Tây quá khôn , trận hay đầy kịch tính đang ở phía trước

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi phuongxa20, 08/10/2010.

2263 người đang online, trong đó có 905 thành viên. 10:04 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 9439 lượt đọc và 105 bài trả lời
  1. phuongxa20

    phuongxa20 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/06/2005
    Đã được thích:
    226
    Các nhà đầu tư quốc tế đã mua hơn 40 tỷ USD trái phiếu tại các thị trường mới nổi trong 9 tháng đầu năm, gấp 4 lần mức kỷ lục của cả năm ngoái.
    Không chỉ ở những nền kinh tế đang phát triển, lượng tiền mua trái phiếu toàn cầu cũng như trái phiếu của các quỹ ở Mỹ cũng sẽ lập kỷ lục mới trong năm nay.
    Số liệu mới công bố của EPFR, hãng chuyên theo dõi sự dịch chuyển của các dòng vốn đầu tư quốc tế, khiến nhiều người lo ngại nguy cơ bong bóng trên thị trường nợ.
    Cameron Brandt, chuyên gia thị trường toàn cầu của EPFR nhận định đầu tư vào thị trường trái phiếu mới nổi đang là xu thế lớn của năm nay, nhất là khi các nhà đầu tư muốn tìm kênh tương đối an toàn mà vẫn có lợi tức cao. "Nhưng mua trái phiếu ở đây, người ta sẽ phải bỏ qua nhiều rủi ro chính trị", ông Brandt khuyến cáo.
    Phần lớn trong số 40 tỷ USD đầu tư vào trái phiếu của các nước đang phát triển 9 tháng qua có nguồn gốc từ thị trường tiền tệ. Theo thống kê, khoảng 500 tỷ USD đã rút khỏi kênh đầu tư tiền tệ trong thời gian này, khi mà nhà đầu tư bắt đầu chán ngấy việc các nước duy trì lãi suất thấp và đua nhau phá giá đồng tiền.
    Và trong cuộc đua đón nhận nguồn vốn nhàn rỗi này, các nước mới nổi chiếm ưu thế nhiều hơn. Tính chung 9 tháng đầu năm, các nhà đầu tư đã rót 50 tỷ USD vào thị trường chứng khoán các nước mới nổi trong khi rút 80 tỷ USD ra khỏi các nước phương Tây.
    "Thị trường mới nổi đang được nhìn nhận là bớt rủi ro hơn so với trước. Dễ thấy nhất là họ không còn các vấn đề nợ nần nghiêm trọng như từng mắc trong lịch sử", Michael Penn, chiến lược gia đầu tư chứng khoán toàn cầu của Merrill Lynch nói. Ông Penn cho rằng nơi đây đáng để đầu tư dài hạn.
    Tuy vậy, Bank of America mới đây đã khuyến cáo các nhà đầu tư giảm bớt trạng thái đầu tư vào những thị trường này do lo ngại lực cầu tăng quá mạnh thời gian qua có thể dẫn tới điều chỉnh trong ngắn hạn.
  2. hosino

    hosino Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa Not Official

    Tham gia ngày:
    10/06/2009
    Đã được thích:
    2.463
    chíh vì có người coi đây là cơ hội nân mới là cơ hội cho người khác [:D]
  3. phuongxa20

    phuongxa20 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/06/2005
    Đã được thích:
    226
    USD mat gia thi Tay no mua ck cat luc , thu 2 no lai mua khong duoi 100 ty
  4. phuongxa20

    phuongxa20 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/06/2005
    Đã được thích:
    226

    Ko mua cp phat khung cho ve 1x vi co ban cp nay thuoc hang luot song , ko ai dai gi doi chot ca , duoi 1x cang tot ,chi mua cp co ban tot
  5. thichdochanh

    thichdochanh Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa Not Official

    Tham gia ngày:
    09/08/2009
    Đã được thích:
    688
    Chjm of khoai Tây dài và to hơn khoai ta nên phát này kẹp đau phải biết.
    Của các bác được bao mà cũng đòi đú ?
    Em biết thân biết phân lên ... lướt ra ngoài và đứng xem.
  6. phuongxa20

    phuongxa20 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/06/2005
    Đã được thích:
    226


    Voi lai suat bang " o " thi khoi Tay muon kep , noi ro no giu 5, 10 nam cung chang la bao chi toi cac chu doanh nghiep lam cong lung ma tra lai nhe
  7. phuongxa20

    phuongxa20 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/06/2005
    Đã được thích:
    226
    Ta tuong in giay phat cho no , thi no khong in giay phat lai cho ta ha .....cai chinh la giay nao co gia =))=))=))
  8. phuongxa20

    phuongxa20 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/06/2005
    Đã được thích:
    226
    nghien cuu them nhe :



    Người Việt khôn hay dại?

