983.920
    22.394.488.967
    2.541.266

    Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
    43.823.102.857
    29.168.254.182
    1.030.590.065

    Lợi nhuận khác
    (15.901.986)
    172.685.417
    (47.408.181)

    Lợi nhuận trước thuế
    43.807.200.871
    29.340.939.599
    983.181.884

    Thuế thu nhập doanh nghiệp
    6.429.618.513
    8.237.849.657
    284.542.128

    Lợi nhuận sau thuế
    37.377.582.358
    21.103.089.942
    698.639.756




    Dựa vào bảng trên có thể thấy, doanh thu từ hoạt động tài chính của công ty năm 2006 tăng một cách kỷ lục so với năm 2005 (gấp 8812.33 lần năm 2005).

    Không chỉ dừng ở đó, trong 9 tháng đầu năm 2007, khoản doanh thu này đã tăng 104.65% so với cả năm 2006. Đây quả là một tín hiệu đáng mừng phản ánh chiến lược kinh doanh hiệu quả của công ty.

    Có được điều này là do nửa đầu năm 2006 công ty mua lại 80% cổ phần của công ty Pan Pacific Hà Nội (Công ty Cổ phần Liên Thái Bình). Việc sát nhập này làm tăng vị thế của PAN trong ngành công nghiệp vệ sinh đồng thời khẳng định thương hiệu của PAN trên toàn quốc.

    Hơn nữa, trong thời kỳ này công ty đã xác định rõ chiến lược cạnh tranh mà chủ yếu là tập trung vào chất lượng sản phẩm, mở rộng mạng lưới dịch vụ đặc biệt là mảng dịch vụ y tế, cao ốc, siêu thị và trung tâm thương mại.

    Do vậy các khoản lợi nhuận khác và lợi nhuận ròng (lợi nhuận sau thuế) của công ty đều tăng mạnh, lợi nhuận ròng năm 2006 tăng 2920,6% so với năm 2005 và trong 9 tháng đầu năm 2007 tăng 77,12% so với năm 2006.

    * So sánh với kế hoạch dự kiến của công ty trong giai đoạn 2006-2008

    Chỉ tiêu
    Giá trị thực (tỷ đồng)
    Dự kiến (tỷ đồng)

    Năm 2006
    9 tháng 2007
    Năm 2006
    Năm 2007
    Năm 2008

    Doanh thu thuần
    62,5
    63,9
    60
    98
    145

    Lợi nhuận sau thuế
    21,1
    37,3
    6,3
    11,5
    16,5

    Tỷ lệ LNST/Doanh thu thuần
    33,77 %
    58,4%
    10,62 %
    11,76 %
    11,42 %

    Tỷ lệ LNST/Vốn chủ sở hữu
    30,04 %
    10%
    31,86 %
    36 %
    36%


    Dựa vào bảng trên có thể thấy, doanh thu và lợi nhuận của công ty đều đạt vượt chỉ tiêu: doanh thu thuần thực tế năm 2006 tăng 4,14% so với dự kiến. Lợi nhuận sau thuế của năm 2006 và 9 tháng đầu năm 2007 đều tăng mạnh thậm chí còn vượt chỉ tiêu năm 2008. LN sau thuế năm 2006 tăng 27,43 %; 9 tháng đầu năm 2007 tăng 125,7% so với chỉ tiêu năm 2008.

    Điều này cũng khẳng định tiềm năng và vị thế của công ty trong ngành dịch vụ và cung ứng công nghiệp nói riêng cũng như trên phạm vi toàn quốc.

    * So sánh 9 tháng đầu năm 2007 với kế hoạch kinh doanh năm 2007:

    Chỉ tiêu
    9 tháng đầu năm 2007
    Kế hoạch năm 2007

    Doanh thu từ các hoạt động
    109.813.651.463
    110.000.000.000

    Tổng lợi nhuận sau thuế
    37.377.582.358
    40.000.000.000




    Doanh thu từ hoạt động 9 tháng đầu năm đạt 99,83% so với kế hoạch cả năm, tổng lợi nhuận sau thuế đạt 93,94% so với kế hoạch cả năm, đó quả là một kết quả đáng mừng.

    Trong giai đoạn này công ty đang đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh bên cạnh những thuận lợi về mặt thị trường công ty cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn đặc biệt là vấn đề vốn vì vậy mục tiêu lợi nhuận năm 2007 tương đối cao và không phải dễ thực hiện nhưng với kết quả 9 tháng đầu năm ta có thể tin tưởng vào việc hoàn thành, thậm chí vượt mức chỉ tiêu năm 2007.

