Tây chê VNI đắt

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi rucuacn, 15/09/2010.

168 người đang online, trong đó có 67 thành viên. 05:04 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 533 lượt đọc và 9 bài trả lời
  1. rucuacn

    rucuacn Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    01/02/2008
    Đã được thích:
    1.231
    HSBC: Giá cổ phiếu ở Việt Nam chưa đủ hấp dẫn

    (NDHMoney) HSBC cho biết, ở thời điểm này vẫn thận trọng về thị trường chứng khoán Việt Nam.

    [​IMG]
    HSBC cho rằng, sự đắt rẻ của giá cổ phiếu vẫn là yếu tố quan trọng hơn cả tác động tới thanh khoản. Ảnh: Đức Long
    Trong báo cáo Vietnam Monitor số 30 ra ngày 14/9/2010, ngân hàng HSBC nhận định, thị trường chứng khoán Việt Nam đang có mức giá rẻ hơn so với nhiều thị trường khác trong khu vực, nhưng khuyến cáo các nhà đầu tư tiếp tục giữ quan điểm thận trọng ở thời điểm này.
    Mặc dù vậy, HSBC cho rằng, thị trường có thể xảy ra những đợt tăng giá trong ngắn hạn.

    Về tình hình thị trường trong tháng 8, HSBC nhận xét, việc hãng định mức tín nhiệm Fitch đánh tụt điểm tín nhiệm nợ công của Việt Nam, cộng với việc Ngân hàng Nhà nước bất ngờ nâng tỷ giá tham chiếu USD/VND đã trở thành những yếu tố tác động xấu tới thị trường. Kể từ Fitch hạ điểm tín nhiệm nợ của Việt Nam hôm 28/7 tới nay, chỉ số VN-Index đã tụt mất 14%, có phiên đã chạm đáy 423 điểm.

    Sau đó thị trường đã phục hồi trở lại, nhưng giá trị giao dịch vẫn ở mức thấp. Giá trị bình quân giao dịch hàng ngày trong vòng 1 tháng trở lại đây của cả hai sàn HOSE và HNX cộng lại chỉ còn 96 triệu USD, giảm 20% so với hồi tháng 7.

    Báo cáo nhận định, việc 27 công ty mới tham gia niêm yết không đủ sức hỗ trợ cho giá trị giao dịch, vì đây phần lớn là những doanh nghiệp nhỏ, có giá trị vốn hóa dưới 100 triệu USD.

    [​IMG]Biểu đồ VN-Index. Nguồn HSBC, BloombergTrong phần nhận định về triển vọng của thị trường, các nhà phân tích của HSBC cho rằng, hoạt động tăng vốn của các ngân hàng trong thời gian tới để đảm bảo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước sẽ hạn chế khả năng tăng điểm của VN-Index.

    Cụ thể, yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước gồm hai điểm chính. Thứ nhất, các ngân hàng phải có ít nhất 3.000 tỷ đồng vốn điều lệ. Thứ hai, phải đạt hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) ở mức 9% thay vì 8%. Thời hạn hiệu lực của quy định này là ngày 1/10.

    HSBC tỏ ý hoan nghênh quyết tâm thực hiện quy định trên của Ngân hàng Nhà nước, đồng thời cho rằng, quy định ngặt hơn về vốn có thể buộc các ngân hàng yếu phải đi đến những lựa chọn như sáp nhập hoặc giải thể. Báo cáo nhận định, thị trường chứng khoán có thể trải qua những xáo trộn cho tới khi các ngân hàng huy động đủ vốn.

    Ngoài ra, HSBC cũng tỏ thái độ ủng hộ việc cơ quan chức năng của Việt Nam tăng cường nỗ lực kiểm soát những sai phạm trong lĩnh vực chứng khoán, như công bố thông tin sai lệch, không đầy đủ, thao túng giá cổ phiếu, giao dịch nội bộ bất hợp pháp… HSBC cho rằng, đây là cách làm đúng hướng của Việt Nam.

