Sóng ngân hàng đang hình thành:TCB thưởng 60% cp , 7% tiền tăng vốn lên 113.738tỷ lớn nhất hệ thống

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi SuSuCaRot, 24/04/2026 lúc 18:28.

823 người đang online, trong đó có 329 thành viên. 22:42 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 6634 lượt đọc và 31 bài trả lời
  1. SuSuCaRot

    SuSuCaRot Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    06/11/2013
    Đã được thích:
    133.787
    Có vẽ như các anh đang setup lại nghị định 79 nhất là nhóm bank sau 3 tháng tích luỹ!
    Nghị quyết 79-NQ/TW: Mở không gian cho ngân hàng thương mại Nhà nước vươn tầm
    07:15 | 29/04/2026 NGÂN HÀNG
    aa
    [​IMG]
    Võ Giang

    toasoan@thoibaonganhang.vn

    Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 79-NQ/TW (Nghị quyết số 79) ngày 6/1/2026 về phát triển kinh tế nhà nước được xem là một “cú hích thể chế” quan trọng, mở ra không gian phát triển mới cho khu vực DNNN, đặc biệt là hệ thống ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN). Không chỉ tái khẳng định vai trò then chốt của các ngân hàng này trong ổn định hệ thống tài chính, điều tiết thị trường tiền tệ và cung ứng nguồn vốn chủ lực cho nền kinh tế, Nghị quyết còn đặt nền tảng để NHTMNN nâng cao năng lực quản trị, thúc đẩy đổi mới công nghệ, đồng thời từng bước nâng tầm cạnh tranh trên thị trường tài chính khu vực.
    Sứ mệnh kép của “người giữ nhịp” nền kinh tế

    Nhìn vào cấu trúc nền kinh tế Việt Nam, GS.TS. Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội nhấn mạnh rằng, khu vực kinh tế nhà nước vừa dẫn dắt các khu vực kinh tế khác phát triển, vừa là công cụ quan trọng để nhà nước điều hành và ổn định kinh tế vĩ mô. Trong đó, hệ thống ngân hàng, đặc biệt là các NHTMNN, đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Vai trò này không chỉ mang tính truyền thống, mà ngày càng được củng cố trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập sâu rộng và đối mặt với nhiều biến động khó lường.

    Vai trò này thể hiện rõ trên hai phương diện. Trước hết, thông qua NHNN và hệ thống các NHTM, nhà nước có thể điều hành chính sách tiền tệ, quản lý tỷ giá và kiểm soát lạm phát – những trụ cột của ổn định kinh tế vĩ mô. Tỷ giá, trong bối cảnh hội nhập, không chỉ là biến số kỹ thuật mà còn là “la bàn” định hướng niềm tin thị trường. Thông qua hệ thống ngân hàng quy mô lớn, nhà nước có thể điều tiết cung – cầu tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền và kiểm soát lạm phát một cách linh hoạt.

    Song song với đó, hệ thống ngân hàng còn là kênh dẫn vốn chủ đạo cho nền kinh tế. Trong điều kiện thị trường vốn chưa phát triển hoàn toàn đồng bộ, tín dụng ngân hàng vẫn là “mạch máu” rất quan trọng nuôi dưỡng tăng trưởng. Thông qua chính sách tín dụng, nhà nước có thể định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, các ngành mang tính chiến lược, qua đó hiện thực hóa các mục tiêu phát triển dài hạn. Chính ở điểm giao thoa này, ngân hàng không chỉ là trung gian tài chính, mà còn là công cụ điều tiết và kiến tạo phát triển.

    Từ nền tảng đó, Nghị quyết số 79 đã đặt ra một mục tiêu đầy tham vọng nhưng có tính định hướng rõ ràng: đến năm 2030, Việt Nam phải có ít nhất 3 NHTMNN lọt vào nhóm 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản. Đây không chỉ là mục tiêu về quy mô, mà còn là thước đo năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia trên bản đồ tài chính khu vực.

    Đặt trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới với mục tiêu tăng trưởng GDP đạt 2 con số trong giai đoạn tới, vai trò của NHTMNN – trụ cột ổn định vĩ mô và dẫn dắt dòng vốn – càng trở nên then chốt. Nghị quyết số 79, vì thế, không chỉ “mở đường” về cơ chế, mà còn đặt ra yêu cầu tái cấu trúc chiến lược cốt lõi để các NHTMNN thực sự trở thành những định chế tài chính mạnh theo chuẩn khu vực.

