Phân tích Ngành Chứng khoán và một số cổ phiếu "dẫn đầu"

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi nguyenanh2609, 07/04/2021.

728 người đang online, trong đó có 291 thành viên. 07:18 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 1842 lượt đọc và 5 bài trả lời
  1. nguyenanh2609

    nguyenanh2609 Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    30/10/2020
    Đã được thích:
    36
    Gần đây, tôi đã nhận được rất nhiều các câu hỏi liên quan đến: Có nên đầu tư vào Ngành Chứng khoán không và nếu có thì đầu tư mã nào là tốt nhất,… SSI, VND, VCI hay HCM?.
    Vì vậy, bài viết này sẽ tập trung đưa ra một số quan điểm của tôi về Ngành Chứng khoán cũng như việc so sánh một số cổ phiếu nổi bật.

    Lưu ý:
    Bài viết có thể sẽ khá dài đối với nhiều người, nhưng tôi không muốn tách riêng thành 2 bài vì không muốn dòng tư duy bị ngắt quãng. Hy vọng mọi người có thể đọc đến những dòng cuối cùng.
    Nếu thấy bất kỳ thông tin sai sót nào hay có những ý kiến trái chiều đối với bất kỳ luận điểm, luận cứ nào, rất mong mọi người có thể góp ý vì mọi ý kiến đều sẽ góp phần mở rộng thế giới quan của chúng ta về ngành này.
    Rất cảm ơn.


    Luận điểm:
    1. Bản chất “đầu cơ” của Thị trường Chứng khoán nói chung và Ngành Chứng khoán nói riêng
    2. Điểm nhấn và triển vọng Ngành Chứng khoán - Tăng trưởng ngành 2021 ước tính: 10 - 20%
    3. Các cổ phiếu nổi bật, “dẫn dắt” Ngành Chứng khoán
    4. Rủi ro đầu tư Ngành Chứng khoán


    Luận điểm 1: Bản chất “đầu cơ” của Thị trường Chứng khoán nói chung và Ngành Chứng khoán nói riêng
    Đầu tiên, vấn đề thứ nhất cần phải nói đến, khi quay trở lại với một cụm từ đã xuất hiện trong câu hỏi, đối với cá nhân tôi, các cổ phiếu chứng khoán chưa thực sự có thể liệt kê vào danh sách những cổ phiếu “đầu tư” theo đúng nghĩa, bởi tính chất của Thị trường Chứng khoán (TTCK) vẫn còn chưa được rõ ràng, minh bạch và thuần túy như tên gọi của nó, chưa kể đến những biến động thị trường không thể lường trước và khó thể kiểm soát được.
    · Tính chất: Tư tưởng “chơi” chứng khoán và đại bộ phận nhà đầu tư (NĐT) không muốn “giàu chậm”, hưng phấn quá đà với việc “lướt sóng” chứng khoán khiến TTCK vẫn chưa thể thoát khỏi mác “cờ bạc” trong tâm lý của nhiều người.
    Điều này được thể hiện phần nào trong bài viết: Cơn say chứng khoán
    · Biến động thị trường: Ngành chứng khoán có đặc điểm bám sát TTCK, rất đặc thù và khác biệt so với các ngành khác (ngân hàng, dầu khí, …), vì vậy việc đánh giá với tầm nhìn trong 2, 3 năm là rất khó (trong bài viết này, tôi cũng sẽ chỉ đánh giá về triển vọng của Ngành Chứng khoán trong năm 2021). Biến động thị trường là sự thay đổi tăng hay giảm không thể lường trước của TTCK. Điển hình gần đây nhất là cuộc khủng hoảng y tế. Khi Covid-19 hoành hành trên thế giới, TTCK đang lao dốc từng ngày. Các NĐT liên tục bán tháo cổ phiếu và sự lo ngại về nền kinh tế làm tăng kỳ vọng về việc các ngân hàng trung ương có thể hạ lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng. Và như thế, một lần nữa, chúng ta lại được chứng kiến hình ảnh “múa bên trăng” mà nhiều người vẫn lo sợ phải đối mặt.
    => Do đó, khái niệm “đầu tư” chứng khoán (theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng) vẫn còn quá xa xỉ khi sử dụng tại TTCK Việt Nam