    Phân tích các chỉ tiêu tài chính cơ bản

    Hệ số về cơ cấu vốn:

    a. Cơ cấu nguồn vốn. tài sản

    Cơ cấu tài sản 9 tháng đầu 07
    6 tháng đầu 07
    Năm 2006
    Năm 2005
    - Tài sản dài hạn/Tổng tài sản 10,06%
    11,11%
    21,07%
    33,50%

    - Tài sản ngắn hạn/Tổng tài sản 89,4%
    88,89%
    78,93%
    66,50%

    Cơ cấu nguồn vốn
    - Nợ phải trả/Tổng nguồn vốn 50,13%
    59,17%
    20,62%
    37,76%

    - Nguồn vốn chủ sở hữu/Tổng nguồn vốn 49.41% 40,33% 78,24%
    62,24%




    Dựa vào bảng trên có thể thấy, trong cơ cấu tài sản và nguồn vốn thì tài sản ngắn hạn của công ty luôn chiến tỷ trọng lớn và tăng dần, tính đến thời điểm 9 tháng đầu năm 2007 con số đã lên tới 89,4%; tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu cũng rất lớn 78,24% ở năm 2006 nhưng đã giảm chỉ còn 49,41% ở 9 tháng đầu năm 2007.

    Kết quả này cho thấy nhu cầu vốn của công ty ngày càng lớn trong khi đó nguồn vốn chủ sở hữu không đủ để đáp ứng kịp thời vì vậy công ty phải chủ động đi vay nhằm đảm bảo cho các kế hoạch phát triển của công ty.

    Là công ty cung cấp dịch vụ vệ sinh công nghiệp và bảo dưỡng bất động sản chuyên nghiệp đầu tiên tại Việt Nam. Hơn nữa trong thời kỳ này công ty có nhiều thuận lợi để phát triển hoạt động kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất trên phạm vi toàn quốc nên nhu cầu vốn là một tất yếu.

    b. Các hệ số đòn bẩy tài chính

    Các hệ số đòn bẩy tài chính 9 tháng đầu năm 07
    6 tháng đầu năm 07
    Năm 2006
    Năm 2005
    - Hệ số nợ 50,13%
    59,17%
    20,62%
    37,76%

    - Hệ số nợ trên vốn cổ phần 146,73%
    146,72%
    26,35%
    60,66%




    Dựa vào bảng trên có thể thấy, các hệ số đòn bẩy tài chính năm 2006 đều giảm so với năm 2005, hệ số nợ năm 2006 giảm điều này cho thấy mức độ rủi ro đã giảm so với năm 2005 nhưng mức lợi nhuận chia cho các cổ đông của công ty giảm.

    Hệ số nợ trên vốn cổ phần năm 2006 giảm so với năm 2005 cho thấy đây là giai đoạn nguồn vốn cổ phần vẫn đủ trang trải các khoản nợ của công ty, trong 6 tháng và 9 tháng đầu năm 2007 hệ số này tăng vọt lên rất cao điều này báo hiệu có sự không an toàn về vốn, khả năng tự tài trợ của công ty đã giảm đi rất nhiều (trong năm 2007 công ty đã phải vay 2 khoản lớn 84 tỷ và 80 tỷ từ cổ đông của công ty và công ty tài chính dầu khí).

    Duy trì hệ số đòn bẩy cao cũng có nghĩa là nâng cao mức độ rủi ro cho công ty, nhưng để xem xét mức độ phụ thuộc của công ty đối với các khoản nợ ta phải kết hợp với các hệ số về khả năng thanh toán, dưới đây ta sẽ phân tích các hệ số này để có cái nhìn tổng quát hơn.

    Hệ số về khả năng thanh toán:

    Chỉ tiêu
    9 tháng đầu năm 07
    6 tháng đầu năm 2007
    Năm 2006
    Năm 2005

    Hệ số thanh toán nhanh (lần)
    1,84
    2,2
    4,26
    2,88

    Hệ số thanh toán hiện hành (lần)
    1,83
    1,52
    4,35
    2,93




    Dựa vào bảng trên có thể thấy, Hệ số thanh toán của công ty ở cả 2 năm 2006 và 2005 đều rất tốt, cho thấy khả năng thanh toán nợ đến hạn của công ty là rất tốt, công ty có đủ tài sản lưu động để đảm bảo trả nợ vay. Tuy nhiên các hệ số này của công ty trong năm 2006 lại tăng lên rất cao (gấp gần 1,5 lần năm 2005) điều này rất có lợi cho các chủ nợ đặc biệt là các ngân hàng nhưng dường như lại không có lợi cho công ty vì khi đó ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của công ty.

