"SONG KIẾM HỢP BÍCH " Dòng này sẽ xuất hiện Siêu CP Q2 2026 $$$$$

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi BigDady1516, 29/04/2026.

526 người đang online, trong đó có 210 thành viên. 07:12 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 12536 lượt đọc và 70 bài trả lời
  1. BigDady1516

    BigDady1516 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/01/2015
    Đã được thích:
    24.907
    Sau nghỉ lễ Giỗ tổ chúng ta lại nghỉ lễ 30/4 tiếp, thời gian nghỉ ngơi đánh giá lại liệu tháng 5 hiệu ứng có diễn ra@};-
    Cách tạo lập giữ nhịp TT, TG vượt đỉnh mọi thời đại, pha này chỉnh là cơ hội mua:-bd
    @};-
    BĐS đang đáy đi lên @};-
    Thông lệ 2025 VIN ---->>> chỉnh P PVD PVS PVT DCM DPM.. lại có nhịp :drm1@};-
    Đánh giá KQ KD Q1 2026 cùng với diễn biến giá Cao Su sắp vượt đỉnh, kế hoạch chuyển đổi diện tích Đất Cao Su đã rõ các em dòng này sẽ nhiều đột biến ! ----->>> Dễ nhiều em x2 x3 Siêu CP Q2 2026 @};- ----->>>>>>" SONG KIẾM HỢP BÍCH" Lợi nhuận 2026" dòng Cao Su KCN :drm1@};-
    GVR 33.5--->>5x-6x@};-
    DPR 41.2 --->> 7x -9x@};-
    PHR 61.4 ---->> CLB 100@};-
    NTC 141 ----->>>CLB 200@};-
    KQKD Q 1 ace tham khảo trên Media, Dòng này đang có "cú nén" rất tốt để ---->>>>>> Cất Cánh :-bd@};-
    Last edited: 29/04/2026
    Duduconxanh, Cam656, vicaren13 người khác thích bài này.
    Winwinwin2011 đã loan bài này
  2. Winwinwin2011

    Winwinwin2011 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    23/06/2023
    Đã được thích:
    3
    Quá đỉnh thứ 2 dòng cao su lại tím
    DPR 120 tỏi
    GVR 2.513 tỏi
    https://baomoi.com/tap-doan-cong-ng...2026-vuot-2-500-ty-dong-tang-85-c55052015.epi
    Last edited: 30/04/2026
    BigDady1516 thích bài này.
  3. JanisJoplin

    JanisJoplin Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    16/07/2008
    Đã được thích:
    5.690
    Tôi kết Gvr
    BigDady1516 thích bài này.
  4. BigDady1516

    BigDady1516 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/01/2015
    Đã được thích:
    24.907
  5. BigDady1516

    BigDady1516 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/01/2015
    Đã được thích:
    24.907
    Từ ngày 11 – 22/4/2026, Hiệp hội Cao su Việt Nam đã tổ chức Đoàn giao dịch thương mại tại thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc nhằm khảo sát nhu cầu, quảng bá sản phẩm và năng lực của doanh nghiệp Việt Nam, thiết lập quan hệ kinh doanh với đối tác Nhật Bản, Hàn Quốc.