    Tác giả: Nguyễn Hoàng Đức
    Bài đã được xuất bản.: 9 giờ trước
    • Cái khôn ranh chỉ là bản năng sống rình mồi kiếm ăn của các loài thú. Chỉ có cái khôn của hiểu biết mới biến con người thành công trình sư cho số phận của mình.
    LTS: Sau khi đăng tải bài viết "Người Việt có thông minh không?", Tuần Việt Nam nhận được nhiều ý kiến thảo luận, tranh cãi xung quanh chủ đề này. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam sẽ lần lượt giới thiệu các góc nhìn khác nhau. Mời bạn đọc cùng thảo luận thêm.
    Người Việt có thông minh không?
    "Tấm bằng tiến sĩ không làm tôi thông minh hơn..."
    Một cây đàn không làm nên dàn nhạc?
    Người Việt có danh từ "Lương - tri", có nghĩa là: Con người ta chỉ có lương tâm - khi đi kèm tri thức. Từ "lương tri", theo gốc Latin là Conscience - cũng có nghĩa là ý thức. Nó được các triết gia từ cổ đại đến hiện đại bàn rốt ráo rằng, người ta chỉ có thể có lương tâm khi có ý thức và hiểu biết để phân biệt được cái hay - cái dở, cái tốt - cái xấu, cái phải - cái trái. Trình độ tri thức, khôn hay dại, vì thế vô cùng quan trọng, bởi vì nó chính là trình độ của lương tâm, cái sẽ xây nên tầm vóc của xã hội.
    Người Việt có thông minh không, hay chỉ khôn lỏi thôi? Mới đây, chúng ta có Giáo sư Ngô Bảo Châu đoạt giải Field thế giới về toán học, vậy thì ai dám nói là người Việt không thông minh?
    Thế nhưng, vài chuyên gia đã chứng minh về cái gọi là "tâm lý đại biểu". Nghĩa là, thay vì bàn về sự thành - bại căn cứ vào bản thân mình, họ thường viện dẫn bằng tâm lý đại biểu, để nâng mình lên, rằng ở có người này người khác, ở phố kia, làng nọ, hay nước khác chẳng kém ai.
    [​IMG]Giáo sư Ngô Bảo ChâuXét về sự khôn - dại của người Việt ta cũng tương tự. Nếu cả nước ta lấy GS Ngô Bảo Châu ra để tự hào chính là dùng "tâm lý đại biểu" để ngụy biện cho mình. Lấy cái cố gắng, cái thông minh, cái thành công cao nhất của một con người bao phủ cho sự thiếu cố gắng, thiếu tư duy, và thiếu thành công cho bản thân mình, hay là cả dân tộc.
    Đó sẽ là một niềm kiêu hãnh nguy hiểm, vì một bông hoa không làm nên vườn hoa, một người không làm nên dân tộc, và như nhạc sĩ thiên tài Shuman (1810-1853) nói: "Cái hay của âm nhạc nằm trong dàn nhạc". Nếu chúng ta chỉ cậy vào một cá nhân để tự hào, thì thay vì chúng ta có một dàn nhạc đại toàn tấu thì chúng ta chỉ có mỗi một cây đàn đang độc tấu.