    Luận điểm 2: Điểm nhấn và triển vọng Ngành Chứng khoán
    Gần đây TTCK Việt Nam đang nhận được sự quan tâm của đông đảo NĐT, đặc biệt là các NĐT cá nhân, hay nói theo khái niệm đang hot hiện nay là các F0, sau cú rơi hồi tháng 1, nếu may mắn bảo toàn được lợi nhuận thì được lên đời thành F1, ngược lại, thì lặng lẽ rút khỏi thị trường và mang trong mình tâm lý “kỳ thị” chứng khoán.
    Đặc biệt trong bối cảnh lãi suất ngân hàng vẫn còn thấp như hiện nay, thì theo tôi, TTCK vẫn sẽ là một kênh đầu tư hấp dẫn.
    Luận cứ 1: Điểm nhấn Ngành Chứng khoán
    - Diễn biến Ngành: Khả quan
    Trái ngược với tất cả các dự báo ban đầu, và bất chấp một năm thiệt hại nặng nề do Covid-19, TTCK Việt Nam đã tăng trưởng ngoạn mục. Tổng giá trị giao dịch tăng lên 80,3 tỷ USD, +54% so với cùng kỳ, trong khi VN-Index tăng +14,9% so với cùng kỳ.
    Các CTCK niêm yết đã có một năm tích cực với tăng trưởng 107,7% so với cùng kỳ, vượt trội so với thị trường. Từ mức đáy hồi tháng 3, ngành này đã tăng trở lại 219%, cao hơn mức phục hồi 67% của VN-Index.
    Kết quả kinh doanh hồi phục trong nửa cuối năm 2020: Top 20 CTCK lớn nhất Việt Nam công bố kết quả kinh doanh 9T2020 xuất sắc, với LNTT tăng 39,1% so với cùng kỳ đạt 7,6 nghìn tỷ đồng. Điều này chủ yếu nhờ vào thu nhập tự doanh (+62,3% YoY) do thị trường tăng và phí môi giới chứng khoán (+30,8% YoY). Doanh thu phí từ nghiệp vụ ngân hàng đầu tư liên quan đến phát hành cổ phiếu và M&A không cao trong năm nay, do Covid-19 ảnh hưởng đến triển vọng tăng trưởng lợi nhuận các doanh nghiệp và việc giãn cách xã hội khiến không thể hoàn thành các thương vụ M&A. Thu nhập từ phí tư vấn tài chính doanh nghiệp giảm toàn ngành (-3,3% so với cùng kỳ, không bao gồm TCBS), đặc biệt là những công ty đầu ngành như VCI (-120% YoY) và HCM (-28,7% YoY).
    Hoạt động kinh doanh trái phiếu doanh nghiệp tiếp tục khởi sắc, mở rộng mạnh mẽ vào năm 2020. Lãi suất huy động giảm đáng kể, thúc đẩy nhu cầu đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp có lợi suất cao hơn. Số lượng trái phiếu doanh nghiệp ngoài ngành ngân hàng phát hành đến giữa tháng 12 đã tăng 57% so với cùng kỳ lên 295,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,7% GDP. Riêng tại TCBS, số lượng trái phiếu phát hành trong 9T2020 đạt 52,2 nghìn tỷ đồng, +114% YoY. VNDirect (VND: HOSE) cũng đạt tăng trưởng thu nhập từ nghiệp vụ tư vấn ấn tượng +36,3% YoY, trong đó có liên quan nhiều đến hoạt động phát hành và phân phối trái phiếu.
    Độ sâu thị trường cải thiện nhờ thanh khoản “siêu to khổng lồ”: GTGD trung bình ngày trong năm 2020 tăng 52,3% YoY lên 7,4 nghìn tỷ đồng sau khi giao dịch ảm đạm trong năm 2019. Lãi suất huy động dần giảm xuống mức thấp kỷ lục trong năm, khiến TTCK trở nên hấp dẫn hơn. Vốn hóa thị trường đạt 231,6 tỷ USD - tương đương 67,3% GDP.