    Trong khuôn khổ chương trình, ngày 13/4/2024, đoàn công tác đã tham dự buổi làm việc cùng Hiệp hội Thương mại Cao su Nhật Bản (RTAJ) và Tập đoàn JPX – đơn vị vận hành các sàn giao dịch chứng khoán Tokyo và Osaka. Các bên đã trao đổi thông tin cập nhật về xu hướng sản xuất cao su thiên nhiên của Việt Nam cũng như mô hình tiêu thụ nội địa trong các ngành công nghiệp liên quan đến cao su, bao gồm ngành lốp xe và ô tô, tại thị trường Nhật Bản.
    [​IMG]
    Quang cảnh buổi làm việc
    Tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành cao su Việt Nam gồm cao su thiên nhiên, sản phẩm cao su và gỗ cao su ước đạt 11,5 tỷ USD vào năm 2025, chiếm khoảng 2,4% tổng kim ngạch xuất khẩu các loại hàng hóa của cả nước, cho thấy vai trò quan trọng của ngành trong cơ cấu xuất khẩu. Việt Nam cũng được đánh giá cao về năng suất trên đơn vị diện tích, ước đạt năm 2025 khoảng 1.844 kg/ha, thuộc nhóm cao nhất trong các quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên lớn tại Đông Nam Á. Trong bối cảnh đó, đoàn công tác của VRA nhấn mạnh năng lực cạnh tranh và độ tin cậy của cao su Việt Nam. Việt Nam đặt mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu toàn ngành ở mức 12 tỷ USD vào năm 2026, để đạt được mục tiêu này cần sự phối hợp giữa nỗ lực của doanh nghiệp, hỗ trợ chính sách từ Chính phủ và nâng cao nhận thức về giá trị ngành cao su cả trong nước lẫn quốc tế.
    Phát biểu tại buổi làm việc, ông Hidenori Suzuki – Chủ tịch RTAJ nhận định Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên chất lượng cao hàng đầu thế giới, và các nhà sản xuất Nhật Bản đánh giá cao tính ổn định và độ tin cậy của nguồn cung từ Việt Nam. Chương trình công tác tại Nhật Bản là cơ hội quan trọng để phía Việt Nam hiểu rõ hơn về nhu cầu và kỳ vọng của các nhà sản xuất Nhật Bản, đồng thời hỗ trợ các thành viên RTAJ có hiểu rõ hơn về năng lực, thế mạnh và định hướng phát triển của ngành cao su Việt Nam. Phiên kết nối giao thương được kỳ vọng không chỉ củng cố quan hệ hợp tác hiện có mà còn mở ra những cơ hội hợp tác mới trong tương lai.
    Tại Hàn Quốc,ngày 20/4/2026, VRA phối hợp với Thương vụ Việt Nam tại Hàn Quốc phối hợp tổ chức chương trình làm việc, kết nối giao thương giữa đoàn doanh nghiệp cao su Việt Nam với các hiệp hội, nhà nhập khẩu, doanh nghiệp phân phối và đối tác tiêu thụ nguyên liệu cao su tại Hàn Quốc quan tâm tới nguồn cung cao su Việt Nam.
    Phát biểu tại chương trình, ông Phạm Khắc Tuyên, Tham tán thương mại – Thương vụ Việt Nam tại Hàn Quốc nhấn mạnh, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang được tái cấu trúc theo hướng minh bạch, ổn định và bền vững hơn, ngành cao su Việt Nam cần tiếp cận thị trường Hàn Quốc bằng cách làm bài bản hơn, không chỉ giới thiệu sản phẩm, mà phải chứng minh được năng lực đáp ứng về chủng loại, chất lượng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn kỹ thuật, thời gian giao hàng và khả năng hợp tác dài hạn. Hàn Quốc là thị trường công nghiệp phát triển, có nhu cầu đối với nguyên liệu cao su phục vụ sản xuất lốp xe, sản phẩm cao su kỹ thuật, linh kiện công nghiệp và các ngành chế biến liên quan. Tuy nhiên, đây cũng là thị trường có yêu cầu cao về tính ổn định của chất lượng, quy trình đánh giá nhà cung cấp, hồ sơ kỹ thuật và mức độ tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị chuỗi cung ứng. Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam không nên chỉ tiếp cận thị trường Hàn Quốc bằng lợi thế giá hoặc sản lượng, mà cần định vị là nguồn cung đáng tin cậy, có hồ sơ kỹ thuật rõ ràng, có khả năng cung ứng ổn định và sẵn sàng tham gia vào quy trình đánh giá nhà cung cấp của đối tác Hàn Quốc.
    [​IMG]
    Các doanh nghiệp Việt Nam giới thiệu danh mục sản phẩm xuất khẩu chủ lực gồm đa dạng cao su khối, cao su tờ và latex, đáp ứng đa dạng nhu cầu của ngành sản xuất lốp xe và cao su công nghiệp. Bên cạnh đó, là áp dụng hệ thống kiểm soát theo tiêu chuẩn ISO, hệ thống truy xuất nguồn gốc, đo lường dấu chân các-bon sản phẩm, cũng như các giải pháp sản xuất bền vững phù hợp với yêu cầu của thị trường toàn cầu. Các doanh nghiệp trong đoàn công tác cũng giới thiệu năng lực cung ứng quy mô lớn, kinh nghiệm xuất khẩu sang nhiều thị trường và định hướng mở rộng hợp tác với các nhà nhập khẩu, nhà phân phối, cũng như các doanh nghiệp sản xuất lốp xe và cao su kỹ thuật tại Hàn Quốc.
    Chương trình làm việc có ý nghĩa thiết thực trong việc kết nối chuỗi cung ứng nguyên liệu, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận sâu hơn vào các ngành công nghiệp chế biến, sản xuất lốp xe, linh kiện và sản phẩm cao su kỹ thuật tại Hàn Quốc, đồng thời là bước đi quan trọng nhằm nâng cao hình ảnh ngành cao su Việt Nam tại thị trường Hàn Quốc, mở ra cơ hội nâng cao hợp tác theo tiêu chuẩn, chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
    ducphuong thích bài này.
  6. BigDady1516

    BigDady1516 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/01/2015
    Đã được thích:
    24.907
    Lợi thế “rừng vàng, biển bạc”, Việt Nam có thể khai mở “kho báu” 40 tỷ USD cả thế giới theo đuổi