    Thực tế giai đoạn 2021 - 2025 cho thấy nền tảng này dựa trên cơ sở vững chắc. Nhóm “Big 4” NHTMNN đã ghi nhận bước tăng trưởng mạnh mẽ về quy mô, với 3 ngân hàng vượt mốc 100 tỷ USD tổng tài sản. Tuy nhiên, như nhiều chuyên gia nhận định, mốc này mới chỉ là “tấm vé vào sân chơi”, khi ngưỡng Top 100 châu Á, con số này hiện dao động từ 150 - 200 tỷ USD và có thể tăng lên 250 - 300 tỷ USD vào năm 2030. Điều đó đồng nghĩa, NHTMNN phải tăng quy mô gấp 2 - 2,5 lần trong vòng chưa đầy một thập kỷ, trong khi vẫn đảm bảo các chuẩn mực an toàn vốn và hiệu quả hoạt động. Nói cách khác, đây không chỉ là câu chuyện “lớn lên” về quy mô, mà còn là bài toán tổng thể về chất lượng tăng trưởng, năng lực quản trị và khả năng thích ứng trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt từ các định chế tài chính hàng đầu khu vực.

    [​IMG]

    Để lớn hơn, mạnh hơn và bền vững hơn

    Nếu quy mô là điều kiện cần, thì chất lượng và tính bền vững chính là điều kiện đủ. PGS.TS. Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh phân tích, trong bối cảnh tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đã lên tới 146% và có thể chạm 180 - 185% vào năm 2030, nếu không chuyển hướng sang tăng trưởng chiều sâu, hệ thống ngân hàng sẽ đối mặt với rủi ro mất cân đối nghiêm trọng. Do đó, chiến lược cốt lõi của NHTMNN thời gian tới không thể tách rời: Dịch chuyển dòng vốn sang các lĩnh vực sản xuất, công nghệ, đổi mới sáng tạo; Phát triển tài chính xanh, tài chính bền vững; Phối hợp với phát triển thị trường vốn để giảm gánh nặng cho tín dụng ngân hàng, Nghị quyết số 79 đã tạo ra hành lang thể chế quan trọng để NHTMNN bứt phá về vốn, quy mô và năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, để thực sự lọt Top 100 châu Á, các ngân hàng không chỉ cần lớn hơn, mà phải mạnh hơn, hiệu quả hơn và bền vững hơn. Nếu tận dụng tốt cơ chế tăng vốn, đẩy mạnh quản trị hiện đại, chuyển đổi số và tái định vị vai trò trong hệ thống tài chính, NHTMNN hoàn toàn có cơ sở để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 – không chỉ là Top 100 về quy mô, mà còn tiệm cận chuẩn mực ngân hàng khu vực và quốc tế.

    Thực tiễn cho thấy, các NHTMNN đã thực sự “chuyển mình” vì những trọng trách lớn. Theo ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch HĐQT Vietcombank, thực hiện nghị quyết số 79 phải là quá trình nâng tầm toàn diện về năng lực tài chính, chất lượng tăng trưởng, chuẩn mực quản trị và vị thế khu vực. Ngân hàng định hướng tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt thị trường, điều hành tín dụng theo chu kỳ kinh tế, đồng thời ưu tiên vốn cho các lĩnh vực then chốt như hạ tầng chiến lược, chuyển đổi năng lượng và kinh tế số.

    Song song với đó là chiến lược củng cố nền tảng tài chính thông qua tăng vốn từ cả nguồn nội sinh và bên ngoài, coi vốn là “trụ đỡ” cho năng lực ổn định thị trường và đáp ứng các chuẩn mực an toàn ngày càng cao. Đáng chú ý, Vietcombank đang nỗ lực đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị rủi ro và điều hành theo thời gian thực, từng bước hình thành lợi thế cạnh tranh dựa trên năng lực công nghệ và dữ liệu. Cùng với đó là đổi mới cơ chế nhân sự, tạo động lực phát triển dài hạn – yếu tố thường được coi là “điểm nghẽn mềm” trong các tổ chức lớn.

    Ở một cấp độ rộng hơn, Nghị quyết số 79-NQ/TW xác định kinh tế nhà nước là thành phần đặc biệt quan trọng, giữ vai trò chủ đạo, tiên phong dẫn dắt nền kinh tế, không chỉ về quy mô mà còn phải bảo đảm hiệu quả, minh bạch và năng lực cạnh tranh quốc tế. Đây vừa là định hướng chiến lược, vừa đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện đối với các doanh nghiệp nhà nước, trong đó có Agribank hiện đang là NHTM 100% vốn nhà nước.