    Do:
    - Số lượng tài khoản mở mới tăng đột biến: Chỉ trong năm 2020, nhà đầu tư trong nước đã mở tới 393.659 tài khoản giao dịch chứng khoán, lập kỷ lục trong hơn 20 năm qua. Theo số liệu Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD) vừa công bố, tính đến cuối năm 2020, có hơn 2,77 triệu tài khoản giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư trong và ngoài nước. Riêng số tài khoản trong nước chiếm gần 99%, với 2,74 triệu tài khoản (2,8% dân số Việt Nam), bao gồm 2,73 triệu tài khoản của nhà đầu tư cá nhân. Nhà đầu tư nước ngoài giữ hơn 35.000 tài khoản.
    - Nhiều doanh nghiệp mới: Từ HoSE đến HNX hay UPCoM, có rất nhiều các "tân binh" xuất hiện và cơ hội kiếm lời từ các cổ phiếu này là không hề ít, thậm chí “trúng đậm” nếu vào đúng mã.
    NĐT nước ngoài bán ròng khá mạnh, ngược lại, NĐT cá nhân lại liên tục “đỡ” thị trường với những tuyên bố “cân cả lái”
    Trên thị trường niêm yết, NĐTNN đã bán ròng 807,5 triệu USD giá trị cổ phiếu, so với mức mua ròng 311 triệu USD trong năm 2019. Giao dịch của NĐTNN tăng 23% so với cùng kỳ về giá trị, nhưng giảm tỷ trọng xuống chỉ còn 11,3% tổng thị trường, giảm so với 15,7% trong năm 2018 và 14,1% vào năm 2019. Do đó, các công ty có thế mạnh về môi giới chứng khoán cho NĐTNN (SSI, HCM, VCI, v.v.) đang mất dần thị phần.
    Trong khi đó, một làn sóng lớn nhà đầu tư trong nước lần đầu tham gia vào thị trường đã khiến nhóm NĐT trong nước (chủ yếu là cá nhân) chiếm phần lớn thị trường, với tỷ trọng giá trị giao dịch tăng từ 85,9% năm 2019 lên 88,7% năm 2020. Thị phần môi giới chứng khoán chuyển dịch nhiều hơn sang các công ty tập trung vào mảng môi giới bán lẻ như VPS, VND, MBS, BSC, MAS, ... Các công ty này đưa ra mức phí hấp dẫn với lãi suất cho vay ký quỹ (margin) thấp và các sản phẩm chứng khoán có thu nhập cố định đa dạng cho khách cá nhân.
    Cho vay margin trong 9T2020 tăng 11,9% so với đầu năm lên 61,7 nghìn tỷ đồng, tương đương 1,35% tổng vốn hóa thị trường. Các CTCK nước ngoài đang chiếm thị phần nhiều hơn, mở rộng cho vay margin +22,7% so với đầu năm, trong khi các CTCK trong nước tăng 7,4% so với đầu năm. Thị phần cho vay margin của 11 CTCK nước ngoài đã tăng từ 15% năm 2017 lên 24,2% năm 2018, 29,4% năm 2019 và lên 32,5% vào tháng 9/2020. Trong khi đó, thị phần của Top 5 CTCK cho vay margin trong nước đã giảm còn 31,5% vào quý 3/2020 từ 38,6% năm 2018 và 33,2% năm 2019. Lãi suất cho vay trung bình của Top 10 CTCK năm 2020 giảm -36 điểm cơ bản trong 9T2020 so với 9T2019. Điều này là do phần lớn khoản cho vay margin là nợ vay kinh doanh của các công ty dùng cổ phiếu làm tài sản đảm bảo.