    - Thứ 5 , 30/04/2026, Với lợi thế “rừng vàng, biển bạc”, Việt Nam được đánh giá là có tiềm năng lớn với các dự án chứng chỉ carbon.
    [​IMG]
    Thị trường tín chỉ carbon đang là xu thế toàn cầu, được ví như một "tài sản xanh" đầy tiềm năng trong nỗ lực chuyển đổi xanh và đạt mục tiêu trung hòa carbon (Net Zero) vào năm 2050 mà cả thế giới theo đuổi, trong đó có Việt Nam. Tại thị trường này, các quốc gia có dư thừa quyền phát thải được bán cho hoặc mua từ các quốc gia phát thải nhiều hơn hoặc ít hơn mục tiêu cam kết.
    Thực tế cho thấy, thị trường carbon tự nguyện toàn cầu đã tăng trưởng ổn định suốt hai thập kỉ qua. Theo báo cáo mới đây của Chứng khoán SHS, dự báo đến năm 2030, quy mô thị trường có thể đạt từ 10 đến 40 tỷ USD.
    [​IMG]

    Việc thiết lập và vận hành thị trường carbon, cả tuân thủ và tự nguyện, là chiến lược quan trọng giúp Việt Nam hiện thực hóa cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Trước khi thị trường bắt buộc trong nước triển khai, rất nhiều dự án tín chỉ carbon của Việt Nam đã được niêm yết và giao dịch trên các cơ chế tự nguyện toàn cầu.

    Việc thiết lập và vận hành thị trường carbon, cả tuân thủ và tự nguyện, là chiến lược quan trọng giúp Việt Nam hiện thực hóa cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Trước khi thị trường bắt buộc trong nước triển khai, rất nhiều dự án tín chỉ carbon của Việt Nam đã được niêm yết và giao dịch trên các cơ chế tự nguyện toàn cầu.
    Thị trường tín chỉ carbon toàn cầu hiện nay là một hệ sinh thái phức tạp, nơi các quốc gia đảm nhận những vai trò khác nhau trong chuỗi giá trị tín chỉ carbon. Việc xác định các quốc gia dẫn đầu không thể chỉ dựa trên một tiêu chí duy nhất, mà cần nhìn nhận từ nhiều góc độ bao gồm quy mô phát hành tín chỉ, khối lượng tiêu thụ, độ trưởng thành của cơ chế pháp lý và vai trò trong hợp tác quốc tế theo Điều 6 Hiệp định Paris.
    Lợi thế "rừng vàng, biển bạc"
    Thị trường carbon tại Đông Nam Á đang ở giai đoạn hình thành và phát triển không đồng đều giữa các quốc gia. Một số nước như Indonesia đã triển khai hệ thống giao dịch phát thải, Singapore áp dụng thuế carbon và thúc đẩy thị trường tự nguyện, trong khi Việt Nam, Malaysia và Thái Lan đang xây dựng khung pháp lý cho cơ chế giao dịch nội địa.
    Dù còn phân mảnh về chính sách và tiêu chuẩn, khu vực này sở hữu tiềm năng rất lớn nhờ nguồn năng lượng tái tạo dồi dào và hệ sinh thái hấp thụ carbon tự nhiên phong phú. Đến giai đoạn 2030–2050, ASEAN đặt mục tiêu mở rộng tỷ trọng năng lượng tái tạo, từng bước hài hòa hóa cơ chế định giá carbon theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris và phát triển thị trường carbon chất lượng cao.
    [​IMG]

    Theo SHS, nếu được triển khai hiệu quả, thị trường carbon có thể trở thành nguồn huy động tài chính khí hậu quan trọng, nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu và đóng góp đáng kể vào mục tiêu trung hòa phát thải của khu vực vào giữa thế kỷ.
    3 lĩnh vực đóng góp phát thải lớn nhất khu vực (~65%) là Nông nghiệp & Sử dụng đất (AFOLU), Năng lượng điện và Giao thông vận tải. Riêng Việt Nam có tỷ trọng phát thải đáng kể từ lĩnh vực năng lượng và công nghiệp, trong khi phát thải từ sử dụng đất và nông nghiệp vẫn chiếm vai trò quan trọng.


