STP vs SIC: Cỗ xe song mã dòng họ Sông Đà...Đích đến 1tr/CP năm 2008....

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi chickenboy07, 25/10/2007.

Trạng thái chủ đề:
Đã khóa
2463 người đang online, trong đó có 985 thành viên. 10:32 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 19028 lượt đọc và 365 bài trả lời
  1. anhtumlm

    anhtumlm Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/05/2006
    Đã được thích:
    1
    Hế..hế...
    Thêm bạn thêm vui.. NO Pro bốp lầm...bác rivaldo ạ...
    Tất nhiên trong xu thế đi lên 2 e nó sẽ có những phiên điều chỉnh ngắn hạn...để thay hành khách...
    Quan trọng là cuối năm 2008 cả 2 đều cán đích 1tr...
  2. dbp

    dbp Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    25/09/2003
    Đã được thích:
    0
    [/red]Cơ hội và thách thức đối với Bô xít ở Việt Nam[/red]

    Bô xít là một trong những khoáng sản kim loại phổ biến nhất trên bề mặt trái đất và là khoáng sản duy nhất để sản xuất ô xýt nhôm hay còn gọi alumina (tiếng Anh), alumine (tiếng Pháp) - một loại vật liệu màu trắng dạng bột, và nhôm kim loại là sản phẩm điện phân từ alumina. Nước ta có nguồn bô xít rất lớn chưa được khai thác, đã và đang được các tập đoàn lớn quan tâm. Bài báo nhằm đem lại một số thông tin về thị trường, công nghiệp alumina - nhôm, tiềm năng tài nguyên và nêu ra một số thuận lợi, thách thức đối với việc phát triển ngành công nghiệp khai thác bô xít và alumina ở Việt Nam để các nhà hoạch định phát triển tham khảo và những độc giả quan tâm biết chúng ta đang đứng ở đâu trong lĩnh vực này.
    Trên thế giới hiện có trên 43,3 tỷ tấn bô xít nguyên khai và khoảng 15 - 20 tỷ tấn chưa phát hiện được. 50 nước trên thế giới có tài nguyên bô xít, khoảng 211 tụ khoáng bô xít có trữ lượng trên 1 triệu tấn . Tới nay, trữ lượng bô xít toàn thế giới đã thẩm định và có thể khai thác được ước tính là 30 tỷ tấn, trong đó Australia chiếm 23,7%; Guinea 19,5%, Brazil 14,4%. 1/3 trữ lượng bô xít này thuộc về các mỏ đang được khai thác, 2/3 thuộc về các tụ khoáng đang trong quá trình thăm dò hoặc nghiên cứu khả thi đã được hoàn thành. Với trữ lượng như trên và tốc độ khai thác như hiện nay, các chuyên gia cho rằng trữ lượng bô xít này đủ cung cấp cho ngành công nghiệp nhôm trong 170 năm nữa. Hiện nay, 24 nước có công nghiệp khai thác bô xít, nhưng 12 nước khai thác lớn nhất đã chiếm 97% sản lượng bô xít của thế giới. Australia là nước khai thác và xuất khẩu bô xít lớn nhất với sản lượng khoảng 40 - 50 triệu tấn/năm; tiếp theo Guinea với sản lượng 16,5; Jamaica 11,9; Brazil 11,5 và Trung Quốc 7,3 triệu tấn/năm.
    Tiêu thụ nhôm của các nước trong năm 2003 ước tính 28,5 triệu tấn (trong đó 20,7 triệu tấn là nhôm nguyên khai - tăng 5,7% so với năm 2002, và 7,8 triệu tấn là nhôm tái chế) tăng 1,3%, trong khi đó năm 2000 mức tiêu thu là 29,4 triệu tấn. Tăng trưởng nhôm nguyên khai với mức 5,7% phản ánh số gia tăng tiêu thụ nhôm của thị trường Trung Quốc, khiến cho giá nhôm tăng vọt (giá nhôm thỏi năm 2003 là 1.586 USD/tấn, 2002 là 1.533 USD/tấn).
    1. Tài nguyên bô xít Việt Nam
    Xét về nguồn gốc, quặng bô xít ở Việt Nam thuộc 2 loại chính là bô xít nguồn gốc trầm tích (một số bị biến chất) tập trung ở các tỉnh phía Bắc như Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Sơn La và Nghệ An và bô xít nguồn gốc phong hoá laterite từ đá bazan tập trung ở các tỉnh phía Nam như Kon Tum, Đắc Nông, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Dương, Phú Yên và Quảng Ngãi.
    2. Thuận lợi và thách thức đối với khai thác, chế biến và vận tải đối với bô xít Việt Nam
