Tặng các bác 1 con CL: Nhiều công ty có thể sẽ có kết quả kinh doanh năm 2009 bi đát

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi binbin69, 03/07/2009.

61 người đang online, trong đó có 24 thành viên. 04:52 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 510 lượt đọc và 9 bài trả lời
  1. binbin69

    binbin69 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/01/2009
    Đã được thích:
    13
    Tặng các bác 1 con CL: Nhiều công ty có thể sẽ có kết quả kinh doanh năm 2009 bi đát

    http://cafef.vn/2009070311351559CA31/nhieu-cong-ty-co-the-se-co-ket-qua-kinh-doanh-nam-2009-bi-dat.chn[/url]

    Nhiều công ty có thể sẽ có kết quả kinh doanh năm 2009 bi đát
    Báo cáo tài chính của DN là rất quan trọng với nhà đầu tư, những ai cũng biết việc "xào xáo" báo cáo tài chính trong phạm vi chuẩn mực kế toán là rất thông thường.



    Thị trường tháng 7, theo tôi, có thể mô tả bằng cụm từ ?odền dữ và dò dẫm". Vào lúc này, ai cũng biết (cũng tin) nền kinh tế từ nay đến cuối năm 2009 sẽ tốt hơn giai đoạn đầu năm, nhưng trong bối cảnh đó, các công ty niêm yết có tốt hết không?

    Chắc chắn là không, thậm chí nhiều công ty có thể sẽ có kết quả kinh doanh năm 2009 bi đát. Nhiều DN từng được kỳ vọng lợi nhuận lớn từ hoàn nhập dự phòng dầu tư tài chính, nhưng thực tế khoản lợi nhuận chỉ là thật khi DN bán các tài sản này và bán với giá cao hơn giá mua.

    Những cú điều chỉnh TTCK vừa qua chủ yếu là do sự đồn thổi, bởi thực lực tình hình tài chính của DN là chưa đong đếm được vì phải chờ báo cáo hợp nhất của DN.

    Vào lúc này, nếu DN công bố kết quả kinh doanh quý II quá tốt chưa chắc người ta đã tin. Báo cáo tài chính của DN là rất quan trọng với nhà đầu tư, những ai cũng biết việc "xào xáo" báo cáo tài chính trong phạm vi chuẩn mực kế toán là rất thông thường. Chưa kể tình trạng kết quả kinh doanh thất thường mà số liệu tài chính tại VSP là một ví dụ.

    Năm 2008, Công ty này lãi 299 tỷ đồng, sang năm 2009, tại ĐHCĐ mới đây, VSP tại công bố lỗ ước tính khoảng 192 tỷ đồng nếu hợp nhất số liệu tài chính của các công ty con.

    Để tăng tính tin cậy của thông tin DN, rõ ràng DN cần thực hiện soát xét báo cáo tài chính bán niên. Vì ít chỉ đứng ở bên ngoài sẽ không thể biết được nội tình DN, nên cần có một ông kiểm toán vào bên trong lật "cái chăn" ra để cho mọi người biết có "rận? hay không.

    Trong khi nhà đầu tư cá nhân có tâm lý nghe ngóng và dò dẫm thị trường thì các tổ chức đầu tư đang có xu hướng thu hẹp việc quản lý danh mục lại. Cuộc khủng hoảng tài chính mới đây cho thấy, quản trị rủi ro là yêu cầu số 1 đối với các tổ chức tài chính. Tuy nhiên, để cải tổ một danh mục cổ phiếu lớn là không dễ, vì thị trường không còn dễ mua, dễ bán lượng lớn cổ phiếu như trước kia.

    Liên quan đến diễn biến giá, nhiều người bất ngờ khi cổ phiếu VCB tăng giá mà không kéo các cổ phiếu ngân hàng khác tăng theo. Tuy nhiên, nếu nhìn theo xu hướng thu hẹp quản lý danh mục đầu tư sẽ hiểu vấn đề này.

    Mỗi một ngành có một loại rủi ro riêng, nếu đầu tư quá nhiều loại cổ phiếu trong cùng ngành thì nhà đầu tư sẽ đương nhiên phải chấp nhận rủi ro đó.

    Để quản trị rủi ro, tránh rủi ro hệ thống, nhà đầu tư lớn có xu hướng chọn mua cổ phiếu này và bán bớt cổ phiếu kia trong cùng ngành. Trong thời gian tới chúng ta sẽ thấy không có chuyện giá các cổ phiếu tăng theo "họ" DN nữa, mà trong mỗi "họ? sẽ có sự phân hóa tăng, giảm đan xen.

    Theo ông Phạm Kinh Luân
    Trưởng bộ phận Phân tích, CTCK Kenaga
    ĐTCK
  2. GNAXIMOUS

    GNAXIMOUS Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    23/06/2009
    Đã được thích:
    0
    hic, tin này đã đưa rồi mà, dù sao thì thị trường cũng vẫn tăng cho mà xem
  3. binbin69

    binbin69 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/01/2009
    Đã được thích:
    13
    http://vneconomy.vn/20090701111337983P0C10/kinh-te-6-thang-phia-sau-con-so-tang-truong-gdp.htm[/url]

    Kinh tế 6 tháng: Phía sau con số tăng trưởng GDP
    ANH QUÂN
    02/07/2009 10:14 (GMT+7)
    Phản hồi (1) | In bài viết này | [+] Cỡ chữ [-]
    Dòng người và xe trên đường phố Tp.HCM - Ảnh: Getty Images.

    Để xem được Video bạn cần phải cài Flash Player
    Video:

    Sau khi đạt tốc độ tăng trưởng chỉ vỏn vẹn 3,1% trong quý 1/2009, thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây, thì đến quý 2, GDP bất ngờ tăng tốc và đạt 4,5%.

    Tính chung lại, GDP của Việt Nam sáu tháng đầu năm 2009 tăng 3,9%, thấp nhất trong một thập kỷ qua.