    SHS đánh giá, điều này cho thấy Việt Nam vừa chịu áp lực chuyển dịch năng lượng, vừa có cơ hội lớn từ phát triển năng lượng tái tạo, tín chỉ carbon rừng và nông nghiệp bền vững nếu tận dụng tốt quá trình chuyển đổi xanh.
    Với sự đa dạng sinh học phong phú và nguồn tài nguyên biển và đất liền rộng lớn, Đông Nam Á có thể tận dụng nhu cầu quốc tế đang tăng lên bằng cách đóng góp các khoản tín dụng trồng rừng và tránh phá rừng cho giao dịch carbon quốc tế và củng cố vai trò là nhà cung cấp tín dụng carbon dài hạn.
    Dẫn đầu bởi Indonesia (749,4 triệu tấn CO2e), 9 thị trường Đông Nam Á cùng nhau có tiềm năng tạo ra 1.267,5 triệu tín dụng carbon từ tài nguyên biển và đất liền của mình vào năm 2050. Việt Nam dự kiến tạo ra 103 triệu tín dụng carbon vào năm 2050.
    [​IMG]

    SHS cho rằng, với lợi thế “rừng vàng, biển bạc”, Việt Nam được đánh giá là có tiềm năng lớn với các dự án chứng chỉ carbon. Theo số liệu trong báo cáo Trung tâm con người và thiên nhiên (PanNature) số tháng 3/2023, tính đến tháng 11/2022, có tổng cộng 276 dự án CDM (Cơ chế phát triển sạch - Clean Development Mechanism - CDM) và gần 29,4 triệu tín chỉ carbon đã được ban hành từ các dự án tín chỉ carbon được phát triển theo cơ chế CDM tại Việt Nam. Ngoài CDM, Việt Nam cũng phát triển các dự án tín chỉ carbon theo các tiêu chuẩn quốc tế độc lập.
    Thí điểm sàn giao dịch carbon trong nước
    Việt Nam đang bước vào giai đoạn bản lề trong quá trình hình thành và phát triển thị trường carbon. Hàng loạt dấu mốc chính sách quan trọng đã được thiết lập, từ Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi đến Nghị định 06/2022/NĐ-CP và mới nhất là Nghị định 119/2025/NĐ-CP ban hành tháng 6/2025.
    Những văn bản này thể hiện cam kết chính thức của Chính phủ trong việc xây dựng thị trường carbon quốc gia, phù hợp với mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 cũng như các nghĩa vụ quốc tế theo Hiệp định Paris.
    Trong những năm qua, Việt Nam đã từng bước tiến tới việc thiết lập một thị trường carbon nội địa hoạt động hiệu quả, với các chính sách chuyển từ chiến lược khí hậu và tăng trưởng xanh tổng quát sang khung pháp lý chi tiết và các biện pháp thực hiện ở cấp ngành. Các chỉ thị và chiến lược ban đầu đã vạch ra tham vọng giảm phát thải carbon quốc gia, trong khi các luật và nghị định sau đó đã tạo nền tảng pháp lý cho các cơ chế thị trường.
    Các văn bản gần đây tập trung hơn vào sự sẵn sàng hoạt động, làm rõ vai trò của các cơ quan chính phủ,thiết lập các quy tắc đo lường và kiểm chứng cho các ngành trên đất liền, và thiết kế...
    [​IMG]

    Thị trường carbon Việt Nam được triển khai theo 3 giai đoạn 2023–2025: Chuẩn bị nền tảng – xây dựng cơ sở dữ liệu phát thải, hoàn thiện khung pháp lý và thử nghiệm trao đổi tín chỉ tự nguyện. 2025–2027: Thí điểm Hệ thống giao dịch phát thải (ETS), một số ngành được phân bổ hạn ngạch và tham gia giao dịch thử nghiệm. Từ 2028: Vận hành chính thức trên toàn quốc, với nghĩa vụ bắt buộc đối với các ngành phát thải cao.
    ducphuong thích bài này.
  7. BigDady1516

    BigDady1516 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/01/2015
    Đã được thích:
    24.907
    Thủ tướng Nhật Bản thăm Việt Nam: Mở ra không gian hợp tác Việt - Nhật

    • Thứ năm, 30/4/2026 07:34 (GMT+7)

    Chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản sẽ góp phần làm sâu sắc và xác định những trụ cột mới, quan trọng trong quan hệ Việt Nam-Nhật Bản.
    [​IMG]
    Kiểm tra sản phẩm tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sankoh Việt Nam (Nhật Bản). Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN.
    Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae thăm chính thức Việt Nam từ ngày 1 đến 3/5/2026.
    Chuyến thăm đánh dấu việc Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực mà Thủ tướng Takaichi Sanae đi thăm sau khi được bầu lại làm Thủ tướng Nhật Bản tháng 2/2026 vừa qua, cho thấy sự coi trọng cao độ của Nhật Bản đối với quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam-Nhật Bản khi cả hai nước đang cùng bước vào giai đoạn phát triển mới.
    Chuyến thăm góp phần làm sâu sắc và xác định những trụ cột mới, quan trọng trong quan hệ Việt Nam-Nhật Bản, tạo ra không gian hợp tác mới, đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân hai nước.
    Hơn 5 thập kỷ gắn bó, tin cậy