    Trữ lượng và tài nguyên bô xít Việt Nam đã được thăm dò là 2.772 triệu (?), trong đó bô xít laterite là 2.258 triệu tấn. Dự báo quặng bô xít nguyên khai có thể đạt tới 6.750 - 7.600 triệu tấn (?). Nếu số liệu này tin cậy được, thì Việt Nam chúng ta đứng ở vị trí thứ 4 sau Australia, Guinea, Brazil về trữ lượng đã được thăm dò. Điều này nói lên liệu Việt Nam có nên hình thành một nền công nghiệp khai thác bô xít, sản xuất alumina, điện phân nhôm không? Trước tiên cần có một chiến lược phát triển nguồn tài nguyên này.
    a) Xét về góc độ tài nguyên
    Trước hết, chúng ta cần phải thăm dò để thẩm tra/xác định vị trí các tụ khoáng có triển vọng, trữ lượng và chất lượng quặng bởi những yếu tố này quyết định đến quy mô khai thác/chế biến, thời gian hoạt động, công nghệ và hiệu quả của dự án. Độ tin cậy của công tác đánh giá trữ lượng phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật của thăm dò, lấy mẫu, làm thí nghiệm, bố trí mạng lưới thăm dò và phương pháp đánh giá trữ lượng. Tuy nhiên, công tác thăm dò mang tính rủi ro cao và cần nguồn vốn lớn; nên chăng khuyến khích các công ty nước ngoài tiến hành công tác thăm dò và thiết lập liên doanh khai thác, chế biến xét trên phương diện đối tác nước ngoài có tiềm năng tài chính, công nghệ và có "đầu ra".
    b) Các yếu tố ảnh hưởng đến công nghệ sản xuất alumina
    Để sản xuất alumina từ bô xít, người ta phải nghiền quặng, rồi trộn quặng với vôi và xô đa cốt tíc, bơm hỗn hợp này vào bình chứa áp lực cao để nung. Ô xít nhôm bị phân huỷ bởi xô đa, rồi được tách khỏi dung dịch, qua rửa, được nung để tách nước, bột lắng lại chính là alumina.
    Hàm lượng SiO2 chứa trong quặng và hàm lượng alumina có thể thu được từ quặng bô xít (tốt nhất là > 49%) ảnh hưởng rất lớn đến tiêu hao xô đa cốt tíc (caustic soda) và tiêu hao năng lượng trong quá trình sản xuất alumina, nếu hàm lượng Si02 < 1,5% và > 3% sẽ nâng tiêu hao xô đa lên và làm tăng giá thành sản xuất lên rất cao. Bô xít ở phía Bắc có hàm lượng SiO2 cao từ 4,5% đến 20%, trong khi đó ở phía Nam thì SiO2 trong quặng bô xít lại thấp chỉ trong phạm vị 2,14% đến 3,45%. Như vậy, sản xuất alumina từ bô xít ở phía Nam chắc chắn sẽ đem lại giá thành thấp hơn.
    Hàm lượng alumina trong bô xít thấp sẽ dẫn đến tăng vốn đầu tư, tăng chi phí vận hành đối với công tác khai khoáng, chế biến và đặc biệt thiết bị xử lý thải lớn hơn, đập chắn cũng lớn và tăng tiêu hao vật tư. Hàm lượng gibbsite trong bô xít ở phía Nam rất cao như ở tụ khoáng "1,5" là 59,7 - 79,9% và Tân Rai là 59,13%, cho phép sử dụng công nghệ luyện ở nhiệt độ và áp suất chiết tách thấp là kết quả là giá thành sản xuất sẽ hạ hơn.
    Hàm lượng boehmite trong bô xít ở phía Bắc khá cao (như các tụ khoáng ở Lạng Sơn, boehmite tới 20 - 30%). Nói chung, sản xuất alumina từ bô xít diaspore ở phía Bắc có hàm lượng boehmite cao (tốt nhất < 3%), gibbstie thấp thì phải áp dụng công nghệ luyện ở nhiệt độ cao và áp lực lớn khiến cho giá thành sản xuất cũng cao. Thông thường thì bô xít laterite được luyện thành alumina ở nhiệt độ 140 - 150oC, áp lực 8 - 10 Kg/cm2; trong khi đó luyện bô xít diaspore cần ở nhiệt độ 240 - 260oC và áp lực 50 - 60 Kg/cm2. Riêng đối với bô xít Tân Rai, Bảo Lộc, Đắc Nông thì Pchiney có công nghệ luyện ở nhiệt độ 105oC và áp lực chỉ 1 Kg/cm2.
    Hàm lượng sắt trong quặng bô xít ở Việt Nam cũng nằm trong phạm vi cho phép, có hơi cao hơn so với điều kiện lý tưởng là 5% < Fe2O3 < 15%. Nếu hàm lượng sắt thấp sẽ làm giảm chất lượng alumina, hàm lượng sắt cao cũng giảm hàm lượng alumina trong bô xít và hệ số thu hồi sẽ thấp.