    Tại buổi họp báo công bố thống kê kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm 2009 của Tổng cục Thống kê, tổ chức ngày 1/7, nhiều thông tin liên quan đến con số tăng trưởng 3,9% đã được các chuyên gia của Tổng cục "hé mở".

    Tiêu dùng của dân thực chất đã giảm

    Trong khi các chỉ tiêu như vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 6 tháng qua tăng 18,1%, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ cùng thời kỳ cũng tăng 20%, chi tiêu công, xuất khẩu ròng cũng tốt hơn các năm trước, thì vì sao GDP chỉ tăng rất thấp?

    Ông Bùi Bá Cường, Vụ trưởng Vụ Hệ thống tài khoản Quốc gia: Theo số liệu thì tổng mức tiêu dùng, doanh thu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2008 tăng 7,6%, của năm nay tăng 8,8% (đã loại trừ yếu tố giá). Như vậy có nghĩa là sức mua có dấu hiệu phục hồi.

    Nhưng chi tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, theo tính toán sơ bộ của chúng tôi, vẫn giảm. Vì xử lý tổng mức bản lẻ, về mặt kỹ thuật, hơi khác một chút.

    Theo quy ước, bán lẻ là bán cho người tiêu dùng, nhưng thực tế, trong tổng mức bán lẻ không phải tất cả đều bán cho người tiêu dùng mà có một bộ phận vẫn bán tư liệu sản xuất. Không ai người ta ăn thuốc trừ sâu ở đây cả.

    Thứ hai, trong tổng mức bán lẻ, các cơ quan, tổ chức vẫn mua trong đó và phải được tính vào chi phí trung gian. Ví dụ Tổng cục Thống kê mua giấy. Hay với xăng, rất nhiều ôtô của cơ quan đến quấy bán lẻ để mua.

    Nên khi xử lý sang tiêu dùng của người dân là phải loại trừ cái đó. Nếu như theo cách đó, chúng tôi tính rằng tiêu dùng cuối cùng là giảm, chứ không phải tăng.

    Tích lũy thì hầu như không tăng, mặc dù vốn đầu tư là tăng. Về điểm này, chúng ta cần lưu ý là tích lũy liên quan đến tồn kho. Năm ngoái tốn kho khoảng 5% GDP, tức là cỡ khoảng 4,5 tỷ USD.

    Như vậy, 6 tháng đầu năm doanh nghiệp phải bán tồn kho đã. Và sản xuất trừ tồn kho đi thì chỉ tăng có mức độ thôi.

    Ví dụ như vừa rồi chúng tôi đi Phú Thọ, tại Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao, hầu như 6 tháng đầu năm chỉ giải quyết 40.000 tấn tốn kho, hay giấy cũng phải giải quyết 18.000 tấn tốn kho...

    Cho nên với Phú Thọ, khu vực hai (lĩnh vực công nghiệp xây dựng) tăng trưởng âm 3,1% trong 6 tháng đầu năm. Doanh nghiệp sản xuất cầm chừng, chủ yếu tập trung bán hàng thu tiền về.

    Hay trong tay tôi có 9 tỉnh báo cáo về thì Vĩnh Phúc ?omạnh dạn? đưa con số tăng trưởng 6 tháng đầu năm âm 4,3%...

    Nhưng ngược lại, xuất khẩu lại tăng. Mặc dù xuất khẩu theo báo cáo là giảm 10%, nhưng đó là về mặt giá trị. Còn về mặt lượng, 6 tháng đầu năm xuất khẩu gạo tăng 56%, hay dầu thô tăng về lượng 25%.

    Mà khi tính GDP phải loại trừ yếu tố giá để quy về giá năm 1994. Nếu loại trừ yếu tố giá thì tính về mặt lượng, xuất khẩu tăng.

    Vậy khoản 2,3 tỷ USD tái xuất vàng có đóng góp như thế nào đến tăng trưởng GDP 6 tháng qua?

    Ông Nguyễn Bích Lâm, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê: Về 2,3 tỷ USD xuất khẩu vàng, phải xét cơ cấu của nó. Nếu như cơ cấu vàng đã chế biến thành đồ trang sức xuất đi nhiều thì giá trị tăng thêm của nó đóng góp cho GDP sẽ cao.

    Còn nếu chúng ta nhập vàng vàng miếng, vàng cục về mà không chế biến gì, xuất vàng vì giá vàng thế giới đầu năm nay cao thì đóng góp vào GDP không nhiều.

    Ông Bùi Bá Cường: Về tái xuất vàng, nếu không loại trừ vàng, xuất khẩu giảm 10,1%. Nhưng nếu loại trừ vàng, xuất khẩu giảm 18%. Thông qua đó, cũng có thể thấy được một chút đóng góp của xuất khẩu vàng đến tăng trưởng GDP.

    Tính theo tổng cung mà nói thì có thể cho rằng loại vàng ra, tăng trưởng GDP không đến 3,9%.

    Nguy cơ tái lạm phát đang hiển hiện

    Khi nói về con số tăng trưởng GDP 3,9%, Tổng cục Thống kê có nhận xét rằng tăng trưởng chưa vững chắc và lạm phát có khả năng quay trở lại. Xin giải thích rõ nhận định này?

    Ông Bùi Bá Cường: Thứ nhất, hiện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chưa chuyển cho chúng tôi báo cáo về cán cân thanh toán quốc tế của 6 tháng. Nhưng dựa trên số liệu xuất nhập khẩu hàng hóa, nhập siêu 6 tháng đầu năm khoảng 2,1 tỷ USD. Nếu trừ trị giá tái xuất vàng thì nhập siêu tăng lên 4,6 tỷ USD.

    Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khả năng năm 2009 chúng ta sẽ nhập siêu khoảng 10 tỷ USD. Đây là con số rất đáng lưu ý.

    Thứ hai, liên quan đến thu chi ngân sách nhà nước, theo con số của chúng tôi nắm được, thu ngân sách Nhà nước dự toán năm 2009 của Quốc hội đề ra cỡ khoảng 390 nghìn tỷ đồng.

