Tăng trưởng tín dụng nhanh: Tín hiệu tốt cho chứng khoán?

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi tiencua68, 22/11/2009.

1623 người đang online, trong đó có 649 thành viên. 17:42 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 837 lượt đọc và 0 bài trả lời
  1. tiencua68

    tiencua68 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    04/12/2007
    Đã được thích:
    0
    Tăng trưởng tín dụng nhanh: Tín hiệu tốt cho chứng khoán?

    http://dddn.com.vn/20091119114943692cat109/tang-truong-tin-dung-nhanh-tin-hieu-tot-cho-chung-khoan.htm[/url]

    Tăng trưởng tín dụng nhanh: Tín hiệu tốt cho chứng khoán?

    Cập nhật Cập nhật lúc 04:18 - Chủ nhật, 22/11/2009

    Gần đây, trên thị trường chứng khoán người ta rất quan tâm đến tăng trưởng tín dụng. Vậy tốc độ tăng trưởng tín dụng ở Việt Nam ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán như thế nào? Đâu là tích cực, đâu là tiêu cực?

    Tăng trưởng tín dụng chỉ báo đầu tư

    Một số vấn đề cơ bản nhất cần quan tâm khi xem xét, đánh giá chất lượng của tăng trưởng tín dụng là: nguyên nhân tăng trưởng tín dụng; tăng trưởng tín dụng có quá mức hay không?; tăng trưởng tín dụng có tuân thủ nguyên tắc thận trọng (quản lý hiệu quả) không?; ai là người được hưởng lợi chính từ tăng trưởng tín dụng?

    Theo các nghiên cứu và khảo sát của Ngân hàng thanh toán quốc tế BIS, xét trong trung hạn, mức tăng trưởng tín dụng chỉ nên gấp ba lần mức tăng trưởng kinh tế, và đây được coi là tăng trưởng tín dụng hợp lý. Nhiều nghiên cứu cũng kết luận rằng, khi cung ứng tín dụng quá mức thì tính dễ tổn thương của các NHTM tăng lên - thể hiện ở việc NHTM dễ dàng cho doanh nghiệp vay hơn, đồng nghĩa với việc NHTM chấp nhận rủi ro cao hơn. Đó là vì, do có được đồng vốn một cách dễ dàng nên các doanh nghiệp có xu hướng sử dụng vốn kém hiệu quả hơn. Thậm chí khi doanh nghiệp được vay với lãi suất thấp họ sẽ thực hiện đầu cơ, hơn là đầu tư, vào bất động sản, đầu cơ chứng khoán, và do vậy doanh nghiệp trở nên rủi ro hơn. Trên phương diện tổng thể, khi tín dụng tăng nhanh như vậy thì khu vực sản xuất, doanh nghiệp sẽ rủi ro hơn, đồng thời làm cho giá chứng khoán tăng trong ngắn hạn. Thế nhưng, đây lại là tín hiệu xấu đối với thị trường chứng khoán nếu xét về trung hạn vì bong bóng chứng khoán có thể xẹp bất cứ lúc nào.

    Người ta cũng đã chỉ ra rằng, nhiều khi tăng trưởng tín dụng mạnh lại là hiệu ứng của tình trạng ngoại tệ chảy vào quá nhiều, gây mất cân đối kinh tế vĩ mô. Nghiên cứu hiệu ứng của dòng vốn quốc tế chảy vào các nền kinh tế mới nổi trong những năm 1990, Hiệp hội các Ủy Ban Chứng khoán quốc tế (IOSCO) đã chỉ ra rằng: ?oTrên phương diện kinh tế vĩ mô, khi các dòng vốn quốc tế chảy mạnh vào một quốc gia có chế độ tỷ giá hối đoái tương đối cứng nhắc có thể gây ra tình trạng tổng lượng tiền trong lưu thông tăng lên quá mức. Cơ chế này được nhiều quốc gia đang phát triển ưa sử dụng nhằm ?oneo? giá cả trong nước về mặt danh nghĩa và duy trì vị thế cạnh tranh trên trường quốc tế. Tình trạng này sẽ dẫn đến việc gia tăng các hoạt động kinh tế, gia tăng lạm phát và tăng tỷ giá hối đoái thực. Hơn nữa, dòng tiền sẽ đổ dồn vào thị trường chứng khoán, bất động sản, và như vậy càng tiếp thêm nhiên liệu cho các ?obong bóng? giá cả, gây khủng hoảng?.

    Tăng trưởng tín dụng và VN-Index

    Đã có một số nghiên cứu kết luận rằng, trong năm 2007, Việt Nam phải đối mặt với dòng vốn nước ngoài vào quá nhiều do có ít nhất khoảng 20 tỷ USD đổ vào Việt Nam thông qua dịch vụ du lịch, giải ngân vốn FDI và vốn vay ODA, kiều hối, và đầu tư của nước ngoài vào cổ phiếu và trái phiếu ... Đây là nguyên nhân chính gây nên hiệu ứng về bùng nổ tín dụng, bong bóng chứng khoán, bong bong bất động sản, gia tăng lạm phát trong năm 2008.