    Hàm lượng thạch anh (quartz) trong quặng bô xít ở Việt Nam đặc biệt thấp như ở tụ khoáng "1/5" chỉ 0,3%, như vậy quặng bô xít ở phía Nam rất thích hợp cho vận tải đường ống bởi hàm lượng thạch anh thấp khiến cho chi phí bảo dưỡng đường ống thấp do ít bị mài mòn bởi thạch anh. Hàm lượng thạch anh cao cũng sẽ làm tăng tiêu hao xô đa cốt tíc trong các nhà máy alumina áp dụng công nghệ luyện ở nhiệt độ cao.
    Hàm lượng Ti02 trong bô xít ở Việt Nam cũng nằm trong phạm vi cho phép, đương nhiên tốt nhất là nằm trong phạm vi 1,0% < Ti02 < 2,5%.
    Tuy nhiên, cũng cần xác định rõ hàm lượng các tạp chất, các bon hữu cơ, sun phít, Cl, Ca, và các nguyên tố có hại như Ga, Zn, V, P trong quặng bauxite Việt Nam, bởi nếu hàm lượng này cao sẽ tăng chi phí vận hành, làm giảm hiệu quả kinh tế, làm giảm chất lượng sản phẩm...
    Quặng bô xít mà mềm và bở rời cũng làm tăng chi phí khai thác, nhưng lại dễ nghiền trong nhà máy alumina.
    c) Khai thác lộ thiên hay hầm lò
    Thông thường các yếu tố sau đây có ảnh hưởng đến công tác khai thác: i) khai thác lộ thiên hay hầm lò, ii) độ dày và tính liên tục của thân quặng, iii) độ cứng của quặng, iv) sự thay đổi và tính dự báo trước của chất lượng quặng, bề dày và vị trí, v) khả năng tiếp cận tụ khoáng, địa hình, địa mạo, vi) khai thác liệu sẽ đem lại hiệu quả, và vii) điều kiện khí hậu.
    Hầu hết các tụ khoáng ở nước ta là lộ thiên, đầu tư cho khai thác không lớn. Các tụ khoáng ở Hà Giang có bề dày thân quặng từ 1 đến 3 mét, kéo dài vài trăm mét đến 2 - 3 km. Các tụ khoáng Cao Bằng có bề dày thân quặng từ 4 - 5 m đến 25m, bề rộng từ vài trăm mét đến hơn 2 km, kéo dài từ 700 - 800 m đến gần 7 km. Các tụ khoáng Ma Mèo, Tam Lung ở Lạng Sơn có các thân quặng gốc quy mô lớn, dạng vỉa không liên tục, bề dày từ 7,5 - 40m; trong khi đó ở mỗi tụ khoáng có từ 2 đến 7 thân quặng với bề dày 0,5 - 0,6 m đến 14m, rộng 50 - 800m và kéo dài từ 200 - 300 đến 2.000m. Tụ khoáng "1/5" ở Đắc Nông có các thân quặng với hình dáng thất thường, thân quặng chính rộng 2,5 - 5 km, dài 8 km, bề dày 1 - 9 mét. Tụ khoáng Tân Rai ở Lâm Đồng có các thân quặng bô xít hình thành ở độ cao tuyệt đối 800 - 1.080 m trên các địa hình ngoằn ngoèo, phức tạp, kích thước các thân quặng rất khác nhau từ 0,2 đến 7 km2, bề dày 2,6 - 4 mét.
    Tuy nhiên, cũng chỉ có vài tụ khoáng là "1/5", Tân Rai, Bảo Lộc là thuận lợi cho tổ chức khai thác, vận chuyển, xử lý môi trường... vì quặng bô xít nằm tương đối tập trung; còn các tụ khoáng khác thì bô xít phân bố như "da báo gấm".
    d) Hạ tầng cơ sở và giao thông vận tải
    Hiện tại chưa có các điều kiện về hạ tầng cơ sở ở vùng tụ khoáng, cảng xuất khẩu. Thông thường tại vùng khoáng sản bô xít chỉ phát triển công việc khai thác và tuyển khoáng, còn sản xuất alumina và điện phân nhôm được bố trí ở gần cảng để tiện cho việc xuất khẩu cũng như để tiện cho việc tiếp nhận nhiên liệu (than hoặc dầu đốt, khí thiên nhiên), nguyên liệu (xô đa cốt tíc, đá vôi, các chất kết bông...) cho sản xuất alumina; anode, cốc hoá dầu, hắc ín lỏng, alumina fluorspar, silicon carbide... cho nhà máy điện phân nhôm. Ngay việc cung cấp nước cho tuyển rửa, cho vận chuyển và cho nhà máy alumina cũng không đơn giản: nếu chỉ sản xuất 1 đến 2 triệu tấn alumina thì có thể giải quyết được vấn đề này ở cả Tây Nguyên lẫn ở cảng, nhưng lớn hơn nữa thì chắc chắn sẽ gặp khó khăn do điều kiện khí tượng - thuỷ văn và địa hình ở những khu vực này. Ngoài diện tích cho nhà máy alumina, còn phải lo tìm 200 - 300 ha gần đây để chứa bùn đổ thải ra từ nhà máy alumina với công suất 1,5 - 2,0 triệu tấn alumina; với trình độ xử lý môi trường hiện tại thì trên bãi bùn này cây cỏ cũng không mọc được (chi phí để thải 1 tấn bùn: 2,0 - 7,7 USD, chi phí thải bùn để cho 1 tấn alumina: 1,61 - 4,99 USD).