    Thế nhưng, theo nhận định của Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khả năng khó đạt được dự toán thu 390 nghìn tỷ đồng. Và theo những con số mà chúng tôi có được, khả năng con số thực tế sẽ giảm khoảng từ 30 nghìn tỷ đồng đến 60 nghìn tỷ đồng so với con số tính toán.

    Cùng với chính sách kích cầu, theo như Quốc hội vừa thông qua, khả năng bội chi sẽ lên đến khoảng 7% GDP.

    Con số thứ ba, nếu tính GDP theo giá thực tế, 6 tháng đầu năm tăng 12,4%. Trong khi đó, lạm phát là 10,27%. Theo con số mà chúng tôi có được, tốc độ tăng cung tiền cũng đã vượt tốc độ tăng GDP 6 tháng đầu năm (Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho hay, tổng phương tiện thanh toán đã tăng trên 16%, tăng trưởng tín dụng trên 17% - PV).

    Ở đây chúng tôi muốn lưu ý, tăng trưởng cung tiền và GDP phải xoay quanh nhau, nếu không nói rằng cung tiền phải tăng thấp hơn GDP.

    Nhìn lại năm 2008, chúng ta đã làm rất tốt vấn đề này. Nếu như tăng trưởng GDP thực tế năm 2008 là 29% thì cung tiền cỡ khoảng 20%. Thêm nữa, tổng dư nợ tín dụng năm 2008 tăng khoảng 25%, tức là cũng thấp hơn tăng trưởng GDP.

    Trong khi đó thì 6 tháng đầu năm nay, tổng dư nợ tín dụng đã tăng vượt GDP. Điều này cũng có lý do. Năm nay, chúng ta đã đưa một loạt chính sách kích cầu, an sinh xã hội?

    Tôi muốn dẫn nhận định của Tổng cục Thống kê là nền kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc. Và nguy cơ tái lạm phát đang hiển hiện nếu như chúng ta không làm tốt chính sách tài chính.

    Bà Trần Thị Hằng, Vụ trưởng Vụ Thương mại - Dịch vụ - Giá cả: CPI tháng 6 tăng 2,68% so với tháng 12/2008. Đây là mức tăng thấp nhất trong 5 năm trở lại đây. Nó thể hiện sự cố gắng, tính hiệu quả của các giải pháp của chính phủ hướng đến mục tiêu kiềm chế lạm phát trong năm 2008 và trong thời gian vừa qua.

    Nhưng, có một mục tiêu nữa là phải tiếp tục duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý. Và để đảm bảo tăng trưởng thì cũng có những ảnh hưởng tác động đến lạm phát.

    Nhận định về các tháng còn lại của năm, chúng tôi cho rằng giá hàng hóa có thể tăng nhẹ trong những tháng tiếp theo. Thứ nhất là về nền kinh tế thế giới, Mỹ và một số nền kinh tế khác đã có dấu hiệu phục hồi.

    Và sự phục hồi, do vậy nhu cầu về nguyên, nhiên liệu phục vụ sản xuất tăng lên và giá của các mặt hàng, đặc biệt là nguyên liệu thiết yếu có thể sẽ tăng cao. Như chúng ta thấy, giá dầu thô so với thời điểm đầu năm đã có những biến động mạnh và tăng lên. Và giá dầu thì còn tác động đến giá cả nhiều loại hàng hóa nữa.

    Về kim ngạch nhập khẩu của chúng ta đã tăng trở lại, đặc biệt là nhập khẩu nguyên liệu phụ vụ sản xuất. Và như vậy, nhập siêu 6 tháng cuối năm có thể sẽ tăng cao hơn 6 tháng đầu năm.

    Một nguyên nhân nữa, sau một khoảng thời gian dài thắt chặt tiền tệ thì sang năm 2009 có nới lỏng hơn. Tuy nhiên, những chính sách như giảm lãi suất, giảm dự trữ bắt buộc, hay gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng, hỗ trợ lãi suất, giảm thuế? đều góp phần đưa lạm phát quay trở lại. Ngoài ra, nguyên nhân tiền tệ cũng có tác động đẩy lạm phát tăng cao hơn.

    Bên cạnh đó, việc tỷ giá USD so với VND tăng lên thì rõ ràng có ảnh hưởng đến giá hàng hóa trong nước. Và trong 6 tháng đầu năm 2009, chỉ số giá USD đã tăng 5,3% rồi.

    Một yếu tố trong nước nữa là sau khi giá một số mặt hàng được điều chỉnh theo thị trường thì một số giá nguyên vật liệu như than, điện, nước đều đã tăng. Giá xăng dầu điều chỉnh đến hôm nay, 1/7, đã tăng 5 lần liên tục.

    Việc tăng giá nguyên liệu không chỉ ảnh hưởng trực tiếp một lần khi tăng giá mà nó còn ảnh hưởng gián tiếp các vòng tiếp theo đến nhiều hàng hóa khác.

    Xét về tổng thể, cân đối cung cầu cho tới thời điểm này, theo một số dánh giá và dự báo thì vẫn đảm bảo, chưa có dấu hiệu thiếu hàng hay thiếu trong khâu cung. Nhưng hàng dù vẫn có nhưng chi phí đầu vào tăng.

    Sản xuất trong nước cũng còn những diễn biến khó lường có thể xảy ra như thiên tai dịch bệnh? chúng ta cũng chưa thể lường trước được trong 6 tháng cuối năm.

    Với những phân tích như vậy, chúng tôi cho rằng từ nay đến cuối năm, lạm phát vẫn có thể tăng ở mức chấp nhận được, tuy nhiên nguy cơ tái lạm phát có thể kéo tới tận năm sau.

    GDP vẫn còn khả năng đạt mức tăng 5%

    Tổng cục Thống kê có nhận định gì về khả năng đạt được mức tăng trưởng 5% trong năm nay?

    Ông Đỗ Thức, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê: 6 tháng đầu năm, GDP tăng 3,9%. Để cả năm đạt tăng trưởng 5% như Chính phủ đã trình Quốc hội thì 6 tháng còn lại phải tăng 5,9% so với 6 tháng cuối năm trước.