    Dân tộc 100 triệu người vẫn có thể là dân tộc... bé
    Trước hết chúng ta hãy đưa ra một khung cảnh chung về một sự so sánh. Dân tộc Thụy Sĩ giờ đây có khoảng 5 triệu dân, cách đây gần 2 thế kỷ, lúc chỉ có khoảng vài chục vạn dân nhưng họ đã nổi tiếng về loại hình quốc hội mở ngoài trời, và có bộ não yêu sự chính xác đến mức tạo ra những chiếc đồng hồ nổi tiếng hoàn cầu.
    Dân tộc Bồ Đào Nha, cách đây vài thế kỷ, cũng chỉ có khoảng vài chục vạn dân, vậy mà họ đã đóng những đoàn thuyền buồm lớn, chạy đua với Tây Ban Nha, sang tận châu Mỹ để tìm kiếm những thuộc địa mới.
    Lần ngược lịch sử, các dân tộc Bắc Âu cũng vậy, vào lúc chỉ có một nhúm dân số, họ đã từng trở thành những kẻ khét tiếng chinh phục trên biển.
    Còn nước Anh , cách nhiều thế kỷ, vào lúc dân số cũng lèo tèo một vài triệu, nhưng đã giong buồm đi chinh phục khắp thế giới với 1 khẩu hiệu ngạo nghễ rằng "Mặt trời không bao giờ lặn trên Vương quốc Anh".
    [​IMG]Thụy Sĩ nổi tiếng là nước sản xuất đồng hồ hàng đầu thế giới
    Ở ngay cạnh nước Việt, có Campuchia, dân số bằng 1/ 10 nước ta, nhưng lại có công trình Angkor Wat, một quần thể kiến trúc kỳ vĩ và đồ sộ hàng đầu thế giới. Công trình này có lẽ được xây dựng vào lúc dân số của họ chỉ đếm tới hàng vạn. Còn Việt Nam thì sao?
    Theo số liệu mới nhất, nước Việt Nam hiện đang đứng thứ 12 về dân số, như vậy là sắp lọt vào "top ten". Rõ ràng chúng ta không nhỏ, trái lại còn là một cường quốc về dân số. Nhưng phẩm chất dân số thì sao? Theo các đánh giá về tri thức, giáo dục, nhân bản, xã hội, pháp luật, hay kinh tế... chúng ta còn nằm ở mức rất thấp, gần sát đáy của nửa cuối các dân tộc trong các bảng xếp hạng.
    Tại sao nước ta lớn vậy, mà nhìn chung vẫn thấy vô vàn các điều bất cập, nhếch nhác, nghèo hèn, lộn xộn? Tất cả điều đó chắc chắn là sản phẩm của bộ não, tức ý thức, tức trí khôn, chứ không phải sản phẩm của cơ thể - tức da thịt.
    Tư tưởng bao giờ cũng dẫn đến hành động. Tư tưởng chưa trau dồi lớn, làm sao có hành động lớn? Đó rõ ràng là bằng chứng về việc chúng ta là nước đông dân mà không phải là nước lớn. Bởi vì người lớn, nước lớn thì phải có suy nghĩ lớn, những dự định lớn, những chương trình vĩ mô. Nhưng ngay từ trong tư tưởng chúng ta chưa lớn, nên không thể nào sản sinh cái lớn được.