    Theo tính toán của HSBC, hệ số P/E của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện ở mức 11,9 lần. Với mức dự báo tăng trưởng lợi nhuận 25% cho năm 2010, thì P/E dự báo cho năm 2010 sẽ là 9,5 lần. So với một số thị trường khác trong khu vực như Thái Lan (P/E dự báo năm 2010 là 12,2 lần), Philippines (P/E dự báo năm 2010 là 15,4 lần), giá cổ phiếu ở Việt Nam đang rẻ hơn.

    Tuy nhiên, theo HSBC, thanh khoản đang là một vấn đề của thị trường chứng khoán Việt Nam. Số công ty có giá trị vốn hóa trên 200 triệu USD của Việt Nam hiện là 30 công ty, giảm 1 công ty so với hồi tháng 7. Trong khi đó, số cổ phiếu hết “room” của nhà đầu tư nước ngoài đã giảm từ 5 xuống còn 3.

    Với các lý do như tính thanh khoản kém của thị trường, mức độ minh bạch thấp, và tính chất khó đoán biết của môi trường vĩ mô, HSBC cho rằng, giá cổ phiếu ở Việt Nam cần phải rẻ hơn mới đủ độ hấp dẫn như thị trường Hàn Quốc, nơi có mức P/E dự báo cho 2010 là 9,2 lần.

    [​IMG]Biểu đồ giá trị giao dịch của thị trường chứng khoán. Nguồn: HSBC, Bloomberg.Báo cáo đã chỉ ra hai nhân tố có thể dẫn tới sự tăng điểm của chứng khoán Việt Nam trong ngắn hạn, bao gồm việc Chính phủ có thể đưa ra những biện pháp hỗ trợ thị trường, và việc sàn HOSE kéo dài thời gian khớp lệnh liên tục thêm 30 phút.

    Tuy nhiên, HSBC cho rằng, sự đắt rẻ của giá cổ phiếu vẫn là yếu tố quan trọng hơn cả tác động tới thanh khoản. Vì lý do đó, khép lại báo cáo, HSBC cho biết, ở thời điểm này, họ vẫn thận trọng về thị trường chứng khoán Việt Nam.




    Trần Lê Minh - NDHMoney
  2. rucuacn

    rucuacn Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    01/02/2008
    Đã được thích:
    1.231
    Đánh chứng , chơi với VNI bây giờ như đùa với lửa
    Tây bắt đầu chê đắt
    Ta lỗ be bét
  3. rucuacn

    rucuacn Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    01/02/2008
    Đã được thích:
    1.231
    Đây mới là 1 trạng thái bắt đầu báo hiệu chứng khoán không còn là một kênh đầu tư sinh lời nữa
  4. rucuacn

    rucuacn Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    01/02/2008
    Đã được thích:
    1.231
    Số lượng các các nhà đầu tư nội thua lỗ chiếm đến trên 90%
  5. mbbank

    mbbank Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    14/09/2008
    Đã được thích:
    6.985
    Vậy ngài lên đây post làm gì???????? Không sinh lời thì post làm gì vậy?????????[:p][:p][:p];));));))
  6. VHC2010

    VHC2010 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    15/03/2010
    Đã được thích:
    1.729
    Có thể gọi là quá đắt, DN vừa chào sàn thì lúc nào PE=15 trở lên, GTSS=1/3-->1/5 giá trị TT, thử hỏi nó có up nổi không? Vừa niêm yết là mong xả vỡ mặt NĐT rùi, lên sàn xong là chuỗi ngày giảm sàn liên tục. Có mã giảm 70% giá trị so với ngày niêm yết như HPB, CMI,.... Rất nhiều mã đang có GTSS từ 2k-9k trong khi giá gấp 3-7 lần, thử hỏi giá có đắt hay rẻ,...:)):)):)):))
  7. rucuacn

    rucuacn Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    01/02/2008
    Đã được thích:
    1.231
    Niềm tin của nhà đầu tư ngoại với Việt Nam bị lung lay?

    (NDHMoney) Với nhà đầu tư ngoại, uy tín của Việt Nam bị giảm sút sau khi khoản vay của một số tập đoàn kinh tế Nhà nước không được sử dụng hiệu quả.