    Luận cứ 2: Triển vọng Ngành Chứng khoán - Tăng trưởng ngành 2021 ước tính: 10 - 20%
    Chính sách nới lỏng tiền tệ và kinh tế phục hồi:
    Kỳ vọng rằng các chuyến bay thương mại quốc tế sẽ dần được khởi động lại từ Q2/2021 với lượng khách quốc tế tăng theo. Ước tính tiêu dùng trong nước và đầu tư nước ngoài sẽ cải thiện vào năm 2021. Trong khi đó, ước tính NHNN sẽ tiếp tục chính sách nới lỏng thận trọng, với lãi suất thị trường sẽ duy trì gần mức đáy cho đến giữa năm, trong khi đồng USD giảm giá so với VND. Theo đó, tăng trưởng tín dụng được kỳ vọng sẽ tăng từ 13-14% YoY, cao hơn mức hơn 12% được công bố vào năm 2020.
    Thanh khoản thị trường năm 2021 sẽ tiếp tục được hỗ trợ bởi môi trường lãi suất thấp trong nửa đầu năm cùng với kinh tế phục hồi trên diện rộng trong nửa sau của năm. Trong khi các nhà đầu tư cá nhân sẽ tiếp tục là động lực chính của thị trường, các NĐT nước ngoài nhiều khả năng sẽ quay trở lại, nhờ triển vọng đồng VND tăng giá. Thêm vào đó, có thể thấy rõ, tỷ lệ sở hữu tài khoản chứng khoán ở Việt Nam vẫn còn ở mức thấp (3 triệu tài khoản). Ước tính giá trị giao dịch sẽ duy trì ở mức nửa cuối tháng 12/2020 (với GTGD TB ngày là 16,4 nghìn tỷ đồng) trong 4T2021. Tổng giá trị giao dịch cả năm 2021 ước tính tăng 47,3% YoY, với GTGD TB ngày ~ 10,9 nghìn tỷ đồng. Các CTCK sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh thu nhập phí môi giới CK và thu nhập cho vay margin.
    Dư nợ cho vay margin sẽ tiếp tục tăng trong năm 2021, do thanh khoản cải thiện và tỷ lệ thâm nhập thị trường gia tăng. Quan trọng hơn, các CTCK đang đẩy mạnh tham gia vào thị trường tín dụng, mở rộng tín dụng cho các công ty dưới hình thức trái phiếu doanh nghiệp và/hoặc cho vay margin, với các điều khoản linh hoạt hơn so với tín dụng ngân hàng. So với cho vay margin truyền thống, các CTCK còn nhiều cơ hội để mở rộng các khoản vay kinh doanh cho doanh nghiệp trên quy mô rộng hơn nhiều.
    Dịch vụ ngân hàng đầu tư ước tính tăng trưởng do triển vọng lợi nhuận chung các doanh nghiêp cải thiện trong các năm 2020 và 2021. Các hoạt động IPO và M&A sẽ tiếp tục trở lại, đặc biệt là trong nửa cuối năm 2021. Ngược lại, khối lượng phát hành trái phiếu ước tính giảm do các hạn chế từ Nghị định 81/2021 về chào bán ra công chúng. Tuy nhiên, một số ít công ty chứng khoán (TCBS, VPS, MBS, VND, v.v.) có thể tiếp tục thu phí từ việc phân phối trái phiếu doanh nghiệp có kỳ hạn dài đã phát hành trong những năm trước.
    Thu nhập tự doanh duy trì ở mức tích cực: Theo kịch bản cơ sở của chúng tôi, chúng tôi đặt mục tiêu VN Index tăng ~ 12,3% vào năm 2021 lên mức PE là 18 lần so với cuối năm 2020 là 16 lần (giả định lợi nhuận các doanh nghiệp niêm yết 2021 tăng mạnh 23 % YoY trên toàn thị trường). Giá cổ phiếu có thể được hỗ trợ thêm do các chỉ số MSCI tăng tỷ trọng của Việt Nam. Chúng tôi tin rằng có nhiều cơ hội để các CTCK tăng thu nhập tự doanh vào năm 2021. Với việc thu nhập tự doanh 2020 tăng mạnh nhờ sự phục hồi mạnh mẽ của thị trường, việc duy trì tăng trưởng vào năm 2021 sẽ là một thách thức.
    Câu chuyện tăng vốn, cổ tức: Đây là vấn đề nóng nhất vào đầu năm nay, các CTCK sẽ bùng nổ phát hành thêm tăng vốn của các doanh nghiệp niêm yết và game tăng vốn đi kèm. Nhiều bên đã lên kế hoạch tăng vốn để giải quyết bài toán về margin. Tỷ lệ phát hành rất cao thậm chí là 1:1 như VND cho thấy động lực của các bên. Hai vấn đề tồn tại, nếu không đi vay thêm được thì bắt buộc phải tăng vốn. Đi đầu trong câu chuyện này là 2 “ông lớn” VND và HCM. Và điều này có lẽ phải chờ đến hết Q2/2021. Từ chỗ chỉ có các kênh huy động vốn truyền thống là phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, chào bán cổ phiếu cho đối tác chiến lược, huy động trái phiếu… thì nay các CTCK đã có thêm một kênh mới là hợp tác với khách hàng để dùng tiền nhàn rỗi bổ sung vốn cho hoạt động kinh doanh. Điều này càng thể hiện rõ “lòng tham” của các CTCK trước tình hình hiện nay.