    Hiện nay, hầu hết các mỏ bô xít đang hoạt động trên thế giới đều nằm gần cảng xuất (FOB ports), khoáng cách tới cảng dưới 100 km. Trong khi đó, tiếp cận giao thông tới các tụ khoáng và từ mỏ ra các cảng ở Việt Nam là một vấn đề nan giải bởi các tụ khoáng nằm sâu ở trên cao nguyên hoặc vùng đồi núi cao, hiểm trở. Hiện đã có Quốc lộ 20 xuyên suốt khu vực Tây Nguyên, nhưng khoảng cách từ vùng mỏ Đắc Nông tới cảng Thị Vải - khoảng 300 km. Tại vùng mỏ Bảo Lộc - Di Linh có cơ sở hạ tầng, đường giao thông thuận lợi hơn, gần cảng Thị Vải hơn, nhưng vận chuyển 0,6 triệu tấn alumina ra cảng, và vận chuyển 50.000 tấn xô đa, 40.000 tấn đá vôi, than hoặc dầu đốt, khí thiên nhiên lên Bảo Lộc bằng ô tô không phải là việc đơn giản.
    Nhìn chung vận tải bằng đường sắt sẽ đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội, góp phần phát triển và ổn định kinh tế - xã hội ở vùng Tây Nguyên về lâu dài; nhưng trước mắt thì chưa có hiệu quả kinh tế nếu chỉ vận tải bô xít. Vốn đầu tư để xây dựng đường sắt rất lớn, nhà đầu tư khai thác bô xít - sản xuất alumina không thể đầu tư xây dựng tuyến đường sắt này bởi không thể có được sản phẩm alumina cạnh tranh.
    Nhiều nước đã áp dụng hệ thống đường ống để vận chuyển khoáng sản rắn như than, đá vôi, apatít, đồng, sắt, bô xít... đầu tư xây dựng hệ thống này sẽ ít tốn kém hơn, giá vận chuyển cũng thấp hơn so với vận chuyển bằng đường sắt, không gây ô nhiễm môi trường và không thất thoát trong quá trình vận chuyển, nhà đầu tư sẽ phải đầu tư xây dựng hệ thống này.
    Brazil đang chuẩn bị xây dựng hệ thống đường ống Mnera Vera Cruz để vận chuyển bô xít đầu tiên trên thế giới. Công suất vận chuyển giai đoạn đầu là 4 triệu tấn tinh quặng bô xít đã được nghiền trong một năm, công suất thiết kế cho hệ thống là 8 triệu tấn/năm, nhưng hệ thống có thể vận chuyển tới 12 triệu tấn/năm nếu bổ sung thêm một trạm bơm nữa. Tổng vốn đầu tư cho hệ thống này là 185 triệu USD. Khởi công xây dựng trong năm 2005 và hoàn thành vào năm 2007.
    Trong nghiên cứu phương án vận tải đối với bô xít Đắc Nông, Chalco và BHP Billiton có chiều hướng chọn vận tải bằng hệ thống đường ống để vận chuyển bô xít Đắc Nông tới nhà máy luyện alumina đặt ở gần cảng xuất khẩu .
    Dựa trên đánh giá trên, chúng ta nên tổ chức khai thác, chế biến quy mô công nghiệp đối với tài nguyên bô xít ở Đắc Nông, Lâm Đồng. Còn đối với tài nguyên bô xít ở phía Bắc, chúng ta nên khai thác để sản xuất ô xít nhôm, cao nhôm, vật liệu chịu lửa, xi măng, vật liệu corindun nâu (đá mài, bột mài)... và để xuất khẩu. Đối với tài nguyên trữ lượng trung bình như Vân Hoà, Măng Đen... có thể khai thác, sản xuất alumina để xuất khẩu cho các công ty sản xuất nhôm có nhu cầu bổ sung lượng alumina chưa đủ.
    Giáo sư Bardossy và Bourke xếp tụ khoáng Bảo Lộc, Tân Rai và Đắc Nông vào vị trí cuối cùng trong bảng xếp hạng 13 vùng bô xít có tiềm năng lớn trên thế giới chưa được khai thác ở 12 Quốc gia, xếp hạng này căn cứ trên những xem xét các tiêu chí sau: 1) Tài nguyên bô xít rất lớn, chất lượng quặng có thể chấp nhận được, tuy nhiên kết quả thăm dò chưa thật tin cậy, ii) Khai thác dễ dàng; iii) Tính khả luyện alumina ở mức trung bình, iv) Khả năng thu được alumina ở mức thấp, v) Tính khả tuyển ở mức thấp, vi) Thực thu khi tuyển không cao, vii) Giao thông vận tải rất khó khăn, viii) Tác động đến môi trường thấp, ix) Rủi ro cao (2).
    .....
  3. dbp