    Việt Nam và Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21/9/1973. Trải qua hơn 50 năm vun đắp và xây dựng, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản không ngừng được củng cố và phát triển toàn diện trên mọi lĩnh vực, trở thành một điểm sáng trong việc triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
    Hai nước duy trì thường xuyên các cuộc tiếp xúc, giao lưu các cấp với sự tin cậy chính trị cao. Nổi bật gần đây là: Thủ tướng Phạm Minh Chính thăm chính thức Nhật Bản (tháng 11/2021), dự Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nước công nghiệp phát triển (G7) mở rộng và làm việc tại Nhật Bản (tháng 5/2023); Thủ tướng Phạm Minh Chính tham dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm 50 năm quan hệ ASEAN-Nhật Bản và tiến hành các hoạt động song phương tại Nhật Bản (tháng 12/2023); Tổng Bí thư, ************* Tô Lâm hội đàm trực tuyến cấp cao với Chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do, Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio (ngày 3/9/2024); Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn thăm chính thức Nhật Bản (tháng 12/2024); Thủ tướng Lê Minh Hưng tham dự Hội nghị thượng đỉnh trực tuyến Cộng đồng phát thải ròng bằng 0 khu vực châu Á (AZEC) mở rộng về tự chủ năng lượng do Thủ tướng Takaichi chủ trì (ngày 15/4/2026)...
    Phía Nhật Bản gần đây có các chuyến thăm chính thức Việt Nam của: Thủ tướng Suga Yoshihide (tháng 10/2020); Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio (tháng 4/2022); Chủ tịch Thượng viện Nhật Bản Otsuji Hidehisa (tháng 9/2023); Hoàng Thái tử Akishino và Công nương Kiko thăm và dự Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Nhật Bản (tháng 9/2023); Thủ tướng Ishiba Shigeru (tháng 4/2025); Thủ tướng Takaichi Sanae, Chủ tịch đảng LDP, điện đàm với Tổng Bí thư, ************* Tô Lâm (ngày 13/4/2026).​

    Sau hơn 5 thập kỷ, quan hệ hai nước có nền tảng tốt đẹp và nhiều lợi ích chung, đạt đồng thuận cao và sự ủng hộ trong nội bộ Nhật Bản và các chính đảng lớn.
    Khuôn khổ quan hệ giữa hai nước đã liên tục được nâng cấp, từ "Đối tác tin cậy, ổn định lâu dài" (năm 2002) lên "Quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á" (năm 2009), "Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á"(năm 2014), "Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới"(tháng 11/2023).
    Việc nâng cấp quan hệ thành "Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới" đã phản ánh mức độ tin cậy chính trị cao và sự chín muồi của quan hệ Việt Nam-Nhật Bản, mở ra thời kỳ hợp tác phát triển mới thực chất và hiệu quả hơn nữa trên mọi lĩnh vực, đáp ứng mong muốn, nhu cầu và lợi ích của nhân dân hai nước, góp phần vào hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng tại khu vực và trên thế giới.
    Bà Takaichi Sanae là lãnh đạo nước ngoài đầu tiên điện đàm chúc mừng sau khi Tổng Bí thư Tô Lâm được bầu làm *************.
    Ngoài các hoạt động trao đổi đoàn cấp cao, hai nước hiện cũng đang duy trì hiệu quả các cơ chế đối thoại, như: Ủy ban Hợp tác Việt Nam-Nhật Bản do hai Bộ trưởng Ngoại giao làm đồng Chủ tịch (từ năm 2007, đã họp 12 lần); Ủy ban hỗn hợp về thương mại, năng lượng và công nghiệp (từ năm 2015); Sáng kiến chung Việt Nam-Nhật Bản; Đối thoại Nông nghiệp cấp Bộ trưởng (từ năm 2014); Đối thoại Đối tác chiến lược Việt Nam-Nhật Bản về ngoại giao-an ninh-quốc phòng cấp Thứ trưởng ngoại giao (từ năm 2010, đã họp 8 lần), sau được nâng cấp lên Đối thoại 2+2 cấp Thứ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng (từ tháng 12/2025); Đối thoại Chính sách quốc phòng Việt Nam-Nhật Bản cấp Thứ trưởng (từ năm 2012); Đối thoại An ninh cấp Thứ trưởng (từ năm 2013); Đối thoại về an ninh biển.
    [​IMG]
    Chiều 13/4/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, ************* Tô Lâm điện đàm với bà Takaichi Sanae, Chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản (LDP), Thủ tướng Nhật Bản. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN.
    Cùng với đó, hai bên hợp tác chặt chẽ và hiệu quả tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, như Liên hợp quốc, các hội nghị ASEAN+, APEC, ASEM… đóng góp ngày càng tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, phù hợp với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và có hiệu quả của Đảng và Nhà nước ta.
    Việt Nam-Nhật Bản: Đối tác quan trọng hàng đầu của nhau