    [​IMG]
    Quang cảnh buổi hội thảo “Nợ Công - Kinh nghiệp quốc tế và những bài học cho Việt Nam”
    >>“Quốc hội chưa bao giờ dễ tính với khoản vay của Chính phủ”

    Thông tin trên được TS. Benedict Bingham, Đại diện thường trú cao cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam đưa ra tại hội thảo “Nợ Công - Kinh nghiệp quốc tế và những bài học cho Việt Nam” do Ủy ban Tài chính Ngân sách Quốc hội và UNDP tổ chức sáng 15/9 tại Hà Nội.

    Tại hội thảo, các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước và các nhà quản lý của Việt Nam đã thẳng thắn trao đổi thực trạng và nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng nợ công của một số nước trên thế giới, liên hệ với thực tế tại Việt Nam.

    Theo ông Hoàng Hải, Cục phó Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính), tính đến 31/12/2009, nợ công so với GDP của Việt Nam là 52,6%, trong đó nợ Chính phủ/GDP là 41,9%, nợ Chính phủ bảo lãnh/GDP là 9,8%.

    Riêng nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP là 38,8%, trong đó nghĩa vụ trả nợ Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước là 15,8%, còn nghĩa vụ trả nợ nước ngoài trung dài hạn so với xuất khẩu là 4,2%.

    Theo ông Hải, hầu hết các thống kê trên vẫn nằm trong ngưỡng an toàn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, do cơ cấu đồng tiền vay nợ của Việt Nam khá đa dạng nên cũng tiềm ẩn những rủi ro khi có biến động trên thị trường tài chính thế giới.

    Bên cạnh đó, danh mục nợ của Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại những bất cập, chẳng hạn như công tác huy động vốn ODA vẫn còn thụ động, nhiều khoản vay ODA còn gắn với những ràng buộc làm tăng chi phí đầu vào, phân bổ vốn vay còn dàn trải, cơ chế cảnh báo sớm còn hạn chế....

    Ngoài ra, theo ông Hải, hiện các chỉ tiêu nợ vẫn trong tầm kiểm soát nhưng một số rủi ro cần phải được tính toán đo lường chính xác hơn, trong khi đó rủi ro tín dụng chưa được phản ánh trong chi phí vay và chi phí bảo lãnh của Chính phủ.

    Cùng với đó, quản lý nợ công của Việt Nam còn phải đối mặt với những thách thức không nhỏ trong thời gian tới do nhu cầu đầu tư phát triển và thâm hụt ngân sách đòi hỏi phải tiếp tục tăng huy động vốn vay trong và ngoài nước, vốn vay ODA giảm dần, biến động trên thị trường tài chính thế giới...

    Tuy nhiên, theo ông Alex Warren Rodrigez, Kinh tế trưởng của UNDP tại Việt Nam, qua quan sát của ông trong quá trình công tác tại Việt Nam, nhìn chung với những vấn đề gì đã khá rõ ràng thì Chính phủ và Quốc hội giải quyết rất nhanh chóng và hiệu quả.

    Tuy nhiên, cảnh báo của ông tới Chính phủ Việt Nam rằng, không phải vấn đề gì cũng được rõ ràng, hiện rõ ra để có thể giải quyết, đặc biệt là trong vấn đề quản lý tài chính công. Chính vì vậy, với những số liệu không được minh bạch thì khả năng ứng phó trong những trường hợp này là rất thụ động và kém hiệu quả.

    “Khủng hoảng kinh tế năm 1997 đã cho thấy, nhiều Chính phủ khi đó đã phải gánh những khoản nợ khổng lồ của các tập đoàn, ngân hàng do không nhìn thấy những tảng băng chìm từ trước’, ông Rodrigez cảnh báo.

    Trong khi đó, theo TS. Benedict Bingham, nếu Việt Nam chỉ nhìn vào một vài con số cụ thể hay chỉ nhìn vào ngưỡng nợ công/GDP thì chắc chắn sẽ không thể có được đánh giá chính xác về tình hình nợ công hiện nay.

    Theo ông, điều quan trọng là phải xem xét chất lượng nợ, tương quan giữa các khoản ngắn hạn, dài hạn, các thông tin liên quan đến khoản nợ... thì mới có thể có được cái nhìn toàn diện về thực trạng nợ công.