    dbp Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    25/09/2003
    Đã được thích:
    0
    3. Đối tác và thị trường
    Bô xít Việt Nam đã được các đối tác quan tâm (xét theo thời gian): Khối SEV trước đây, Daewoo, Alcoa, Pechiney, Trung Quốc (Chalco, NFC, công ty luyện kim màu Vân Nam), BHP Billiton, Rusal (Liên bang Nga), Thái Lan, Hungari, Nhật Bản (Mitsui, Marubeni), Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan không có tài nguyên và khó có điều kiện sản xuất nhôm bởi không có nguồn năng lượng sơ cấp đáng kể, hầu hết là nhập khẩu vì vậy giá thành năng lượng cao ở các nước này; có thể các công ty thương mại của các nước này quan tâm đến mua/bán alumina và thu xếp vốn cho đầu tư. Tuy Rusal là tập đoàn nhôm lớn nhất của Nga, nhưng Rusal đưa ra những điều kiện mà ta khó có thể chấp nhận được như xin nhượng thổ để khai thác, mặt khác cũng không dễ gì giải quyết vốn đầu tư. Alcoa là tập đoàn alumina - nhôm lớn nhất thế giới, có rất nhiều dự án đang triển khai ở Austalia, Guinea, Brazil, Trung Quốc... Alcoa đã quan tâm đến bô xít Việt Nam với ý định xây dựng cả nhà máy điện chạy khí để điện phân nhôm. Pechiney đã sát nhập vào Alcan, chúng ta chưa được biết liệu Alcan có quan tâm đến bô xít của chúng ta không như Pechiney đã có văn bản đề nghị với Chính phủ Việt Nam trước đây.
    BHP Billiton đứng đầu trong 5 tập đoàn khai khoáng lớn nhất thế giới, trong lĩnh vực bô xít - alumina - nhôm, BHP Billiton là một trong 4 tập đoàn nhôm lớn nhất của thế giới : Alcoa, Chalco, Alcan, BHP Billiton, đã chính thức bày tỏ nguyện vọng với Chính phủ ta được đầu tư vào lĩnh vực này, và Chính phủ đã giao cho Bộ Công nghiệp hướng dẫn để BHP nghiên cứu đánh giá các mỏ ở Đắc Nông (trừ các mỏ đã giao cho đối tác khác) để chọn mỏ xin thăm dò và khai thác. BHP dự kiến công suất alumina là 1,5 triệu tấn/năm, với tổng vốn đầu tư cho cả vận tải lên tới 1,6 tỷ USD. BHP cũng đã phát triển công nghệ luyện alumina với giá thành hạ nhất (ví dụ như chỉ cần nung ở nhiệt độ 105oC, áp lực thấp đối với bô xít laterite), giá thành sản xuất 1 tấn alumina của BHP lag 94 USD, trong khi đó giá bình quân thế giới 146 USD.
    Chalco là tập đoàn alumina - nhôm lớn nhất của Trung Quốc, là tập đoàn duy nhất sản xuất alumina ở Trung Quốc, sản xuất nhôm lớn nhất và alumina lớn thứ 2 thế giới. Chalco sản xuất alumina chủ yếu từ bô xít diaspore, và cũng có nhập bô xít laterite; vì thế Chalco làm chủ được công nghệ luyện alumina từ diaspore. Để đáp ứng nhu cầu alumina, Chính phủ Trung Quốc chính thức đặt vấn đề với Chính phủ ta về hợp tác, liên doanh để khai thác bô xít, sản xuất alumina. Chính phủ Trung Quốc giao cho Chalco cùng 10 công ty khác của Trung Quốc xúc tiến dự án liên doanh khai thác bô xít ở Mỏ "1/5" Đắc Nông và sản xuất 1-2 triệu tấn alumina/năm.
    Vì dự án bô xít - alumina với công suất 1,5 - 2,0 triệu tấn/năm cần nguồn vốn đầu tư hàng tỷ USD, nên ngoài việc bao tiêu sản phẩm và làm chủ được công nghệ, các nhà đầu tư nước ngoài luôn mong muốn chiếm tỷ trọng lớn trong phần đóng góp vốn để đảm bảo khả năng thu hồi vốn.
    Về thị trường: Hiện nay, cung và cầu trên thế giới đã xích lại gần nhau, trong mấy năm qua tăng trưởng tiêu thụ nhôm cũng chỉ ở mức 1 - 1,3%, trong đó tăng trưởng tiêu thụ nhôm nguyên khai đạt 5,7%. Đạt được như vậy cũng bởi sự phát triển kinh tế với tốc độ cao của Trung Quốc trong thời gian qua, mức tiêu thụ nhôm tăng (trên 25% năm 2003). Để đáp ứng nhu cầu này, Trung Quốc cần có nguồn cung cấp alumina từ bên ngoài ổn định, lâu dài (nhập khẩu và liên doanh khai thác ở nước ngoài, trên 6 triệu tấn/năm) vì khả năng sản xuất trong nước cũng chỉ đạt tới 7 - 8 triệu tấn. Thị trường nhôm và alumina trên thế giới đang chuyển động để hướng vào thị trường Trung Quốc.