    Thực tế cũng cho thấy, trong giai đoạn 2006 - 2007, TTCK Việt Nam đã có sự bùng nổ do tăng trưởng tín dụng quá nóng. Đây là thời kỳ Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO và ngay lập tức dòng vốn bên ngoài chảy vào khá mạnh và nhanh. Ngân hàng Nhà nước phải bơm tiền ra để mua ngoại tệ vào, thậm chí có thời điểm phải tuyên bố hạn chế mua ngoại tệ... Số liệu thống kê cho thấy, mức tăng trưởng tín dụng năm 2007 đạt gần 54% so với năm 2006, một mức tăng kỷ lục so với những năm trước đó. Và do vậy, thị trường chứng khoán cũng đạt mức đỉnh điểm (VN-Index đạt 1.300 điểm) vào cuối năm 2007. Nếu so với lộ trình phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2010 với mục tiêu đạt mức vốn hóa thị trường vào khoảng 15-20% GDP thì chỉ đến năm 2007 mức vốn hóa thị trường đã lên hơn 40% GDP. Rõ ràng đây là sự phát triển quá nhanh mà ngay cả những người lạc quan nhất cũng không thể hình dung nổi.

    Sau thời kỳ tăng trưởng nóng, theo đúng qui luật, thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua những chuỗi ngày dài gian nan. Việc NHNN chuyển từ chính sách nới lỏng sang thắt chặt tiền tệ trong năm 2008 được coi như một gáo nước lạnh dội vào TTCK Việt Nam đang sôi. Chỉ số chứng khoán giảm sút liên tục.

    Trong khi chưa thoát khỏi những hệ lụy của chính sách thắt chặt tín dụng đột ngột thì nền kinh tế lại phải đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế quốc tế được coi là sâu rộng nhất trong nhiều thập kỷ qua. Để đối phó với suy thoái kinh tế, Việt Nam đã thực hiện một số giải pháp nới lỏng, trong đó có nới lỏng tiền tệ thông qua hỗ trợ lãi suất. Điều đáng chú ý là, kể từ khi chính sách này được thực thi hồi quý 2/2009 tín dụng đã tăng trưởng rất mạnh. Chỉ trong 10 tháng đầu năm, tăng trưởng tín dụng đạt 33,8% so với hồi cuối năm 2008, vượt xa khỏi mức mong muốn của NHNN. Cũng trong thời kỳ này, TTCK Việt Nam đã dẫn đầu thế giới về mức độ hồi phục. Trong vòng 3 tháng, VN-Index tăng từ mức 226 điểm lên 600 điểm.

    Một điều đáng quan tâm nữa là, trong thời kỳ này TTCK Việt Nam dường như lại rất nhạy cảm với các tin đồn về tín dụng hay về các gói kích thích kinh tế của Chính phủ. Cụ thể, đã có thời điểm dường như cả thị trường đều trông đợi vào gói kích thích kinh tế thứ 2 của Chính phủ. Hoặc giả, nếu có bất kỳ tin đồn gì về thắt chặt tín dụng thì TTCK lập tức mất điểm. Còn nếu có tin không thắt chặt tín dụng thì TTCK ngay lập tức lại bật dậy.

    Thực tế cho thấy, không phải bất cứ sự tăng trưởng tín dụng nào cũng là tín hiệu tốt cho doanh nghiệp hay nền kinh tế. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, trong trung hạn, việc tăng trưởng tín dụng đi kèm với việc sử dụng vốn kém hiệu quả ở các doanh nghiệp sẽ gây hiệu ứng tiêu cực đến TTCK chứ không phải tích cực.

    Theo mức chuẩn tắc của BIS nêu trên, tăng trưởng tín dụng của Việt Nam trong nhiều năm qua, đặc biệt là năm 2007, là quá mức và thực tế đã tác động xấu đến giá chứng khoán. Mức tăng trưởng tín dụng của cả năm 2009 dự báo có thể lên tới 35% cũng có thể coi là nóng. Đánh giá về tình trạng kinh tế Việt Nam, gần đây Ngân hàng thế giới (WB) cũng đã cảnh báo kinh tế Việt Nam đang có dấu hiệu bong bóng. Kinh nghiệm năm 2007 cho thấy, nhà đầu tư và Chính phủ cần thống nhất một nhận thức rằng: trước tiên là tăng trưởng tín dụng quá nóng và sau đó là giá chứng khoán tăng liên tục và tăng quá nhanh không phải là một dấu hiệu tốt cho thị trường trong trung và dài hạn. Những động thái giảm cung tín dụng của NHNN gần đây cho thấy, Chính phủ đã nhận thấy rõ điều này.
    Ts Lê Văn Hinh

Chia sẻ trang này