    Cũng theo đại diện IMF, việc Vinashin thất bại đã ảnh hưởng đến tín nhiệm của các nhà đầu tư nước ngoài đối với Việt Nam trong thời gian gần đây. Những thông tin cập nhật tình hình Vinashin của Việt Nam đã được đăng tải phổ biến trên các mặt báo ở nước ngoài.

    “Chính điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Việt Nam, qua đó làm giảm niềm tin từ nhà đầu tư nước ngoài khi họ quyết định đầu tư hay thông qua các khoản vay nợ”, ông Rodrigez cho biết.

    Đáp lại những cảnh báo trên, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính -Ngân sách Quốc hội Phùng Quốc Hiển thừa nhận, trước đây Việt Nam đã từng có tình trạng lơ là các khoản nợ công. Tuy nhiên, cùng với việc ban hành Luật Quản lý nợ công, hiện Chính phủ và Quốc hội cũng đã tăng cường giám sát các khoản vay nợ trong và ngoài nước.

    Ông Hiển cũng khẳng định, quan điểm của Quốc hội không phải là các khoản vay ít hay nhiều mà phải là tính đến khả năng trả nợ và sử dụng đồng vốn vay đó có hiệu quả hay không.



    Hồng Hạnh - NDHMoney
    Tây lông chán ngán VNI nữa rồi

  8. rucuacn

    rucuacn Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    01/02/2008
    Đã được thích:
    1.231
    Tuần qua, lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh

    (NDHMoney) Ngân hàng Nhà nước vừa có thông báo về hoạt động ngân hàng trong tuần từ 3-9/9/2010.

    [​IMG]
    Lãi suất huy động USD tuần qua có xu hướng tăng. Ảnh: Đức Long
    Theo Ngân hàng Nhà nước, tuần qua, lãi suất huy động bằng VND cơ bản ổn định so với tuần trước, chỉ có Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội điều chỉnh tăng khoảng 0,2%/năm đối với các kỳ hạn trên 12 tháng.

    Trong khi đó, lãi suất huy động USD có xu hướng tăng với mức tăng khoảng 0,2-0,3%/năm. Một số ngân hàng thương mại cổ phần (Ngoại thương, Á Châu, Quân đội) điều chỉnh tăng từ 0,2-0,3%/năm ở hầu hết các kỳ hạn.

    Cũng theo Ngân hàng Nhà nước, tổng doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đạt xấp xỉ 147.750 tỷ VND và 4,160 tỷ USD, bình quân đạt khoảng 16.417 tỷ VND và 462 triệu USD/ngày.

    So với tuần trước, doanh số giao dịch bình quân/ngày VND giảm 3 tỷ VND/ngày, trong khi đó doanh số giao dịch bình quân/ngày USD tăng 69 triệu USD/ngày. Các giao dịch VND chủ yếu phát sinh đối với các kỳ hạn ngắn (qua đêm và 1 tuần và 2 tuần).

    Doanh số giao dịch qua đêm VND đạt 55.728 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 38% so với tổng doanh số giao dịch cả tuần; USD đạt 2,102 tỷ USD, chiếm 51% tổng doanh số cả tuần.

    Đối với các giao dịch bằng VND, so với tuần trước, lãi suất giao dịch bình quân VND đồng loạt tăng ở tất cả các kỳ hạn, trong đó đáng chú ý là lãi suất 6 tháng tăng từ 11,66% lên 13,30%; các kỳ hạn còn lại đều có mức tăng giao động từ 0,2% đến 0,58%.

    Lãi suất bình quân qua đêm tăng 0,39% so với lãi suất qua đêm tuần trước, hiện ở mức 7,16%/năm. Lãi suất bình quân các kỳ hạn ngắn (dưới 3 tháng) dao động từ 7,16% đến 9,09%/năm.

    Đối với các kỳ hạn 3 tháng trở lên, chỉ có kỳ hạn 3 tháng lãi suất dưới 10%, còn lại đều trên mức 11,2%. Trong tuần, lãi suất cho vay cao nhất là 18%/năm, lãi suất cho vay thấp nhất là 5,8%/năm (không tính lãi suất không kỳ hạn).