    Ông Nguyễn Bích Lâm: Bối cảnh kinh tế thế giới gần đây có nhiều dấu hiệu đáng mừng. Ví dụ chỉ số niềm tin của người tiêu dùng EU tăng từ 70,2 lên 72,5 điểm %. Rồi trong khu vực, chỉ số niềm tin người tiêu dùng Thái Lan cũng tăng hơn 20%.

    Ngay ở Mỹ cũng có dấu hiệu tốt. FED đã giữ nguyên lãi suất 0% để khuyến khích sản xuất. Rồi chỉ số niềm tin người tiêu dùng Mỹ cũng tăng.

    Đó là dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế. Hay gần đây, Nga cũng có dấu hiệu phục hồi. Việt Nam cũng có tín hiệu tốt như trong ngành dệt may, thủy sản đãy ký nhiều đơn hàng. Doanh nghiệp dệt may bây giờ phải tuyển gấp lao động?

    Còn ngành nào đóng vai trò dẫn dắt để chúng ta đạt mức tăng trưởng GDP 5% trong năm nay thì các nhà kinh tế đưa ra ngành xây dựng đáp ứng được yêu cầu này do độ co dãn lao động cao.

    Theo tính toán của chúng tôi, nếu ngành xây dựng đạt mức tăng trưởng trên 10% thì chúng tôi tin rằng GDP sẽ đạt mức 5% trong năm nay.

    Theo suy nghĩ của cá nhân tôi, chỉ tiêu tăng trưởng GDP 5% cũng có khả năng chúng ta đạt cao hơn với những dấu hiệu phục hồi kinh tế mạnh như vậy, cộng với các chính sách quyết liệt của chúng ta.

    Ông Bùi Bá Cường: Về mặt cung thì nên tập trung vào khu vực 1 (nông - lâm - ngư nghiệp) và ngành công nghiệp xây dựng.

    Thứ hai, về mặt cầu phải kích thích tiêu dùng. Như chúng tôi tính, 6 tháng đầu năm chưa đạt yêu cầu về kích thích tiêu dùng. Sáu tháng đầu năm nay, tiêu dùng dân cư đã tăng trưởng âm cỡ khoảng xấp xỉ 10% so với 6 tháng đầu năm trước.
  4. binbin69

    binbin69 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/01/2009
    Đã được thích:
    13
    ?oSiêu tổng công ty? tiếp tục thoái vốn tại hơn 200 doanh nghiệp
    MINH ĐỨC
    02/07/2009 23:08 (GMT+7)
    Phản hồi (0) | In bài viết này | [+] Cỡ chữ [-]
    Lực cầu của thị trường gia tăng mạnh những tháng vừa qua là một thuận lợi đối với kế hoạch thoái vốn của SCIC - Ảnh: Quang Liên.

    Để xem được Video bạn cần phải cài Flash Player
    Video:

    Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) lên kế hoạch thoái vốn tại 200 doanh nghiệp trong 6 tháng cuối năm.

    Thông tin trên được SCIC đưa ra ngày 2/7, cùng với một số kết quả hoạt động trong 6 tháng đầu năm 2009.

    Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm (tính đến 20/6), ?osiêu tổng công ty? này đã thực hiện bán vốn tại 66 doanh nghiệp, gần bằng con số đã thực hiện được trong năm 2008 (69 doanh nghiệp); trong đó bán vốn toàn bộ tại 60 trường hợp; giá trị ghi sổ phần vốn bán là 152,3 tỷ đồng, giá trị thực tế thu về là 229,92 tỷ đồng, giá bán bình quân trên mệnh giá đạt 1,5 lần.

    Theo Tổng giám đốc SCIC Trần Văn Tá, sở dĩ có được kết quả trên là do một số rào cản về cơ chế bán vốn đã bước đầu được tháo gỡ và thị trường trong những tháng vừa qua đang có những chuyển biến tích cực, đặc biệt là lực cầu đã có những gia tăng đáng kể. Bên cạnh đó, SCIC cũng đã có những biện pháp chủ động hơn như tăng cường phối hợp với các địa phương, các công ty chứng khoán; tìm kiếm, tiếp cận các nhà đầu tư tiềm năng, đồng thời thực hiện các đề án tái cơ cấu để cải thiện tình hình hoạt động và quản trị doanh nghiệp, tạo sự hấp dẫn hơn của ?onguồn hàng? đối với các nhà đầu tư.

    Theo kế hoạch, trong 6 tháng còn lại của năm 2009, SCIC sẽ tiếp tục bán vốn tại hơn 200 doanh nghiệp.

    Về định hướng thoái vốn chung, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh cho biết thêm, hiện việc SCIC quản lý quá nhiều doanh nghiệp nhỏ thuộc những ngành, lĩnh vực mà Nhà nước không cần nắm giữ vốn sẽ khiến hoạt động của Tổng công ty dàn trải, phân tán.

    ?oĐể thực hiện có hiệu quả chức năng cổ đông năng động của doanh nghiệp và nhà đầu tư chiến lược của Chính phủ, SCIC phải nhanh chóng tái cơ cấu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, phấn đấu đến cuối năm 2012, tổng số doanh nghiệp trong danh mục chỉ còn hơn 100 và đó là những doanh nghiệp lớn, hoạt động trong những ngành, lĩnh vực thiết yếu Nhà nước cần nắm giữ vốn?, Bộ trưởng Ninh nói.

    Về hoạt động đầu tư mới, trong 6 tháng đầu năm 2009, SCIC đã quyết định đầu tư góp vốn vào dự án Nhiệt điện Quảng Ninh với tỷ lệ tham gia 10% vốn điều lệ. Dự kiến nhà máy này sẽ phát điện chính thức trong tháng 9/2009. Ngoài ra, tổng công ty này cũng đang kết hợp với các nhà đầu tư chuyên ngành triển khai loạt dự án như dự án sân bay Long Thành, khu tài chính - ngân hàng Thủ Thiêm (Tp.HCM), Tháp tài chính (Hà Nội)...