    Tại sao dân số nước Việt ngót trăm triệu người vẫn là dân tộc bé? Chúng ta hãy tham khảo cái nhìn hết sức chính xác của lãnh tụ Tôn Trung Sơn, trong cuốn "Chủ nghĩa tam dân". Ông nói: "Trung Quốc là một nước hơn 400 triệu dân (thời đầu thế kỷ 20) nhưng mà như một bãi cát rời rạc, bởi vì ở Trung Quốc chỉ có gia tộc và tông tộc mà không có quốc tộc". Khi đó, quốc gia chỉ là thứ gia đình được trải rộng dài, kéo dài ra. Nó là một đơn vị gia đình phồng lên, với các "gia quy", chứ không phải là một quốc thể với hệ thống lập hiến của mình....
    Không có trí tuệ thì mỗi người chỉ là em bé to xác, không thể nào trưởng thành. Thân xác là thứ càng lớn càng giật lùi, như Lão Tử ở Trung Quốc đã ví: Đứa bé mới đẻ nắm tay chặt đến mức ngay cả người lớn cũng không kéo ra được, nhưng càng lớn đứa bé càng già và yếu. Bản năng không bao giờ tiến bộ! Chỉ có lý trí và trí tuệ mới tiến bộ được.
    Một con người không phát triển trí tuệ không lớn lên, một dân tộc không dựa trên trí tuệ thì mãi mãi còn bé nhỏ. Triết gia Hegel , ông tổ của môn biện chứng pháp đã xác định: "Những tư tưởng dẫn dắt thế giới". Một dân tộc không có những tư tưởng thì sẽ như những toa tầu không có đầu tầu.
    Tư duy bé nên làm ăn cò con
    Mà tư tưởng của người ta lớn lên như thế nào? Triết học phương Tây xác định rằng: Trí tuệ chỉ có mỗi một con đường thể hiện, đó là ngôn ngữ. Anh muốn khoe khéo khoe khôn ư? Muốn trình bày lý thuyết hay phát minh của mình ư? Anh phải có công trình được viết ra, đọc lên, hay công bố.
    Người ta dứt khoát rằng: Cái gì không nói ra miệng được thì không phải là trí tuệ. Đừng ấp úng, gật gật, rồi bảo mình khôn hơn hay có nhiều công trình trong đầu hơn người khác. Làm gì có thứ nhạc sĩ không có bản nhạc! Họa sĩ không có tranh! Nhà chế tạo không có phát minh?!
    Nhưng ngôn ngữ lớn lên bằng cái gì? Bằng cách cọ xát bằng đối thoại. Một cầu thủ không thể tiến bộ nếu không trải qua thi đấu! Ngôn ngữ cũng như trí tuệ của người ta cũng không thể tiến bộ nếu không được đối thoại. Trong Kinh Thánh có câu "Ở đâu không có bàn định thì không có mưu sâu". Đó là điều chắc chắn, vì tất cả những ban tham mưu trên đời hình thành là để người ta bàn định tìm kiếm những giải pháp tốt nhất.
    Người Việt cũng xác định đẳng cấp cao nhất phải hướng đến công lý của ngôn ngữ như: "Khôn ngoan đến cửa quan mới biết". Nhưng trong đời sống, vì hám theo đuổi tính vụ lợi hơn chân lý, người Việt thường áp dụng: "Người khôn ăn nói nửa chừng/ Làm cho kẻ dại nửa mừng nửa lo".
    Rồi người ta hướng đến sự khôn ranh: "Khôn ăn người, dại người ăn". Hoặc tìm cách nói nước đôi để bảo toàn lấy mình: "Làm trai cứ nước hai mà nói". Dẫn đến "quan tám cũng ừ, quan tư cũng gật".
    Tại sao người Việt lại có lối sống, lối thể hiện, cũng là tìm cách che giấu nước đôi như vậy? Đó là sự khiếp nhược vì sống quá lâu trong chế độ phong kiến. Sợ nói không đúng thì không phải đầu cũng phải tai, nên thà nói nước đôi để chuồn bề nào cũng tiện. Đó cũng là lối nói của mặc cảm "nô tài".
    [​IMG]Dân tộc 100 triệu người vẫn có thể là dân tộc... bé
    Nói nước đôi thì có thể bảo toàn mình, nhưng không cách gì tiến bộ được, vì nói nước đôi là cách chưa nói gì.
    Tư tưởng bao giờ cũng dẫn đến hành động. Tư tưởng chưa trau dồi lớn, làm sao có hành động lớn? Đó rõ ràng là bằng chứng về việc chúng ta là nước đông dân mà không phải là nước lớn. Bởi vì người lớn, nước lớn thì phải có suy nghĩ lớn, những dự định lớn, những chương trình vĩ mô. Nhưng ngay từ trong tư tưởng chúng ta chưa lớn, nên không thể nào sản sinh cái lớn được.
    Nước chúng ta là tam nông: Nông thôn, nông nghiệp, nông dân. Vì tư duy bé nên chúng ta làm ăn cò con. Vì ít thực phẩm nên chúng ta thường ăn vặt, dẫn đến khôn vặt, rồi có cả gian vặt nữa. Từ đặc điểm tam nông, chúng ta còn mắc các chứng: Tiểu nông, tiểu trí, và tiểu xảo.
    Có một mệnh đề là, nếu người Việt thông minh thì chắc hẳn chúng ta đã có tầm vóc của một quốc gia hùng cường, nhưng rõ ràng chúng ta còn đang yếu về rất nhiều mặt. Rõ ràng đa số chúng ta mới khôn vặt, khôn trốn việc, khôn láu cá ăn người, chứ không phải cái khôn ngoan di sơn đảo hải như người Việt mong muốn và ao ước "có cứng mới đứng đầu gió".
    Trái lại đa số chúng ta chỉ muốn làm cỏ giả để tìm nơi khuất gió. Cái khôn ranh chỉ là bản năng sống rình mồi kiếm ăn của các loài thú. Chỉ có cái khôn của hiểu biết mới biến con người thành công trình sư cho số phận của mình.