    Trái ngược với VND, so với tuần trước lãi suất bình quân USD tuần này giảm ở tất cả các kỳ hạn, trong đó giảm mạnh nhất là lãi suất kỳ hạn 12 tháng, giảm từ 3,13% xuống còn 1,99% (giảm 1,13%).

    Tiếp đến là lãi suất kỳ hạn 3 tháng, giảm từ 1,55% xuống còn 0,87% (giảm 0,68%); lãi suất kỳ hạn 1 tháng và 6 tháng có mức giảm tương đối, lần lượt giảm 0,27% và 0,34%; các kỳ hạn còn lại lãi suất có mức giảm không đáng kể.

    Lãi suất bình quân qua đêm ở mức 0,32%/năm; lãi suất bình quân các kỳ hạn còn lại dao động từ 0,51% đến 1,99%/năm.

    Lãi suất bình quân thị trường liên ngân hàng tuần qua - Đơn vị: %/năm:
    [​IMG]
  9. Dong-Ta

    Dong-Ta Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    10/09/2010
    Đã được thích:
    0
    Tiêu đề hay :))
  10. rucuacn

    rucuacn Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    01/02/2008
    Đã được thích:
    1.231
    Còn hơn 3,7 tỷ cổ phiếu chờ phát hành năm 2010

    Vấn đề doanh nghiệp tăng vốn mạnh trong năm 2010 đã trở thành tâm điểm chú ý của thị trường.

    Vậy thực chất việc tăng vốn của doanh nghiệp trong năm 2010 như thế nào và cho tới thời điểm này, tác động của nó đối với dòng tiền vào thị trường ra sao?

    Theo thống kê tại Bảng 1, năm 2010, các doanh nghiệp niêm yết đã lên kế hoạch phát hành 1,28 tỷ cổ phiếu không thu về tiền mặt (thông qua chia tách), tương đương 7,7% số lượng cổ phiếu đang lưu hành trên cả 2 sàn HSX và HNX vào thời điểm 31/12/2009. Trong kế hoạch chia tách, các doanh nghiệp thực hiện khá nhanh nhẹn: đến hết tháng 8/2010, doanh nghiệp trên 2 sàn HSX và HNX đã thực hiện được 81% kế hoạch đặt ra.

    [​IMG]
    Phát hành cổ phiếu thu về tiền mặt cũng chiếm phần đáng kể, tuy nhiên được thực hiện chậm hơn: với kế hoạch hút về 19.378 tỷ đồng, cho tới 31/8/2010, các doanh nghiệp niêm yết (không kể ngân hàng) trên hai sàn thu được 48% số kế hoạch và chỉ còn 4 tháng nữa để hoàn tất việc hút về thêm 9.316 tỷ đồng trong điều kiện thị trường vốn không thuận lợi. Đáng chú ý, nếu chia theo đối tượng phát hành thì phát hành cho cổ đông hiện hữu thu tiền về chiếm tỷ trọng lớn nhất (66%), có thể là do phát hành cho cổ đông hiện hữu có tính khả thi cao (cổ đông hiện hữu nếu từ chối quyền mua sẽ chịu rủi ro pha loãng, vì giá cổ phiếu bị sụt giảm tương ứng với lượng cổ phiếu phát hành thêm).

    Phát hành trái phiếu chuyển đổi là một trào lưu từ nửa cuối năm 2009; trong năm 2010, các doanh nghiệp dự định phát hành và thu về 7.713 tỷ đồng, trong đó mới thực hiện được gần 2.000 tỷ đồng.
    Xét về giá trị, giả sử giá của cổ phiếu thưởng mà cổ đông nhận được chỉ tính theo mệnh giá, thì số tiền mà doanh nghiệp dự định giữ lại từ việc thưởng cổ phiếu này (thay vì trả cổ tức bằng tiền mặt) là 12.800 tỷ đồng, còn tổng số lượng phát hành cổ phiếu thu về tiền mặt và trái phiếu chuyển đổi theo kế hoạch là 27.091 tỷ đồng.