    Cũng theo thông tin vừa công bố, 6 tháng đầu năm 2009, doanh thu của SCIC đạt 1039,17 tỷ đồng, bằng 42,76% kế hoạch; trong đó lợi nhuận thực hiện trước thuế là 868,9 tỷ đồng, bằng 58,78% kế hoạch.

    http://vneconomy.vn/20090702094945339P0C7/sieu-tong-cong-ty-tiep-tuc-thoai-von-tai-hon-200-doanh-nghiep.htm[/url]
  5. binbin69

    binbin69 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/01/2009
    Đã được thích:
    13
    Chỉ số IIP và thực chất sản xuất công nghiệp 6 tháng qua
    ANH QUÂN
    03/07/2009 09:41 (GMT+7)
    Phản hồi (0) | In bài viết này | [+] Cỡ chữ [-]
    Đẩy mạnh khai thác khoáng sản có vai trò lớn trong việc lấy lại tốc độ tăng trưởng GDP 3,9% trong 6 tháng đầu năm.

    Để xem được Video bạn cần phải cài Flash Player
    Video:

    Ngày 1/7, Tổng cục Thống kê công bố chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm 2009.

    Quanh chỉ số này có một số điểm rất đáng lưu ý.

    Thứ nhất, quý 1/2009, chỉ số IIP cho thấy tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp ở mức rất thấp: 1,5%. Tuy nhiên, đến quý 2/2009, IIP đã tăng mạnh, là cơ sở để ngành công nghiệp đạt mức tăng chỉ số IIP 4,5% trong 6 tháng đầu năm.

    Thứ hai, đóng góp vào mức tăng 4,5% chủ yếu đến từ công nghiệp khai thác (tăng 10,4%); tiếp đó là đến công nghiệp sản xuất, phân phối điện, khí đốt và nước (tăng 6,7%).

    So với cùng kỳ năm 2008, IIP ngành công nghiệp chế biến quý 1/2009 thậm chí đã giảm 1,6% và chỉ tăng thấp trong quý 2/2009 để đạt mức tăng 1,5% trong 6 tháng đầu năm.

    Liên quan đến tỷ trọng đóng góp các lĩnh vực công nghiệp, theo thông tin từ Vụ Hệ thống tài khoản Quốc gia (Tổng cục Thống kê), lượng tồn kho lên đến 5% GDP vào thời điểm cuối năm 2008, tương đương khoảng 4,5 tỷ USD. Đây là nguyên nhân chính khiến công nghiệp chế biến tăng thấp hơn nhiều mức trung bình toàn ngành.

    Thứ ba, công nghiệp khai thác được dẫn dắt bởi mức tăng ấn tượng của dầu thô (IIP khai thác dầu thô và khí tự nhiên tăng 15% so cùng kỳ với sản lượng dầu thô khai thác tăng gần 18%), được cho là đã "che mờ" những tín hiệu khó khăn từ sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến.

    Đẩy mạnh khai thác khoáng sản có vai trò lớn trong việc lấy lại tốc độ tăng trưởng GDP 3,9% trong 6 tháng đầu năm. Tuy nhiên, với những khoáng sản không tái tạo mà một số ý kiến cho rằng nên là "của để dành" như dầu thô, thì việc tăng khai thác tại thời điểm giá như hiện nay khó có thể làm rõ là lợi hay không có lợi.

    Thứ tư, nhiều tỉnh, thành phố có quy mô sản xuất công nghiệp lớn có chỉ số IIP 6 tháng đầu năm tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ như Vĩnh Phúc giảm 13,5%; Đà Nẵng giảm 4,7%; Tp.HCM tăng rất thấp ở mức 0,4% và Hà Nội tăng 2,7%.

    Điều này cho thấy, ngành công nghiệp chế biến của Việt Nam có sức chống chịu kém hơn so với các ngành, lĩnh vực khác trước suy thoái kinh tế toàn cầu. Và việc tái cơ cấu ngành công nghiệp có lẽ nên được thúc đẩy nhanh hơn trong thời gian tới.

    Thứ năm, chỉ số tồn kho các ngành công nghiệp chế biến tại thời điểm 1/6/2009 so với 1/6/2008 đã tăng 34,6% và có xu hướng tăng nhẹ trong những tháng gần đây.

    Nếu so với tháng bình quân năm gốc 2005, chỉ số này của tháng 1/2009 tăng 41%, tháng Hai tăng 41,9%, tháng Ba tăng 46,5%, tháng Tư tăng 49%, tháng năm tăng thấp hơn và đạt 47,2%, nhưng tháng Sáu lại tăng 49,7%.

    So với cùng thời điểm một năm trước, chỉ số tồn kho tại thời điểm 1/6/2009 của ngành sản xuất mỹ phẩm, xà phòng, chất tẩy rửa đã tăng 436,4%; ngành thức ăn gia súc tăng 318,5%; bia và mạch nha tăng 213,9%; phân bón và hợp chất nitơ tăng 210,7%; giấy nhăn và bao bì tăng 162,8%; bột giấy và giấy bìa tăng 155,4%; sắt thép tăng 154,2 gạch, ngói, gốm sứ tăng 150,9%...

    Chỉ có rất ít ngành có chỉ số tồn kho giảm so với cùng thời điểm 1/6 năm trước như chỉ số tồn kho sản xuất đường giảm 20,5%; dây và cáp điện giảm 5,9%; xi măng giảm 4,9%; sơn và vecni giảm 4%...

    Tóm lại, những con số vừa được Tổng cục Thống kê công bố cho thấy, ngành công nghiệp chế biến đang thực sự khó khăn về đầu ra sản phẩm.

    Và dường như, những gói kích thích tài chính vẫn chưa tác động nhiều đến bộ phận sản xuất công nghiệp thực trong 6 tháng qua.