    Năm 2007 mới chỉ có kết quả của 9 tháng đầu năm nên cũng chưa thể có một kết luận chính xác được nhưng từ kết quả trên cho thấy tính tới thời điểm này thì khả năng thanh toán của công ty vẫn rất tốt, hệ số thanh toán 9 tháng đã giảm đáng kể so với 6 tháng đây là tín hiệu đáng mừng, phù hợp với nhu cầu phát triển trong giai đoạn này.

    Các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động:

    Chỉ tiêu
    9 tháng đầu năm 2007
    6 tháng đầu năm 2007
    Năm 2006
    Năm 2005

    Kỳ thu tiền bình quân (ngày)
    19,63
    21,55
    41,71
    36,03

    Vòng quay khoản phải thu (vòng)
    18,34
    16,71
    8,63
    9,99

    Vòng quay hàng tồn kho (vòng)
    9,49
    9,81
    33,92
    0

    Vòng quay tài sản cố định (vòng)
    2,53
    2,53
    3,3
    7,64

    Vòng quay tổng tài sản (vòng)
    0,08
    0,09
    0,7
    2,56




    Dựa vào bảng trên có thể thấy, các chỉ tiêu ở năm 2005 đều phản ánh hiệu quả quản lý tài sản cũng như tính thanh khoản của tài sản cao hơn năm 2006.

    Kỳ thu tiền bình quân năm 2006 lớn hơn năm 2005 do vậy khả năng chuyển các khoản phải thu thành tiền chậm hơn năm 2005, có thể đây là chính sách tín dụng nới lỏng để thu hút khách hàng nhằm mở rộng mạng lưới kinh doanh nhưng điều này cũng sẽ làm tăng chi phí cho công ty.

    Các hệ số vòng quay của vốn và tài sản của năm 2006 đều thấp hơn các hệ số của năm 2005 (trừ vòng quay hàng tồn kho) cho thấy hiệu quả trong việc chuyển các khoản phải thu thành tiền, hiệu quả quản lý việc tạo doanh thu nhờ vào tài sản năm 2006 là thấp hơn so với năm 2005.

    Năm 2006 vốn khó đòi được thu hồi có thể bị ứ đọng hoặc chiếm dụng vốn, do đó trong tương lai công ty cần quan tâm cải thiện hiệu quả sử dụng tài sản bằng cách nỗ lực gia tăng doanh thu hoặc bán bớt tài sản ứ đọng.

    Năm 2007 cả hai chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân và vòng quay hàng tồn kho đều được cải thiện rõ rệt cho thấy công ty đã bắt đầu quan tâm đến việc quản lý các khoản phải chi một cách có hiệu quả hơn.

    Các hệ số về khả năng sinh lời:

    Chỉ tiêu (%)
    9 tháng đầu năm 2007
    6 tháng đầu năm 2007
    Năm 2006
    Năm 2005

    Hệ số tổng lợi nhuận
    71,63
    22,98
    27,73
    100

    Hệ số lợi nhuận hoạt động
    68,49
    69,5
    46,68
    3,75

    Hệ số lợi nhuận ròng
    58,42
    59,2
    33,77
    2,54

    Tỷ số sức sinh lời cơ bản
    5,63
    6,37
    32,68
    9,17

    Hệ số lợi nhuận tổng tài sản (ROA)
    4,8
    5,43
    23,5
    6,51

    Hệ số lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE)
    27,89
    13,49
    29,95
    10,46

    Doanh lợi doanh thu (ROS)
    58,42
    59,2
    33,77
    2,54




    3 chỉ tiêu đầu cho biết khả năng của công ty trong việc chuyển doanh số bán hàng sang lợi nhuận. Trong năm 2005 hệ số tổng lợi nhuận của công ty là 100% do trong thời kỳ này công ty đã kiểm soát được chi phí hàng tồn kho, chi phí sản xuất, năm 2006 chỉ tiêu này đã giảm gần 1/3 do đây là giai đoạn thực hiện các kế koạch chiến lược của công ty (mua lại cổ phần của Pan Pacific Hà Nội, mở rộng mạng lưới ở Hà Nội và Đà Nẵng) do vậy đòi hỏi các chi phí cả về vật chất và nhân lực.

    Bù lại với các chi phí đó năm 2006 và năm 2007 cũng là những năm thu được lợi nhuận vượt bậc cuả công ty; cụ thể: Hệ số lợi nhuận hoạt động và hệ số lợi nhuận ròng của năm 2006 tăng 1.144,8 %và 1.229,52% so với năm 2005.

    Dựa vào bảng trên có thể thấy, Hệ số ROA, ROE, ROS năm 2006 tăng mạnh so với năm 2005. Đặc biệt hệ số ROS của công ty tăng mạnh qua các năm và 6 tháng đầu năm 2007.