    Quan hệ kinh tế-thương mại song phương Việt Nam-Nhật Bản được xây dựng trên nền tảng là các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương mà hai nước đã ký kết, cũng như thông qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản tại Việt Nam.
    [​IMG]
    Dây chuyền sản xuất bảng mạch in dùng cho các thiết bị điện tử ở nhà máy của Công ty trách nhiệm hữu hạn Mektec Manufacturing Việt Nam (100% vốn Nhật Bản) tại khu công nghiệp Thăng Long II, phường Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
    Nhật Bản hiện là nước tài trợ ODA và là đối tác hợp tác lao động lớn nhất, là nhà đầu tư số 3, đối tác du lịch và thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam. Kim ngạch thương mại song phương luôn tăng trưởng ổn định, cân bằng, đạt khoảng 52 tỷ USD năm 2025, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2024. Riêng trong tháng 1/2026, kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 4,87 tỷ USD, tăng 27,7% so với cùng kỳ năm 2025.
    Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Nhật Bản gồm: thủy sản, quần áo, giày dép, thiết bị điện/cơ khí, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa…; và các mặt hàng Việt Nam chủ yếu nhập khẩu từ Nhật Bản gồm: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, sản phẩm điện tử và linh kiện, sắt thép, linh kiện ô tô, hóa chất…
    Về đầu tư trực tiếp (FDI), tính lũy kế đến hết tháng 1/2026, Nhật Bản có 5.722 dự án đầu tư có hiệu lực tại Việt Nam với tổng mức đầu tư đạt 78,9 tỷ USD, đứng thứ 3/153 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam (sau Hàn Quốc, Singapore).
    Đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam tập trung vào lĩnh vực công nghệ chế biến chế tạo (61%), sản xuất phân phối điện (15%), kinh doanh bất động sản (12%), tập trung ở 33/34 tỉnh thành, theo thứ tự đầu tư nhiều nhất là Thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai…
    Ở chiều ngược lại, Việt Nam có 132 dự án đầu tư sang Nhật Bản với tổng vốn đăng ký đạt 47,2 triệu USD, chiếm 0,2% tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài lũy kế của Việt Nam, đứng thứ 33/85 quốc gia và vùng lãnh thổ mà Việt Nam đầu tư ra nước ngoài. Các dự án của Việt Nam chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, sản xuất và phân phối điện, khí, nước, điều hòa, bất động sản…
    Nhật Bản còn là nước cung cấp viện trợ phát triển chính thức (ODA) lớn nhất cho Việt Nam với tổng giá trị vay tính đến hết năm tài khóa 2025 là khoảng 2.550 tỷ yen (tương đương hơn 23 tỷ USD), chiếm hơn 26% tổng vốn ký kết vay nước ngoài của Chính phủ.
    ODA của Nhật Bản cho Việt Nam tập trung vào các lĩnh vực: thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế; cải thiện về mặt xã hội và rút ngắn chênh lệch phát triển; bảo vệ môi trường ứng phó biến đổi khí hậu; nâng cao năng lực quản lý hành chính.
    Ngoài hợp tác kinh tế-thương mại, hai nước cũng hợp tác hiệu quả trong nhiều lĩnh vực khác như văn hóa, giáo dục-đào tạo, y tế, du lịch, hợp tác giữa các địa phương, lao động…
    Việt Nam là quốc gia phái cử nhiều nhất trong tổng số 15 quốc gia tham gia phái cử lao động sang Nhật Bản (khoảng 310.000 người, đứng thứ nhất).
    Chỉ tính trong 3 tháng đầu năm 2026, đã có khoảng 14.000 người Việt sang Nhật Bản làm việc, duy trì vị thế dẫn đầu trong các quốc gia có lao động tại Nhật.
    Trong hợp tác giáo dục-đào tạo, Việt Nam là nước đầu tiên trên thế giới chính thức đưa tiếng Nhật vào giảng dạy ở bậc trung học cơ sở từ năm 2003, tiểu học từ năm 2019. Nhật Bản là một trong những nước viện trợ lớn nhất cho ngành giáo dục-đào tạo của Việt Nam thông qua các chương trình viện trợ ODA. Số lưu học sinh Việt Nam tại Nhật Bản hiện đạt hơn 51.000 người.
    Nhật Bản đã hỗ trợ nâng cấp 4 trường đại học của Việt Nam đạt đại học chất lượng cao, gồm Đại học Cần Thơ, Đại học Đà Nẵng, Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
    Về du lịch, năm 2025, khách Nhật Bản đến Việt Nam đạt hơn 810.000 lượt, khách Việt Nam đến Nhật Bản đạt khoảng 680.000 lượt người.
    Về giao lưu văn hóa, các lễ hội thường niên như Lễ hội Việt Nam tại Nhật Bản, Lễ hội Nhật Bản tại Việt Nam và Lễ hội Hoa anh đào Nhật Bản tại Việt Nam… luôn được đông đảo nhân dân hai nước đón nhận.
    Hợp tác địa phương hai nước được thúc đẩy mạnh mẽ, địa phương của Việt Nam và Nhật Bản đã ký hơn 110 văn bản hợp tác, trong đó các cặp quan hệ tiêu biểu có Thành phố Hồ Chí Minh với Osaka (2007), Nagano (2017); Hà Nội với Fukuoka (2008), Tokyo (2013); Đà Nẵng với Sakai (2009), Yokohama (2013); Phú Thọ-Nara (2014), Huế-Kyoto (2014); Hưng Yên-Kanagawa (2015), Hải Phòng-Niigata (2015)...
    [​IMG]
    Các đại biểu cắt băng khai mạc Lễ hội Việt Nam 2025 tại Nhật Bản. (Ảnh: Xuân Giao/TTXVN)
    Cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản đã vượt hơn 680.000 người, là cộng đồng lớn thứ 2 tại Nhật Bản, sau Trung Quốc. Người Việt Nam sinh sống, làm việc và học tập trên khắp 47 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của Nhật Bản, trong đó chủ yếu tập trung tại tỉnh Aichi, Tokyo, Osaka, Saitama, Chiba, khu vực Kyushu… Đây là nền tảng vững bền cho quan hệ Việt Nam-Nhật Bản, góp phần làm cho hai dân tộc ngày càng xích lại gần nhau hơn.
    Thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác tiềm năng giữa hai nước


    Trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae từ ngày 1 đến 3/5/2026 có ý nghĩa đặc biệt, khẳng định quyết tâm của hai nước cùng đồng hành vì hòa bình, ổn định và phát triển, nhất là sau khi Việt Nam đã tổ chức thành công Đại hội Đảng XIV và đảng Dân chủ Tự do (LDP) cầm quyền giành thắng lợi quan trọng trong cuộc bầu cử Hạ viện Nhật Bản hồi tháng 2/2026 vừa qua. Hai nước đang triển khai nhiều quyết sách lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của hai nước trong nhiều năm tới.
    Theo Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu, việc Thủ tướng Takaichi chọn Việt Nam là quốc gia đầu tiên để đi thăm trong khu vực sau khi bà được bầu lại làm Thủ tướng Nhật Bản vào tháng 2/2026 vừa qua cho thấy Việt Nam giữ vị trí hết sức quan trọng trong chính sách khu vực của Nhật Bản.
    Đây sẽ là dịp để hai bên tiếp tục củng cố tin cậy chính trị, tăng cường trao đổi chiến lược ở cấp cao, đồng thời tạo thêm động lực mới cho hợp tác song phương ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả.
    Đại sứ Phạm Quang Hiệu cho biết dự kiến trong khuôn khổ chuyến thăm, hai bên sẽ tập trung trao đổi về những lĩnh vực phù hợp với ưu tiên và phát triển thế mạnh bổ sung cho nhau của cả Việt Nam và Nhật Bản trên những lĩnh vực thiết yếu hiện nay, trước hết là kinh tế, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, bảo đảm chuỗi an ninh năng lượng, lương thực, hợp tác sản xuất bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi xanh, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, du lịch, hợp tác địa phương, giao lưu văn hóa, giao lưu nhân dân cũng như phối hợp chặt chẽ hơn trong các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm.
    Cùng với hợp tác khoa học công nghệ, hợp tác năng lượng, nông nghiệp thông minh và công nghệ cao, cơ sở hạ tầng và tăng cường chuỗi cung ứng nâng cao sức chống chịu cũng là những nội dung được hai bên quan tâm.
    Chuyến thăm lần này góp phần làm sâu sắc và xác định những trụ cột mới, quan trọng trong quan hệ, góp phần tạo ra không gian hợp tác mới, đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân hai nước.
    Trong khi đó, Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Ito Naok cho biết điểm nhấn của chuyến thăm lần này là sự kiện Thủ tướng Takaichi phát biểu chính sách tại Đại học Quốc gia Hà Nội về chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và rộng mở (FOIP). Đây là lần đầu tiên một Thủ tướng Nhật Bản phát biểu về chính sách tại Việt Nam kể từ năm 2020.
    Việc chọn Hà Nội và Đại học Quốc gia Hà Nội để phát biểu mang ý nghĩa to lớn, thể hiện sự công nhận của Nhật Bản đối với vai trò trung tâm của ASEAN, vị trí quan trọng của Việt Nam trong khu vực, và những cải cách mạnh mẽ mà Việt Nam đang thực hiện.
    Về triển vọng hợp tác giữa hai nước thời gian tới, Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu cho biết hợp tác khoa học-công nghệ như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo, an ninh năng lượng và củng cố chuỗi cung ứng... đang nổi lên như những điểm sáng với tiềm năng rất lớn, đồng thời đang mở ra những triển vọng hết sức tích cực cho hai nước.
    Nhật Bản có thế mạnh vượt trội về công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch, tài chính xanh... và đang phải giải quyết bài toán thiếu hụt lực lượng lao động; trong khi Việt Nam có môi trường kinh tế năng động, nguồn nhân lực trẻ ngày càng được đào tạo bài bản và rất nhiều người được coi là có trình độ cao, tinh thần đổi mới sáng tạo mạnh mẽ với tinh thần khát vọng vươn lên.
    Theo Đại sứ, chính sự bổ sung cho nhau ấy tạo nên nền tảng rất thuận lợi để hai bên mở rộng hợp tác trong thời gian tới. Hai nước có thể đẩy mạnh hợp tác theo một số hướng lớn, bao gồm: thúc đẩy chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhất là nguồn nhân lực trẻ, ham học hỏi, sẵn sàng đổi mới của Việt Nam; tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cùng tham gia các dự án nghiên cứu khoa học chung giữa hai nước, trong đó đội ngũ kỹ sư người Việt Nam trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, chuyên gia bán dẫn và các ngành công nghiệp khác đang hoạt động rất tích cực tại Nhật Bản; mở rộng hợp tác trong các dự án xanh, chuyển đổi năng lượng, hạ tầng số và tài chính bền vững.​
    ducphuong thích bài này.
  8. hoangkc