    * Chỉ số IIP được Tổng cục Thống kê nghiên cứu và thực hiện dưới sự hỗ trợ kỹ thuật của JICA (Nhật Bản) từ năm 2005, dự kiến sẽ thay thế cho chỉ tiêu giá trị sản xuất công nghiệp giá cố định sau năm 2010. Phương pháp tính IIP theo chuẩn mực quốc tế, cho phép so sánh kết quả với các nước. Đồng thời, quá trình thu thập, tính toán cũng cho biết thêm chỉ số tiêu thụ sản phẩm và chỉ số tồn kho, cung cấp đẩy đủ hơn chu kỳ, xu hướng sản xuất - tiêu thụ - tồn kho của ngành công nghiệp.

    http://vneconomy.vn/20090702030857436P0C10/chi-so-iip-va-thuc-chat-san-xuat-cong-nghiep-6-thang-qua.htm[/url]
  6. GNAXIMOUS

    GNAXIMOUS Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    23/06/2009
    Đã được thích:
    0
    vãi hàng, ông định dìm chết CK hả, huhu
  7. binbin69

    binbin69 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/01/2009
    Đã được thích:
    13
    http://tinnhanhchungkhoan.vn/tintuc.php?nid=21151[/url]

    Ngày 03-07-2009, 09:46
    Hạn chế ?odòng tiền nóng? có lợi cho thị trường
    Thị trường sẽ không chứng kiến làn sóng giải chấp cổ phiếu.
    (ĐTCK) Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính (VAFI) vừa có bản nhận định về tình hình cho vay đầu tư chứng khoán trong thời gian vừa qua. Theo VAFI, tại thời điểm hiện tại, TTCK điều chỉnh và phân hoá, cũng là thời điểm giảm đáng kể các ?odòng tiền nóng?.

    Điểm đáng chú ý trong đợt điều chỉnh này là các NĐT chứng khoán đầu tư bằng tiền đi vay đã nhanh chóng cơ cấu lại nguồn tiền đầu tư, không tiếp tục vay mượn hoặc giảm đáng kể lượng tiền đi vay khi TTCK bước vào giai đoạn điều chỉnh. Vì vậy, thị trường không chứng kiến cảnh nguồn cung cổ phiếu cầm cố được các CTCK bán ra mạnh. Tín dụng đầu tư chứng khoán giảm, làm giảm giá trị giao dịch hàng ngày, tuy nhiên những dòng tiền quá ngắn hạn theo kiểu T+ cũng giảm đáng kể, nhà đầu tư bớt lo lắng với các dòng tiền nợ, điều đó làm tăng tính ổn định cho thị trường.

    Khi dư nợ chứng khoán giảm đáng kể (hiện ước chỉ còn khoảng 5.000 tỷ đồng) sẽ không có nhiều nguồn cung cổ phiếu cầm cố tiềm tàng, điều này không làm cho TTCK giảm sâu. VAFI nhận định, so với cùng kỳ năm 2008, hiện nay thị trường đang ở trạng thái điều chỉnh và sẽ phân hoá theo kết quả kinh doanh quý II/2009, nhưng ở trạng thái ổn định hơn nhiều so với thời gian trước đó do ?odòng tín dụng nóng? gần như đã được xử lý.


    PV
  8. binbin69

    binbin69 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/01/2009
    Đã được thích:
    13
    http://cafef.vn/20090704090818461CA32/khung-hoang-se-tai-dien-neu-khong-quyet-liet-chinh-don-nganh-ngan-hang.chn[/url]


    Khủng hoảng sẽ tái diễn nếu không quyết liệt chỉnh đốn ngành ngân hàng
    Cơn hoảng loạn mùa thu 2008 đã nhạt nhòa. Thời kỳ những bài học dễ tiếp thu còn thay đổi dễ thực hiện đã khép lại. Nếu không đổi thay triệt để, khủng hoảng nữa là chắc chắn.



    Trong một bài phát biểu gần đây, Thống đốc FED Elizabeth Duke kể về một giai thoại sau khi Lehman Brothers sụp đổ tháng 9 năm ngoái.



    Có người hỏi Chủ tịch FED Ben Bernanke: ?oNếu chúng ta không làm gì thì nền kinh tế sẽ ra sao??, ông trả lời: ?oĐến thứ 2 sẽ chẳng còn cái gọi là nền kinh tế nữa.? Thay vào đó, tất cả các định chế có tầm quan trọng đối với toàn hệ thống đều được cứu, bằng cách đổ mọi rủi ro lên vai người nộp thuế.



    ?oKhông bao giờ lặp lại? thì có lẽ khó mà thực hiện được. Nhưng ít nhất không thể xảy ra quá hai lần trong một thế hệ. Chính phủ không thể gánh nổi, về tài chính, chính trị và có lẽ cả đạo đức nữa: không thể hy sinh cuộc sống của quá nhiều người chỉ vì một thiểu số ngu ngốc.



    Thứ còn lại sau cuộc khủng hoảng sẽ là một hệ thống tài chính còn tồi tệ hơn trước. Những tập đoàn tài chính khổng lồ sống sót được sẽ tạo thành một hệ thống độc quyền tập đoàn ?oquá lớn và quá gắn kết để sụp đổ?.



    Họ chiến thắng vì tất yếu họ là các công ty tốt nhất, nhưng cũng vì họ được hỗ trợ nhiều nhất. Từ những động cơ để chấp nhận rủi ro, không khó tưởng tượng các định chế này giờ đang làm gì.



    Vậy họ sẽ làm những gì? Những thay đổi quy định phù phiếm và vô ích. Một phần đề xuất gần đây của Bộ Tài chính Mỹ cũng vậy. Nhưng hệ thống tài chính cần được giải cứu ngay từ cách quản lý rủi ro sai lầm của nó. Không thể thay đổi bằng cách giám sát từ bên ngoài mà chỉ có thể thay đổi từ động cơ làm việc.



    Bắt đầu từ những tập đoàn ?oquá lớn để sụp đổ?, chúng ta cần một hệ thống đáng tin để đặt dấu chấm hết cho những định chế tài chính thậm chí còn lớn hơn. Đề xuất hấp dẫn nhất là về các ?ongân hàng tốt? theo đó những người cho vay không được bảo đảm trở thành cổ đông. Sẽ dễ dàng hơn nếu như Tổng thống Barack Obama và Thống đốc Ngân hàng Anh Mervyn King nói, một định chế được điều tiết lên kế hoạch ngừng dần các hoạt động của mình.