    Điều này thể hiện hiệu quả sinh lợi trên mỗi khoản đầu tư từ tài sản và nguồn vốn, năng lực quản lý kinh doanh của công ty qua đó càng khẳng định vị thế và chiến lược kinh doanh hiệu quả của công ty.

    Nhóm chỉ tiêu về sự tăng trưởng phát triển:

    Chỉ tiêu (%)
    9 tháng đầu năm 2007
    6 tháng đầu năm 2007
    Năm

    2006
    Năm 2005

    Tốc độ tăng trưởng của tài sản
    766,96
    400,96
    737,15
    -

    Tốc độ tăng trưởng doanh thu
    2,4
    -1,6
    2730,25
    -

    Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận ròng
    77,12
    15,84
    2920,6
    -

    Tỷ số lợi nhuận tích luỹ
    293,86
    298,44
    78,03
    109,08

    Tỷ số tăng trưởng bền vững
    28,55
    40,22
    23,44
    11,41




    Qua bảng có thể thấy, tốc độ tăng trưởng của tài sản, doanh thu và lợi nhuận ròng của năm 2006 rất cao, 9 tháng đầu năm 2007 tốc độ tăng trưởng tài sản đạt 766,96% so với năm 2006 đồng thời có sự tăng trưởng doanh thu còn tốc độ tăng trưởng lợi nhuận ròng cao chứng tỏ đã có sự đầu tư quá nhiều vào tài sản nhưng hiệu quả quản lý việc tạo doanh thu từ các khoản tài sản cũng rất tốt so với 6 tháng đầu năm thì hiệu quả quản lý đã được cải thiện rõ ràng.

    Tỷ suất lợi nhuận tích luỹ của công ty năm 2006 giảm, lợi nhuận tích luỹ của công ty vẫn tăng nhưng mức tăng này không bằng mức tăng lợi nhuận sau thuế, cho thấy mức độ sử dụng lợi nhuận tích luỹ cho mục đích tái đầu tư đã giảm.

    Tỷ số tăng trưởng bền vững tăng qua các năm phản ánh triển vọng tăng trưởng bền vững của công ty, với mỗi nguồn vốn chủ sở hữu được tài trợ thêm bởi nguồn lợi nhuận tích luỹ làm tăng cường thêm khả năng tự chủ của công ty.

    Các chỉ tiêu trên 1 cổ phiếu:

    Chỉ tiêu 9 tháng đầu năm 2007 6 tháng đầu năm 2007 Năm 2006 Năm 2005
    EPS (Earning per share) 2,789 3,819 6,594 1,181
    B/V 28,706 28,343 21,955 11,288
    P max 163,600 163,600 73,900
    P trung bình 97,850 115,160 64,600
    P min 59,300 61,200 54,900
    P/E cao nhất 58,65 42,8 11,2
    Hệ số P/E trung bình 35,08 30,15 9,8
    Hệ số P/B 3,4 4,06 2,94



    Qua bảng có thể thấy, hệ số P/E năm 2006 nhỏ cho thấy nhà đầu tư dễ dàng hơn trong việc thu lợi nhuận từ khoản đầu tư của mình. Vào thời điểm 9 tháng đầu năm 2007 hệ số P/E rất cao nhưng giá cổ phiếu công ty vẫn tăng mạnh tính đến thời điểm này đã lên đến 196.900đ/CP.

    Đây là một dấu hiệu chứng tỏ nhà đầu tư rất kỳ vọng vào tốc độ tăng trưởng của công ty, chấp nhận rủi ro.

    Kết hợp với các chỉ tiêu đã phân tích ở trên có thể thấy rõ tiềm năng phát triển hiệu quả của công ty này. Tuy nhiên, khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu PAN trong giai đoạn này cần lưu ý xu hướng tăng giảm chung của thị trường đồng thời cân nhắc tới thái độ của nhà đầu tư nhìn chung trong từng giai đoạn ngắn.

    Thu Hiền - Hoàng Giang




    [/quote]

    Cắt gì hả bác?? Cắt Chym hay cut loss???????


    [/quote]
  8. hungbaongo

    hungbaongo Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Mar 22, 2006
    Likes Received:
    358
    Bài phân tích ngớ ngẩn nhất quả đất. Chẳng có trọng luwọng gì cả. Số liệu tính toán sai toét ra.
  9. bluestock

    bluestock Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Mar 29, 2007
    Likes Received:
    0
  10. juliet1612

    juliet1612 Thành viên quen thuộc

    Joined:
    Apr 6, 2006
    Likes Received:
    0
    Một bài phân tích vớ vản như thế cũng làm trò, không bằng anh em tự phân tích lấy trong diễn đàn.

Share This Page