    Thống kê trên chưa bao gồm thông số quan trọng về tăng vốn của các ngân hàng. Năm 2010, các ngân hàng niêm yết trên 2 sàn dự định thu hút 17.000 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu và 1.500 tỷ đồng thông qua trái phiếu chuyển đổi. Tính đến ngày 6/9/2010, có 23 ngân hàng thương mại cổ phần chưa đáp ứng đủ vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng. Để đáp ứng được mức vốn điều lệ này, 23 ngân hàng cần tăng ít nhất 32.447 tỷ đồng từ nay tới cuối năm. Số tiền này là chưa kể các ngân hàng đã đáp ứng vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng cũng có kế hoạch tăng vốn. Đáng lưu ý là đa số ngân hàng đều nhận được giấy phép tăng vốn trong tháng 7 - 8/2010, vì vậy áp lực tăng vốn của các ngân hàng chủ yếu sẽ rơi vào nửa cuối năm.

    Việc phát hành cho cổ đông hiện hữu cũng là một vấn đề khi nhiều doanh nghiệp đầu tư lẫn sang nhau. Ví dụ, Ngân hàng Bảo Việt tăng vốn cho cổ đông hiện hữu, ngoài BVH thì cổ đông của Ngân hàng còn có CMC và VNM, vì vậy các doanh nghiệp này cũng phải chuẩn bị phương án góp vốn.
    Số liệu trên cũng chưa tính đến việc tăng vốn của các doanh nghiệp trên thị trường OTC; các đợt IPO đã và đang được tiến hành trong năm 2010, trong đó đáng kể có Petrovietnam Gas dự định thu hút khoảng 150 triệu USD từ đợt chào bán 5% vốn điều lệ ra công chúng vào đầu tháng 10.

    Ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán

    Lượng vốn huy động thu tiền mặt 27.091 tỷ đồng của thị trường năm 2010 theo kế hoạch (chưa kể khối ngân hàng) bằng 4,4% vốn hóa trên cả 2 sàn và bằng 7,4% vốn hóa 2 sàn nếu tính cả khối ngân hàng vào ngày 31/12/2009. Con số này không phải là quá lớn và được "thấm hút" phần nào bởi lượng đầu tư gián tiếp ròng của nhà đầu tư nước ngoài trị giá 1,8 tỷ USD vào Việt Nam trong nửa đầu 2010.
    Xin được nhắc lại, nguồn cung của thị trường chứng khoán tăng lên là một yếu tố tích cực. Tuy nhiên, phía cầu mà theo thống kê trên chủ yếu là nguồn vốn trong nước không dồi dào, nếu không muốn nói là dần bị thu hẹp từ quý II, nên không đáp ứng được phần tăng cung. Một nguyên nhân "nặng cân" là các ngân hàng - nguồn cung cấp vốn quan trọng đang gặp khó khăn trong tăng trưởng tín dụng nói chung và tín dụng cho đầu tư chứng khoán nói riêng. Áp lực tăng vốn từ nay tới cuối năm của các ngân hàng lớn gần gấp 3 lần của các doanh nghiệp niêm yết.

    Ở bất kỳ vấn đề nào, ý nghĩa nằm ở hiện tại và tương lai, chứ không phải là cái đã diễn ra. Thị trường vốn nhiều khả năng vẫn khó khăn từ giờ tới cuối năm và để thực hiện kế hoạch tăng vốn thì các doanh nghiệp sẽ phải phát hành riêng lẻ hơn 3,7 tỷ cổ phiếu nữa so với tổng số cổ phiếu đang lưu hành ngày 31/8/2010 là 22,4 tỷ cổ phiếu, tương đương với rủi ro pha loãng 19% cho từ giờ tới cuối năm. Nhìn về tương lai xa hơn, khi ngân hàng và doanh nghiệp hoàn tất quá trình tăng vốn, điều đáng quan tâm sẽ là số tiền đã được các doanh nghiệp nhanh chóng huy động và tích lũy trong thời gian qua được sử dụng như thế nào để tạo hiệu quả lên tăng trưởng của doanh nghiệp, kích cầu cho các doanh nghiệp khác cũng như nền kinh tế.

    [​IMG]



    Theo Việt Phương - Đầu tư Chứng khoán

Chia sẻ trang này