    Luận điểm 3: Các cổ phiếu nổi bật, “dẫn dắt” Ngành Chứng khoán
    Chuyển sang vấn đề tiếp theo của câu hỏi ban đầu, mã nào là tốt nhất Ngành Chứng khoán: SSI, VND, VCI hay HCM?
    Khi thị trường thăng hoa thì cổ phiếu nhóm chứng khoán được được đánh giá là “ngon” thấy rõ. Tuy nhiên có vẻ như thị trường đang đánh đồng hết khi nhiều mã “dởm” cũng theo đó tăng kịch trần, dựng đứng.
    Bài viết này tôi sẽ chỉ tập trung vào những mã được cho là đầu Ngành Chứng khoán, không nên mạo hiểm đối với những mã top dưới, vì bản chất Chứng khoán đã mang sẵn tính đầu cơ.

    Đầu tiên, chúng ta cần phải hiểu mô hình hoạt động kinh doanh của các CTCK.
    Thu nhập của CTCK chủ yếu đến từ hoạt động môi giới và hoạt động tự doanh, do đó, có thể nói rằng, thu nhập của CTCK phụ thuộc rất lớn vào diễn biến của TTCK. Khi TTCK tăng mạnh thì CTCK được hưởng lợi kép và ngược lại. Chính vì thế, cổ phiếu ngành chứng khoán được coi là cổ phiếu có tính chu kỳ cao. Và vì những đặc thù riêng có nên không thể áp dụng các phương pháp phân tích đánh giá BCTC như các đối tượng doanh nghiệp khác. Đối với ngành này, điều quan trọng nhất là xem xét doanh nghiệp mục tiêu có thế mạnh và chiến lược kinh doanh thuộc những mảng nào để chúng ta chú trọng vào phân tich chi tiết thế mạnh đó.

    Đối với hoạt động kinh doanh của các CTCK, tài sản tài chính thường chiếm cơ cấu tỷ trọng lớn, trong đó, tài sản tài chính ngắn hạn lại chiếm tỷ trọng cao hơn.
    Khoản mục HTM lớn (như SSI và VND) thường đi kèm với nợ vay rất lớn để phục vụ cho kinh doanh nguồn vốn, đây là các khoản gửi rất an toàn. Do đó không hẳn những CTCK có nợ vay cao hơn vốn chủ sở hữu nhiều mà có rủi ro cao hơn các công ty khác.
    => Có thể thấy:
    · CTCK phụ thuộc nhiều nhất vào HĐ môi giới - cho vay: HCM
    · CTCK phụ thuộc nhiều nhất vào HĐ tự doanh: VND.

    Nói thêm 1 chút về VND… Có vẻ như CTCK này đang chọn cho mình một lối đi riêng khi chuyển dịch dần sang mô hình quản lý tài sản, giảm phụ thuộc vào KQKD theo biến động thị trường. Mảng quản lý tài chính cá nhân này theo đó cũng đang có những ưu thế nhất định và tiềm năng phát triển của nó cũng không cần phải bàn cãi. Những việc có thể duy trì và chiếm lĩnh thị phần hay không thì vẫn là một câu chuyện chưa rõ ràng.