    Như vậy, để đảm bảo phát triển bền vững và với nguồn tài nguyên bô xít to lớn chúng ta chỉ có thể tham gia cung ứng dưới 50% cho thị trường alumina thiếu hụt hiện nay - chủ yếu là thị trường Trung Quốc dưới dạng hợp đồng lâu dài. Để đạt được điều này, chúng ta chỉ nên có 2 đối tác (2 liên doanh) với công suất giai đoạn đầu tư 1,0 - 1,5 triệu tấn alumina/năm cho mỗi liên doanh, như vậy sẽ tránh được tính độc quyền, ép của đối tác, tranh thủ được công nghệ tiên tiến. Sau khi chúng ta đã tiếp thu được công nghệ từ 2 liên doanh này, chúng ta có thể tự đầu tư một dự án khác. Đối với các tụ khoáng nhỏ khác, cũng có thể tổ chức khai thác, sản xuất alumina để xuất khẩu theo dạng hợp đồng ngắn hạn, bổ sung cho các công ty nhôm hoặc cho các công ty thương mại...
    4. Việt Nam sản xuất nhôm?
    Alumina chủ yếu để sản xuất nhôm bằng phương pháp điện phân. Alumina còn được dùng để sản xuất gạch cao nhôm, đá mài trắng được sử dụng trong gia công tinh kim loại, một số hoá chất, cả đá quý nhân tạo... Nhôm điện phân được nấu chảy thành nhôm nguyên khai; nhôm đúc, nhôm thỏi, nhôm khối lớn (slap) để cán thành tấm; nhôm hợp kim, nhôm tinh khiết để cán thành giấy nhôm, vật tư dẫn điện...
    Điện phân nhôm tiêu tốn một lượng điện rất lớn, chi phí điện đã chiếm 25% giá thành; để làm chảy 1 tấn nhôm cần khoảng 13,5 - 18,5 MWh để tách nhôm ra khỏi oxi trong alumina; mức tiêu thụ thấp nhất là 13.500 kWh/tấn nhôm ở nhà máy điện phân nhôm Moral của BHP ở Mozambic, cao là 16.292 Kwh/tấn nhôm ở nhà máy Bratsk ở Nga. Vì vậy, sản xuất nhôm chỉ đem lại hiệu quả khi giá điện thấp < 3 US cent/kWh. Bảng sau đây cho thấy giá điện của các công ty sản xuất nhôm lớn, phân theo khu vực, đơn vị: US cent/kWh : Rusal: 0,90; Alcan: 1,10; BHP Billiton: 1,65; Pchiney: 1,75; Alcoa: 1,75; Dubal" 2,32; Chalco: 2,84: Nga: 0,90; Canada: 1,06; Australia: 1,22; Châu phi: 1,52; Châu Mỹ Latin: 1,68; Tây Âu: 1,72; Châu Á: 1,94; Mỹ: 2,17; Trung Đông: 2,32; Trung Quốc: 2,84; Đông Âu: 3,09. Trong khi đó giá điện bình quân trong sản xuất nhôm của thế giới : 1,72.
    Để có được giá thành hạ như vậy, các công ty thường có nhà máy điện riêng, hầu hết là thuỷ điện như Alcan có tới 11 nhà máy thuỷ điện với tổng công suất 4.156 MW, Alcoa tự sản xuất được 25% lượng điện cho sản xuất, còn lại mua theo hợp đồng dài hạn. Các nhà máy điện phân nhôm thường được bố trí gần nhà máy điện. Ngoài ra, tiêu thụ cốc hoá dầu, anodes và một số hoá chất khác cũng lớn (chiếm > 25% giá thành sản xuất), những vật liệu này chúng ta đều phải nhập ( các nhà sản xuất nhôm thường nhập anode của công ty Aluchemie Hà Lan).
    Giá điện ở Việt Nam hiện nay rất cao (trung bình 5,6 US cent/kWh), hàng năm xây dựng thêm khoảng 1.000 MW nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng. Theo dự báo của các chuyên gia thì nước ta từ 2017 sẽ thiếu điện sau khi đã khai thác hết các nguồn năng lượng sơ cấp cho sản xuất điện, vì vậy chúng ta đang xem xét phương án xây dựng nhà máy điện nguyên tử trước 2017 - 2020.
    Với thực tế trình bày ở trên, tác giả cho rằng: để có được một dự án mang lại hiệu quả kinh tế sản phẩm có sức cạnh tranh, chúng ta khó có thể thực hiện dựa án điện phân nhôm trước năm 2020.
    5. Kết luận
    Số liệu cho thấy đất nước chúng ta là một trong những cường quốc về tài nguyên bô xít. Vào đầu những năm 70, chúng ta đã muốn khai thác bô xít Ma Mèo - Lạng Sơn để sản xuất nhôm và sản xuất 100.00 tấn đá mài, bột mài corindun nâu; cuối những năm 70 và đầu 80 chúng ta đã tổng hợp tác với khối SEV để toan tính phát triển bô xít Tây Nguyên; và trong vòng 4 năm qua chúng ta muốn tự xây dựng tổ hợp nhôm Lâm Đồng. Giờ đây các đối tác tiềm năng đã đến, thị trường cho sản phẩm đã có, vấn đề vận tải có thể giải quyết được. Cái khó đối với chúng ta là thiếu vốn, chưa từng sản xuất alumina. Nhưng, để có được công nghiệp khai thác, sản xuất alumina, chúng ta cần có quyết sách sát với thực tiễn của chúng ta và của thế giới, kịp thời, nếu không "nàng bô xít" lại tiếp tục ngủ quên trong rừng.