    hoangkc Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/08/2018
    Đã được thích:
    419
    Chỉ mong ông Vin chỉnh để tt có ăn
    BigDady1516 thích bài này.
  9. Suongkhongxuat

    Suongkhongxuat Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    15/03/2017
    Đã được thích:
    4.051
    BSR_ LN Q1.2026 8260 nghìn tỉ > LN của VIC...Kinh khủng thật..gấp hơn 20 lần cùng kỳ 2025
    BigDady1516 thích bài này.
  10. BigDady1516

    BigDady1516 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    11/01/2015
    Đã được thích:
    24.907
    Tập đoàn Cao su (GVR) có gần 26.000 tỷ tiền nhàn rỗi
    20:28 | 29/04/2026
    Chia sẻ

    Kết thúc quý đầu năm, Tập đoàn Cao su ghi nhận doanh thu thuần tăng 56% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế đạt 2.513 tỷ đồng, tăng 85% so với quý I/2025.
    Theo báo cáo tài chính quý I/2026, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (mã: GVR) ghi nhận doanh thu thuần gần 8.845 tỷ đồng, tăng 56% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận gộp đạt 2.337 tỷ đồng, tăng 43%, tương ứng biên lợi nhuận gộp hơn 26%. Doanh thu từ sản xuất, kinh doanh mủ cao su đạt khoảng 7.408 tỷ đồng, chiếm 84% tổng doanh thu.
    Lợi nhuận sau thuế đạt 2.513 tỷ đồng, tăng 85% so với quý I/2025 và tương đương 45% kế hoạch lợi nhuận năm.Doanh nghiệp cho biết lợi nhuận sau thuế tăng chủ yếu do giá bán mủ cao su cao hơn so với cùng kỳ năm trước, qua đó cải thiện hiệu quả hoạt động của mảng này.
    [​IMG]
    Nguồn: TL tổng hợp từ BCTC của doanh nghiệp.

    Tính đến cuối quý I, tổng tài sản đạt 87.179 tỷ đồng, tăng nhẹ so với đầu năm. Trong đó, tiền và các khoản tương đương tiền gần 26.779 tỷ đồng, tăng 12%, chủ yếu là tiền gửi ngân hàng (25.790 tỷ đồng), các khoản cho vay (khoảng 771 tỷ đồng), còn lại là trái phiếu và các khoản lãi phải thu.
    Danh mục đầu tư bất động sản cho thuê ghi nhận 2.485 tỷ đồng, gồm 38 tỷ đồng quyền sử dụng đất và hơn 2.447 tỷ đồng giá trị hạ tầng. Hàng tồn kho ở mức 2.883 tỷ đồng, tài sản cố định đạt 3.244 tỷ đồng, các khoản phải thu ngắn hạn là 2.624 tỷ đồng, cùng các khoản mục khác.
    Về cơ cấu nguồn vốn, vốn chủ sở hữu đạt 10.331 tỷ đồng, trong đó vốn góp 2.245 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 7.369 tỷ đồng. Tổng dư nợ vay tài chính (bao gồm ngắn hạn và dài hạn) khoảng 2.635 tỷ đồng, giảm 11% so với đầu năm.
    Trên thị trường chứng khoán, kết phiên 29/4, cổ phiếu GVR dừng ở mức 33.700 đồng/cp, tương ứng vốn hóa khoảng 134.800 tỷ đồng.
    ducphuongBahung2017 thích bài này.

Chia sẻ trang này