    Đối với hoạt động môi giới/cho vay margin:
    1.
    % thị phần của công ty
    2. Mức phí trung bình của CTCK.
    Như vậy, mặc dù, top 4 CTCK có thị phần lớn nhất đã bị thay đổi, nhưng về cơ bản biên mảng môi giới – cho vay vẫn cao hơn, an toàn hơn. (Nguyên nhân thị phần thay đổi là do VPS đã vươn lên chiếm được thị phần cao nhờ ưu đãi phí cho KH, cùng chính sách tuyển dụng “vô bờ bến” tạo nên “đội quân” môi giới khổng lồ trong giai đoạn gần đây, theo đó, Q1/2021 đã vươn lên vị trí đầu tiên). Theo đánh giá, SSI vẫn là CTCK có biên lợi nhuận mảng môi giới – cho vay cao nhất.
    Đối với hoạt động tự doanh
    Rõ ràng, khi thị trường tăng mạnh, CTCK nào có danh mục tự doanh “ngon” là “thơm”. Và hầu như, năm vừa qua, danh mục của SSI, HCM, VCI và VND đều cầm HPG, FPT, TCB, SHB, MSN. Rủi ro lớn nhất đối với CTCK thường là rủi ro đến từ danh mục tự doanh lớn (FVTPL và AFS) như SSI và VND, nên khi đầu tư cần lưu ý theo sát các cổ phiếu chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục tự doanh để tránh các rủi ro cổ phiếu giảm mạnh.
    Đối với hoạt động khác (lưu ký, Bảo lãnh phát hành, Tư vấn đầu tư, Phát hành trái phiếu…)
    Thị phần tư vấn bảo lãnh gần như chỉ tập trung ở top các CTCK có truyền thống này (SSI, HCM, VCI) bởi hệ thống phân phối đủ lớn, KH tổ chức/cá nhân nhiều, và có đội tự doanh mạnh. Nổi bật nhất là HCM có lợi thế về cơ sở KH lớn bao gồm các doanh nghiệp có nhu cầu tăng vốn, và các NĐT tổ chức và cá nhân muốn đa dạng hóa danh mục đầu tư (tận dụng từ hệ sinh thái VFFM, DC) vàVCI: Dịch vụ ngân hàng đầu tư vốn là thế mạnh lớn nhất, bị đình trệ do nhiều thương vụ M&A và tăng vốn bị hoãn do dịch Covid-19, sẽ chuyển trọng tâm sang các lĩnh vực tăng trưởng mạnh như FMCG, thay vì tập trung vào ngân hàng như trong vài năm qua. Nhìn chung, phí tư vấn từ 0.5% - 2% giá trị deal thì cũng không mang lại doanh thu quá lớn, nhưng hệ thống tư vấn nó là khép kín, mang về doanh thu chéo cho môi giới và đặc biệt là tự doanh có thể Trading ngay trong thời gian ngắn và mang lại lợi nhuận vài chục tỷ nhờ hệ thống phân phối của môi giới bán lại cho khách hàng. Do đó, các CTCK lớn có lợi nhuận chủ yếu từ tự doanh, nhưng lại là lợi ích chéo từ thị phần môi giới, các deal tư vấn, lượng khách hàng tổ chức… Trong giai đoạn thị trường ưa thích các hoạt động M&A, thoái vốn, niêm yết…thì mảng IB này của CTCK sẽ phát triển và mang lại lợi nhuận rất lớn.

    Định giá
    Do đặc thù là ngành có tính chất chu kỳ và phụ thuộc vào sự biến động của TTCK rất cao, ngoài ra đây là ngành tài chính. Chính vì thế người ta thường định giá theo phương pháp kết hợp giữa P/B và P/E. Dùng P/E để định giá mảng kinh doanh môi giới, ngân hàng đầu tư và Dùng P/B định giá cho mảng kinh doanh nguồn vốn, tự doanh, cho vay ký quỹ.
    Định giá TTCK đang không rẻ (2,4 lần PB, 18 lần PE) những cũng không đủ đắt để tạo ra bong bóng.
    · Các CTCK đang giao dịch tại PE quá khứ là 18,2 lần và PB quá khứ là 1,59 lần so với tương ứng 9,6 lần và 0,76 lần vào năm 2019. Mức đỉnh trước đó của ngành vào tháng 4/2018 là 14 lần và 1,6 lần.
    · Các công ty cùng ngành trong khu vực giao dịch ở mức PE và PB là 35,1 lần và 1,68 lần với ROE trung bình là 2,26%.
    · Triển vọng ROE lạc quan do môi trường lãi suất thấp, tỷ lệ thâm nhập thị trường ngày càng tăng và sự phát triển của thị trường nợ trong nước.
    · Mặc dù lĩnh vực này sẽ tiếp tục tăng trưởng lợi nhuận khá cho năm 2021, nhưng triển vọng tăng trưởng này dường như đã phản ánh vào giá.