    Quán triệt sâu sắc vai trò và sứ mệnh đó, theo Chủ tịch HĐTV Agribank Tô Huy Vũ, Agribank quyết tâm cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết 79 trong Chiến lược phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035 với ba trụ cột cốt lõi: quản trị hiện đại, minh bạch; tiên phong phát triển xanh, hiệu quả, bền vững; và chuyển đổi số toàn diện. Đây không chỉ là định hướng phát triển của riêng Agribank mà còn thể hiện quyết tâm nâng tầm vai trò của một ngân hàng thương mại Nhà nước chủ lực trong giai đoạn phát triển mới.

    Ở một hướng tiếp cận tương đồng, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) xác định việc thực hiện Nghị quyết số 79 là nhiệm vụ chiến lược gắn liền với phát triển bền vững của ngân hàng và nền kinh tế. Không chỉ tăng trưởng nhanh về quy mô, ngân hàng còn định hướng cơ cấu tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp nền tảng, khoa học - công nghệ và tài chính xanh, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Việc tái cấu trúc mạng lưới theo hướng tinh gọn, hiện đại, đa kênh, kết hợp với đẩy mạnh số hóa, được xem là nền tảng để nâng cao năng suất và khả năng thích ứng trong bối cảnh thị trường biến động nhanh.

    Tuy nhiên, ông Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho rằng, sẽ rất khó để các NHTMNN thực hiện đồng thời các mục tiêu bảo toàn vốn, đạt lợi nhuận cao, lại vừa phải dẫn dắt thị trường. Nếu đặt mục tiêu dẫn dắt thị trường lên hàng đầu thì cần xem xét điều chỉnh kỳ vọng về lợi nhuận. Ngược lại, nếu yêu cầu lợi nhuận cao thì phải tăng cường nguồn lực, đặc biệt là vốn, để có điều kiện mở rộng quy mô hoạt động. Trong một số trường hợp, để giữ vai trò dẫn dắt, NHTMNN có thể phải chấp nhận những thiệt thòi nhất định và không thể tối đa hóa lợi nhuận như các doanh nghiệp hoạt động hoàn toàn theo mục tiêu thương mại. Chính vì vậy, khi xác định định hướng và mục tiêu đối với các NHTMNN cần tính đến đặc thù này. Các chỉ tiêu tăng trưởng cần được xây dựng trên cơ sở điều kiện thực tế của thị trường.

    Mọi mục tiêu tăng trưởng cần được đặt trên cơ sở phân tích đầy đủ bối cảnh thị trường cũng như khả năng nội tại của từng ngân hàng. Ngoài ra, cũng cần có cơ chế tách bạch giữa nhiệm vụ mang tính chính trị – điều tiết thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô với mục tiêu kinh doanh thuần túy của NHTMNN.

    Đề xuất các giải pháp, GS.TS. Hoàng Văn Cường - Ủy viên Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội cho rằng, cần tăng cường năng lực tài chính, đặc biệt là quy mô vốn của các NHTMNN. Chỉ khi quy mô vốn đủ lớn thì ngân hàng mới có năng lực cạnh tranh mạnh trên thị trường. Việc tăng cường vốn có thể được thực hiện thông qua hiệu quả kinh doanh và tích lũy nội tại của ngân hàng, đồng thời có thể huy động thêm các nguồn lực khác nhằm tập trung nguồn lực cho một số ngân hàng chủ lực. Bên cạnh đó, cũng có thể xem xét tái cơ cấu một số ngân hàng quy mô nhỏ, nhằm hình thành những ngân hàng có quy mô lớn và năng lực tài chính đủ mạnh.

    Cùng với đó, các ngân hàng cần đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, không chỉ dựa vào các lĩnh vực truyền thống. Hiện nay, ngành Ngân hàng đang phát triển mạnh sang các lĩnh vực mới như ngân hàng số, tài chính số, quản lý tài sản số và các dịch vụ tài chính hiện đại. Việc mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động này sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp và gia tăng năng lực cạnh tranh cho hệ thống ngân hàng. Đồng thời, nâng cao chất lượng quản trị ngân hàng theo các chuẩn mực quốc tế, chẳng hạn như các tiêu chuẩn Basel II, Basel III. Khi được quản trị theo các tiêu chuẩn tiên tiến của thế giới, hoạt động của ngân hàng sẽ chuyên nghiệp, minh bạch và an toàn hơn, từ đó khẳng định tính ổn định và độ tin cậy của hệ thống. Đây cũng là điều kiện quan trọng để các ngân hàng Việt Nam có thể so sánh và cạnh tranh với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới. Khi hệ thống quản trị đạt chuẩn quốc tế, các ngân hàng cũng sẽ có điều kiện tham gia sâu hơn vào thị trường tài chính toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đã hình thành các trung tâm tài chính quốc tế.