    Bình luận: khai thác bô xít khá phức tạp, phải giải quyết nhiều vấn đề từ nguồn nước, vận chuyển, công nghệ, vốn lớn, môi trường, đối tác (còn liên quan đế khu vực Tây Nguyên nhạy cảm)
  4. Rivaldo_bra

    Rivaldo_bra Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    18/06/2002
    Đã được thích:
    0
    Chết roài, có bao nhiêu bác lột hết ra thế này thì mấy ông anh xã hội của e làm sao gom tiếp được
  5. Dancer

    Dancer Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    18/02/2002
    Đã được thích:
    20
    Đẳng cấp vượt trội nằm ngoài mọi sự điều chỉnh của VNI và HA INdex. Có điều chỉnh thì em nó tự điều chỉnh ngay trong phiên thôi!
  6. dbp

    dbp Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    25/09/2003
    Đã được thích:
    0
    Thông tin về bauxit như vậy không hẳn tòan thuận lợi đâu bác Rivaldo ạ. Theo như tôi biết thì ngay từ sau năm 75, đã có các kế hoạch khai thác bô xit Tây Nguyên rồi nhưng sau đó đều gác lại vì nhiều yếu tố, nói nôm na là để yên không khai thác quặng nhôm mà trồng cây công nghiệp như cà phê còn hay về kinh tế và môi trường hơn (người Pháp đã chọn phương án đó).
    Bây giờ tình hình có thể thay đổi về cung cầu chẳng hạn, nhưng VN vẫn không làm chủ được cả về vốn, công nghệ khai thác, công nghệ luyện kim mà phải tìm đối tác nước ngòai. Với dự án lớn thế này ở vùng Tây Nguyên lại còn phải tính đến các yếu tố an ninh chính trị + dân sinh khi có cơ sở lớn của nước ngòai tại đó.
    Đây chỉ là bàn về khai thác quặng nhôm, không liên quan gì đến SIC cả vì tôi không biết nhiều về SIC.
    STP thì đơn giản hơn nhiều với mỏ đá trắng, cứ lấy ra khỏi núi, cưa- cắt-nghiền là bán lấy tiền thôi
  7. ngocling