    Luận điểm 4: Rủi ro đầu tư Ngành Chứng khoán
    1.
    Dự báo dựa trên giả định Covid-19 đã được kiểm soát. Bất kỳ vấn đề tiêu cực nào liên quan đến vắc xin hoặc biến thể của vi rút đều có thể gây trở ngại cho việc phục hồi.
    2. Rủi ro chính đối với ngành là tỷ suất lợi nhuận hoạt động kinh doanh cốt lõi giảm, bao gồm cả cho vay margin và môi giới chứng khoán, do áp lực cạnh tranh gay gắt giữa các CTCK (miễn phí giao dịch, CTCK phụ thuộc quá nhiều vào môi giới sẽ bị ảnh hưởng nhất định). Chúng ta có thể liên tưởng đến câu chuyện của Robinhood – một công ty môi giới chứng khoán thuần Fintech đã khiến cấu trúc Ngành Chứng khoán Mỹ bị phá vỡ. Hiệu ứng “Robinhood” đã khiến hàng loạt CTCK lớn nhỏ tại Mỹ phải đồng loạt loại bỏ phí giao dịch chứng khoán.
    3. Yếu tố vĩ mô: Lạm phát tăng, lãi suất tăng và giá cổ phiếu giảm có thể dẫn đến thanh khoản thị trường kém hơn và thu nhập giảm, người dân quay trở lại với kênh tiền gửi tiết kiệm.

    Kết luận:
    Câu chuyện dẫn dắt cho sự tăng giá cổ phiếu chứng khoán trong thời gian thời gian gần đây cũng như sắp tới.
    Khi VN-Index vượt ngưỡng 1200 thì tâm lý đầu cơ sẽ được kích hoạt, vượt được vùng kháng cự thì sẽ mở ra cơ hội tăng giá mới đối với cổ phiếu. Và khi Ngành Chứng khoán tăng thì cần có sự tăng đồng thuận của các cổ phiếu trong ngành và có sự dẫn dắt bởi các cổ phiếu đầu ngành (mặc dù các cổ phiếu chứng khoán top dưới đã cho thấy một sự tăng “nóng”, dựng đứng so với VN-Index nhưng không thể hiện hết được các câu chuyện của ngành).

    Tóm lại, cơ hội đối với Ngành Chứng khoán hiển nhiên sẽ có:
    · Cơ hội ngắn hạn: Kỳ vọng thị trường vượt 1200 và câu chuyện nghẽn lệnh của sàn Hose được giải quyết
    · Câu chuyện trung hạn: cơ hội tăng vốn (margin khi ĐHĐCĐ được thông qua) và tình trạng nghẽn lệnh không lặp lại (mất khoảng 1 quý), nên đợi thời điểm vùng trũng cuối quý 2, cơ hội để đầu tư, nắm giữ số lượng lớn với kỳ vọng lớn hơn.
    · Câu chuyện dài hạn: TTCK chắc chắn sẽ là kênh đầu tư hấp dẫn, một phần trong đó là các CTCK.

    Bài viết không tỏ ra “thiên vị” đối với bất cứ mã cổ phiếu chứng khoán nào và chỉ thể hiện quan điểm của tôi về top 4 CTCK “ngon” nhất, mỗi mã sẽ có một thế mạnh riêng và tùy theo quan điểm của mỗi người thì quyết định “gắn bó” với cổ phiếu nào sẽ thuộc về phạm trù cá nhân.
    tmhung247, A_Tun, SuSuCaRot3 người khác thích bài này.
  2. Leminhson2000

    Leminhson2000 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/10/2020
    Đã được thích:
    4.942
    Hay lắm, tình hình này chỉ có SSI, VND, VCI bổ sung thêm SHS là lồi mồm mảng tự doanh
  3. Mstock

    Mstock Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    26/10/2016
    Đã được thích:
    1.157
    Like
  4. kbtichiro

    kbtichiro Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    03/08/2019
    Đã được thích:
    239
  5. Xxtk

    Xxtk Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    24/10/2020
    Đã được thích:
    2.643
    arg thế nào chủ tốp?
  6. giacatluong1

    giacatluong1 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    12/12/2019
    Đã được thích:
    748

Chia sẻ trang này