    Một chú ý rất quan trọng là cần hài hòa giữa việc thực hiện nhiệm vụ chính sách của nhà nước với mục tiêu kinh doanh của NHTMNN. Các ngân hàng lớn của nhà nước thường phải thực hiện một số nhiệm vụ chính sách, tuy nhiên điều đó không có nghĩa là hoạt động hoàn toàn phi lợi nhuận. Để bù đắp cho những nghĩa vụ này, các ngân hàng cần phát huy tối đa lợi thế đặc thù của mình, từ đó tạo ra những lợi thế cạnh tranh và nguồn lực phát triển mạnh hơn, GS.TS. Hoàng Văn Cường khẳng định.

    Trước vận hội mới, dự thảo Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 79 của NHNN Việt Nam cũng đặt ra các nhiệm vụ cụ thể để NHTMNN vươn tầm quốc tế: Xây dựng kế hoạch tăng vốn điều lệ cho các NHTMNN gửi Bộ Tài chính tổng hợp, trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt; chủ trì phối hợp với các Bộ trình cấp có thẩm quyền hoặc phê duyệt theo thẩm quyền phương án bổ sung vốn điều lệ cho các NHTMNN từ các nguồn của ngân sách nhà nước, các quỹ; Toàn bộ lợi nhuận sau thuế sau trích lập các quỹ, cổ tức được chia bằng cổ phiếu; thặng dư vốn cổ phần; Phát hành cổ phiếu và các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định, để nâng cao năng lực tài chính, tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động theo quy định của pháp luật; Chủ động rà soát, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, mạng lưới hoạt động gắn với chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả hoạt động.

    Cùng với đó, thiết lập hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ có hiệu quả trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, xung đột lợi ích. Đẩy mạnh hiện đại hóa quản trị theo tiêu chuẩn Basel và các thông lệ quốc tế; hoàn thiện mô hình quản trị tích hợp, quản trị rủi ro theo danh mục; tăng cường minh bạch, kỷ luật thị trường và trách nhiệm giải trình. Rà soát, cơ cấu lại danh mục đầu tư và vốn, tăng cường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công, bảo đảm mọi lợi ích thu được phục vụ hài hòa lợi ích nhà nước, doanh nghiệp và xã hội.

    “Nếu hài hòa tốt giữa việc thực hiện nhiệm vụ chính sách và phát huy lợi thế của NHTMNN, thì năng lực cạnh tranh của các ngân hàng này sẽ được nâng cao. Khi đó, các ngân hàng Việt hoàn toàn có thể vươn lên nhóm có sức cạnh tranh mạnh trong khu vực, từng bước sánh vai với các ngân hàng lớn trong khu vực và trên thế giới”, GS.TS. Hoàng Văn Cường khẳng định.
  2. SuSuCaRot

    SuSuCaRot Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    06/11/2013
    Đã được thích:
    133.787
    Tuần sau Lễ nhóm bank có thể thế VIN kéo thị trường thôi



    Tin vui cho các ngân hàng: Ngân hàng Nhà nước đề xuất sửa Thông tư quan trọng bậc nhất ngành ngân hàng

    Mạnh Đức13:28 29/04/2026
    Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa thông báo lấy ý kiến rộng rãi dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 22/2019/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

    [​IMG]
    Điểm thay đổi đáng chú ý trong dự thảo là việc chuyển từ chỉ tiêu “tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi” (LDR) sang “tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn” (CDR). So với cách tiếp cận trước đây, chỉ tiêu này được xác định trên cơ sở tổng dư nợ cấp tín dụng và tổng nguồn vốn huy động theo quy định, thay vì chỉ giới hạn ở cho vay và tiền gửi. Các cấu phần tính toán về cơ bản kế thừa quy định hiện hành, bao gồm cả các khoản đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, cam kết ngoại bảng ở phía cấp tín dụng, cũng như các nguồn vốn ngoài tiền gửi ở phía huy động.