    Ngân hàng sụp đổ cũng giống như xe buýt: có khi đợi cả giờ chẳng thấy chiếc nào, có khi lại đến thành hàng đoàn. Chính quyền không thể hứa chắc rằng họ đã chuẩn bị cho tất cả các định chế bị ảnh hưởng phá sản nếu cuộc khủng hoảng toàn hệ thống xảy ra. Điều đó chỉ làm mọi chuyện thêm loạn. ?oQuá lớn và quá gắn kết? là một thực tế, như Andrew Haldane tại NHTW Anh đã chỉ ra trong một phát biểu gần đây, hệ thống tài chính là một mạng lưới liên kết ngày một chặt chẽ.



    John Kay lập luận rằng cách tốt nhất là tạo ra các ?ongân hàng hẹp?, tuyệt đối an toàn, và để phần còn lại của hệ thống tài chính cứ hoạt động như mình muốn, kể cả phải đối mặt với nguy cơ phá sản. Ý tưởng này tuy hấp dẫn nhưng thiếu thuyết phục. Hấp dẫn là đương nhiên nhưng thiếu thuyết phục một phần vì khó đồng thuận được xem ngân hàng hẹp sẽ hoạt động thế nào, quan trọng hơn là vai trò của phần còn lại của hệ thống tài chính và khó có chuyện chính phủ để chúng sụp đổ.



    Nếu các định chế quá lớn và quá gắn kết để có thể sụp đổ, và không có một giải pháp cơ cấu gọn ghẽ nào thì phải tìm cách khác: yêu cầu số vốn lớn hơn và chú ý hơn tới tính thanh khoản. Hiện nay, các định chế tài chính lớn hoạt động mà gần như không có vốn: năm 2007 tại Mỹ, đòn cân nợ trung bình của các ngân hàng thương mại là 35:1; ở Châu Âu là 45:1.



    Điều này khiến các cổ đông đồng ý làm ăn kiểu dốc túi mà kết quả là gì thì mọi người đều đã biết. Cho phép các định chế hoạt động vì lợi ích của cổ đông, những người chỉ bỏ ra có 3% vốn, là một hành động điên rồ. Cố gắn lợi ích của nhà quản lý với cổ đông thậm chí còn điên rồ hơn. Với cơ cấu vốn hiện nay, các định chế tài chính lớn đang đánh bạc bằng tiền nộp thuế của dân.



    Vậy thì bao nhiêu vốn mới đủ cho các tổ chức có tầm quan trọng với toàn hệ thống? Câu trả lời là nhiều hơn hiện nay rất nhiều. Hơn nữa, số vốn yêu cầu cũng phải không được nhiều rủi ro và dựa vào mô hình ngân hàng hiện đã không thể tin tưởng được. Nguồn quỹ từ cổ đông cần chiếm tối thiểu 10% vốn. Ở Mỹ, tỷ lệ này từng cao hơn nhiều.



    Thêm nữa, vốn lớn hơn là cách tốt để hấp thu những ảnh hưởng ngoại ứng tiêu cực, chính xác hơn là rủi ro mà một định chế tạo ra cho toàn hệ thống. Do đó, lý tưởng nhất là số vốn yêu cầu phải gắn liền với tầm quan trọng của định chế đó. Hơn nữa, vốn bắt buộc phải được đối chiếu với mọi hoạt động, dựa trên báo cáo kết toán tổng hợp đầy đủ.



    Trong một hệ thống tài chính với nguồn vốn vững chắc, tương đối dễ thực hiện chế độ ?ocẩn trọng vĩ mô?, với số vốn bắt buộc tăng trong thời bùng nổ kinh tế và giảm khi suy thoái. Một lần nữa, phần vốn của cổ đông càng lớn, càng ít phải lo lắng xem phần thưởng cho các nhà quản lý có gắn kết với họ hay không. Kể cả vậy, các cơ quan điều tiết phải có biện pháp kiểm soát động cơ quản trị, vì người nộp thuế vẫn là người hứng chịu rủi ro cuối cùng.



    Vẫn còn hai thách thức chính: thời kỳ quá độ và thay đổi quy định.



    Về thời kỳ quá độ, yêu cầu tỷ lệ vốn cao hơn nhiều có thể đe dọa quá trình phục hồi, vì thế thời kỳ quá độ phải đủ dài, có lẽ phải lên tới một thập kỷ. Về quy định thì rõ ràng không thể để cái gọi là ?ohệ thống ngân hàng ngầm? họat động ngoài giới hạn vốn nếu nó có tầm quan trọng với toàn hệ thống, như trường hợp của các quỹ trên thị trường tiền tệ.



    Hơn nữa, tỷ số vốn đáng lẽ phải được áp dụng ở tất cả các nước lớn. Nhưng nước Mỹ đủ thực lực để áp đặt quy định đó bằng cách yêu cầu tất cả các ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ nước Mỹ phải có số vốn thích hợp.



    Nói tóm lại, muốn có hệ thống tài chính khỏe mạnh hơn thì việc đầu tiên là phải giảm đòn cân nợ. Nó sẽ phát huy hiệu quả tối đa nếu từ bỏ được thói quen vay nợ chính phủ khổng lồ



    Hiện giờ, thay đổi dần dần một cách thận trọng chứ không phải cách tân triệt để mới là lựa chọn rủi ro. Và trước hết phải cải cách từ đâu? Câu trả lời đã rõ: động cơ làm việc.



    Theo FT

    Minh Tuấn
  9. binbin69

    binbin69 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/01/2009
    Đã được thích:
    13
    http://vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/2009/07/3BA10CF8/

    KINH DOANHThứ sáu, 3/7/2009, 15:53 GMT+7
    E-mail Bản In
    Ngân hàng khát vốn

    Từ giữa tháng sáu, ngân hàng cổ phần theo nhau tăng mạnh lãi suất huy động ở các kỳ ngắn. Chưa thành xu hướng rõ nét, song biểu hiện này dễ khiến người ta liên tưởng ngân hàng đang chịu áp lực về vốn.

    Lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại vẫn tăng dần sau mỗi tuần. Nhưng gần đây, sự điều chỉnh tập đang trung nhiều hơn ở các kỳ hạn ngắn (dưới 12 tháng), đặc biệt 6 tháng. Ngay từ tuần đầu tháng sáu, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng được các ngân hàng cổ phần đẩy lên trên mốc 8%. Trước đó, người gửi tiền chỉ được hưởng lãi quanh quẩn 7-7,5% nếu chọn kỳ hạn này. Cuối tháng, vài ngân hàng còn nâng lãi suất kỳ hạn 3 tháng qua ngưỡng 8%.

    Đại Á Bank đang giữ vị trí đầu tiên trong nhóm các ngân hàng cổ phần có lãi suất ngắn hạn cao nhất. Nhà băng này mạnh tay trả 8,6% cho khách gửi tiền kỳ hạn 6 tháng. 4 ngân hàng tiếp sau đều áp dụng lãi suất 8,5-8,55% cho kỳ hạn này. Khiêm tốn nhất là 2 ngân hàng mới thành lập Tiên Phong và Liên Việt, đều có lãi suất tiết kiệm 6 tháng 8,1%.

    Điều dễ khiến người ta nhớ lại cuộc khủng hoảng thanh khoản quý II và quý II năm ngoái, khi các ngân hàng đua nhau dâng lãi suất kỳ hạn ngắn cao hơn cả kỳ hạn dài. Thị trường tiền tệ ổn định, lãi suất ở kỳ hạn dài thường cao hơn kỳ hạn ngắn. Hiện tại, lãi suất ở các kỳ hạn trên 6 tháng vênh nhau không đáng kể. Thậm chí vài ngân hàng còn để lãi suất 5 tháng cao hơn 6 tháng, 6 tháng cao hơn 9 tháng.


    Ngân hàng cần vốn để cho vay theo chương trình kích cầu của Chính phủ. Ảnh: Hoàng Hà
    Tính thanh khoản của các ngân hàng đang được chú ý, khi mà tăng trưởng tín dụng luôn vượt tốc độ tăng huy động vốn. Tình hình có thể khó khăn hơn, khi kinh tế phục hồi, nhu cầu vốn tăng mạnh. Trong cuộc đua hút vốn từ dân cư, ngân hàng cũng phải cạnh tranh với nhiều kênh đầu tư khác như chứng khoán, bất động sản và vàng. Tâm lý lo ngại lạm phát quay trở lại cũng khiến họ không mấy mặn mà gửi tiết kiệm nếu lãi suất vẫn ở mức thấp.

    Câu chuyện đồn thổi xung quanh cách tiếp thị của Standard Chartered Bank đang được giới đầu tư lấy làm ví dụ về tình trạng khát vốn của các ngân hàng. Tuần qua, thị trường chứng khoán đảo chiều đi xuống, nhiều nhà đầu tư rút vốn hoặc để nằm yên trong tài khoản. Có tin đồn rằng người Standard Chartered đến cậy nhờ nhân viên môi giới của các công ty chứng khoán, xem có nhà đầu tư nào rút vốn thì mời tới ngân hàng gửi tiền.

    Trao đổi với VnExpress.net chiều qua, Tổng giám đốc Standard Chartered Bank Việt Nam Ashok Sud phủ nhận thông tin này. Tuy nhiên ông cho rằng trong bối cảnh thị trường cạnh tranh, mỗi ngân hàng đều có cách thức riêng để tiếp cận và tuyên truyền cho khách hàng của mình. "Dòng tiền nhàn rỗi từ dân cư, cũng như từ chứng khoán hay các kênh khác, nếu được định hướng vào ngân hàng sẽ rất tốt. Một ngân hàng nào đó cử nhân viên tới gặp gỡ các nhà đầu tư cá nhân và tư vấn cho họ về cách quản lý dòng tiền, cũng là một cách làm không quá ngạc nhiên", ông nói thêm.

    Cũng theo ông Ashok Sud việc tăng lãi suất tiết kiệm ở các kỳ hạn ngắn của các ngân hàng cổ phần trong nước chỉ mang tính cục bộ, phụ thuộc vào tình trạng thanh khoản của từng ngân hàng, chứ không phản ánh bức tranh chung của cả hệ thống.

    Tổng giám đốc LienVietBank Nguyễn Đức Hưởng thừa nhận các ngân hàng đang tích cực cho vay và có dấu hiệu tạm thời căng thẳng vốn, Liên Việt có thể cân nhắc tăng lãi suất theo để giữ khách. Theo phỏng đoán của ông Hưởng, có thể nhu cầu vay vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh và đầu tư ngắn hạn đang tăng mạnh. Trong khi đó, việc thu hút vốn nhàn rỗi từ dân cư không gặp thuận lợi như trước. Khách đến hạn lĩnh tiết kiệm không gửi lại ngay mà thường tính toán kỹ lưỡng, nhiều người quyết định đem tiền về.

    6 tháng đầu năm, vốn huy động của toàn hệ thống ngân hàng chỉ tăng 16,2%, trong khi lượng vốn cho vay tăng 17%. Ở một số ngân hàng, tốc độ tăng trưởng tín dụng lên tới trên dưới 50%, cũng cao hơn nhiều so với huy động. Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu kiểm soát tăng trưởng tín dụng cả năm dưới 30% và ổn định lãi suất. Lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước công bố vẫn duy trì mức 7% suốt từ tháng 2 và tiếp tục áp dụng trong tháng 7.

    Song Linh
  10. lily111

    lily111 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    01/07/2009
    Đã được thích:
    0
    Ôi !! lấy đâu ra mà lắm chữ thế . đọc được mỗi cái tiêu đề
    thì buồn ngủ..



    ________________________________

Chia sẻ trang này