    ngocling Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    07/07/2007
    Đã được thích:
    0
    CỔ PHIẾUN LỞM LÊN DAKNÔNG LÀM KHOÁNG SẢN THẾ LÀ CỔ PHIẾU PHI ẦM ẦM:



    [​IMG]
  8. anhtumlm

    anhtumlm Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/05/2006
    Đã được thích:
    1
    Hôm nay đóng cửa:
    STP: 96,
    SIC: 95,5.
    Quả đúng là kỳ phùng địch thủ...
    Cuộc đua tranh ngày càng quyết liệt..
  9. Rivaldo_bra

    Rivaldo_bra Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    18/06/2002
    Đã được thích:
    0
    Cty e là cty về khai khoáng và làm về mỏ nhiều nên iem biết chứ, khi đã đi vào hoạt động thì là siêu lợi nhuận nhưng quan trọng là để trong báo cáo TC là bao nhiêu, chơi SIC không giống như đánh bạc vì đồng thời với cái tin khai thác khoáng sản thì có tin về LN đột biến, kế hoạch tăng vốn 1:1, Thuỷ điện KrongBong thì đang đi vào hoàn thiện, khu nhà 14B kỳ đồng đang xây và đã có doanh thu và còn vài thứ rau dưa nữa, Khục khục Các bác mua bán nhưng đừng nghe iem bơm vá nhé hế hế, iem xác định đầu tư thằng này, sống chết lúc nào trong TK cũng có CP chứ không đầu cơ như các bác
  10. xlight

    xlight Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    04/04/2007
    Đã được thích:
    3.272
    Sáng nhìn bà con chạy toán loạn....vui thía ko biết!!!
Trạng thái chủ đề:
Đã khóa

Chia sẻ trang này