    Đáng chú ý, với tiền gửi Kho bạc Nhà nước, cách tính trong dự thảo được điều chỉnh trên cơ sở lộ trình đã quy định trước đó. Cụ thể, theo quy định hiện hành tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 26/2022/TT-NHNN), tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc được tính vào nguồn vốn huy động đã giảm dần qua các năm và tiến tới loại bỏ hoàn toàn từ năm 2026. Trong khi đó, dự thảo mới xác định lại cách tính theo hướng tiền gửi không kỳ hạn tiếp tục không được tính vào huy động và 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước.

    Đối với “cấp tín dụng”, dự thảo xác định tổng dư nợ cấp tín dụng bao gồm Dư nợ cấp tín dụng đối với cá nhân, tổ chức (không bao gồm dư nợ cấp tín dụng đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác tại Việt Nam); các khoản ủy thác cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác cấp tín dụng. Dư nợ đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp (tổng số tiền đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp trừ đi dư nợ gốc mà doanh nghiệp đã thực hiện thanh toán).

    Dự thảo đồng thời tiếp tục định hướng duy trì tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn tối đa 85%, tương tự quy định hiện hành.


    Ngoài các thay đổi về cách xác định các tỷ lệ an toàn, dự thảo còn bổ sung một nhóm chỉ tiêu mới theo chuẩn Basel III, bao gồm tỷ lệ đòn bẩy (LEV), tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) – những chỉ tiêu chưa được quy định trong khung hiện hành.

    Với LEV, NHNN cho biết Ủy ban Basel đã xây dựng tỷ lệ đòn bẩy mà các chỉ tiêu của tỷ lệ này không dựa trên rủi ro và được áp dụng song song với khuôn khổ tỷ lệ an toàn vốn dựa trên rủi ro theo Basel III, nhằm hạn chế sự tích tụ vay nợ quá mức trong hệ thống ngân hàng. Đây là một công cụ bổ sung cho các yêu cầu về vốn dựa trên rủi ro, đảm bảo an toàn cho ngân hàng. Trường hợp các yêu cầu về vốn dựa trên rủi ro bị sai lệch hoặc không đủ, tỷ lệ đòn bẩy đóng vai trò là lớp bảo vệ thứ hai cho các ngân hàng. Hiện một số quốc gia trên thế giới đang áp dụng tỷ lệ này (Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), Malaysia, Singapore, Hongkong, Đài Loan, Mỹ).

    Liên quan đến hai tỷ lệ LCR và NSFR, Điều 14 của dự thảo quy định cụ thể lộ trình áp dụng. Theo đó, từ ngày 01/01/2028, các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thực hiện đầy đủ các quy định về hai tỷ lệ này. Trong giai đoạn trước đó, các tổ chức tín dụng tiếp tục tuân thủ các quy định hiện hành theo Thông tư 22/2019/TT-NHNN, bao gồm các yêu cầu về khả năng chi trả và giới hạn sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn .

    Bên cạnh lộ trình bắt buộc, dự thảo cũng quy định cơ chế áp dụng sớm. Cụ thể, ngay khi Thông tư có hiệu lực, các ngân hàng có thể đăng ký với Ngân hàng Nhà nước để chuyển sang áp dụng các tỷ lệ LCR và NSFR, với điều kiện phải tuân thủ ngay mức tối thiểu 100% đối với cả hai tỷ lệ này. Việc đăng ký áp dụng sớm phải kèm theo xác nhận của tổ chức kiểm toán độc lập và ý kiến của cơ quan quản trị nội bộ về việc đã tuân thủ đầy đủ các yêu cầu, không có ý kiến ngoại trừ tại thời điểm gần nhất .

    Tại Điều 15, dự thảo quy định về quản lý rủi ro thanh khoản. Theo đó, các ngân hàng phải xây dựng và thực hiện hệ thống quản lý rủi ro thanh khoản phù hợp với quy định về kiểm soát nội bộ, bảo đảm thực hiện đầy đủ các bước nhận diện, đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro. Đồng thời, quy định cũng phân định cách thức áp dụng giữa các tổ chức vẫn thực hiện theo Thông tư 22 và các tổ chức đã chuyển sang áp dụng khung mới. Với nhóm thứ nhất, việc quản lý thanh khoản tiếp tục thực hiện theo quy định hiện hành; trong khi nhóm thứ hai phải tuân thủ các yêu cầu quản lý gắn với các tỷ lệ LCR và NSFR theo dự thảo.

Chia sẻ trang này