  9. phuongxa20

    phuongxa20 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/06/2005
    Đã được thích:
    226
    tai sao Nhat Ban giau co khi tai nguyen ko co

    tai sao VN tai nguyen giau co lai ngheo doi ??


    Cac chu xem lai giao khoa da day cac chu the nao :

    Nuoc ta rung vang ,bien bac


    Nen hau boi khong thanh " lam tac " , " cuop bien " cung la chung qui chi biet an hot cua nguoi nguoi ben canh
  10. phuongxa20

    phuongxa20 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    02/06/2005
    Đã được thích:
    226
    Cây quyền trượng kinh tế sẽ có chủ nhân mới?
    [​IMG]

    Không tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, các nền kinh tế phát triển sẽ kẹt trong tình trạng trì trệ như Nhật Bản.



    Họ nên hỗ trợ tổng cầu ngắn hạn hay kích thích tổng cung dài hạn?
    Mai sau giới sử học sẽ coi đâu là xu hướng kinh tế chủ đạo của những năm đầu thế kỷ 21? Có rất nhiều ứng viên tiềm năng, từ cải cách nền tài chính hậu khủng hoảng 2008 đến bùng nổ nợ chính phủ.
    Nhưng đứng đầu danh sách gần như chắc chắn sẽ là việc cây quyền trượng kinh tế có chủ nhân mới.
    10 năm trước các nước giàu thống trị kinh tế thế giới, đóng góp 2/3 GDP toàn cầu. Thập kỷ tới tỷ lệ này sẽ có thể giảm xuống 40%. Phần lớn sản lượng sẽ nằm ở các nước mới nổi.
    Sự tiến bộ nhanh chóng minh chứng cho thành công của các quốc gia này. Nhờ các chính sách tốt cùng quá trình toàn cầu hóa, hầu hết các quốc gia đang phát triển đang bắt kịp các nước giàu.
    Giai đoạn 2002-08, hơn 85% các nền kinh tế đang phát triển tăng trưởng nhanh hơn Mỹ, so với chưa đến 1/3 trong những năm 196-2000, và gần như chẳng quốc gia nào một thế kỷ trước đó.
    Đó là một thành tựu đáng kinh ngạc mà đi kèm với nó là mức sống của đại bộ phận dân số thế giới được cải thiện chưa từng có.
    Nhưng sự thay đổi ấy còn có thêm một lời giải thích chẳng mấy vui tai: đó là sự tăng trưởng chậm chạp tại các nước giàu như Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản.

    [​IMG]

    Có 3 nguyên nhân cho thấy vài năm tới sẽ chứng kiến phương Tây trì trệ và phần còn lại của thế giới vươn dậy.
    Thứ nhất: Quy mô đợt suy thoái 2008-09 và quá trình phục hồi yếu ớt sau đó.
    Tính chung các nền kinh tế phát triển, suy thoái hậu khủng hoảng tài chính nặng nề nhất kể từ thập niên 1930. Theo sau nó là con số lao động thất nghiệp và nhà máy hoạt động cầm chừng nhiều chưa từng có.
    Dù sản lượng ở phần lớn các nước đã ngừng giảm từ một năm trước nhưng phục hồi quá yếu ớt để có thể nhanh chóng dùng đến phần sản lượng dư thừa trên (xem đồ thị 1). OECD cho rằng “khoảng trống sản lượng” này sẽ tồn tại cho đến năm 2015.
    Thứ hai: Phía cung.
    Cầu quyết định liệu nền kinh tế đang hoạt động trên hay dưới mức tăng trưởng “tiềm năng”, nhưng tăng trưởng tiềm năng tự nó lại phụ thuộc vào nguồn cung lao động và năng suất của họ. Năng suất ấy lại phụ thuộc vào tỷ lệ vốn đầu tư và tốc độ đổi mối.
    Cung lao động ở các nước giàu sẽ giảm khi số lượng người nghỉ hưu tăng. Vài thập kỷ tới dân số trong độ tuổi lao động ở Tây Âu sẽ giảm 0,3%/năm. Ở Nhật Bản, tốc độ suy giảm lớn gấp đôi, tới 0,7%/năm.
    Với hàng triệu lao động thất nghiệp, cung lao động giảm có lẽ chẳng quan trọng lắm. Nhưng sự thay đổi về nhân khẩu học này lại quyết định tương lai trung hạn của các nước giàu, bao gồm cả khả năng thanh toán nợ công.
    Theo tính toán của Dale Jorgenson từ ĐH Havard và Khuong Vu từ ĐHQG Singapore, trung bình tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng của nhóm G7 giai đoạn 1998-2008 là 2,1%.
    Với xu hướng nhân khẩu hiện nay, và giả định rằng năng suất tăng với tốc độ tương tự 10 năm vừa qua, tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng sẽ giảm xuống 1,45% trong 10 năm tới, con số thấp nhất kể từ sau CTTG II.
    Năng suất tăng nhanh hơn có thể hạn chế sự giảm sút trên nhưng chẳng có vẻ gì là nó sẽ xảy ra. Trước khủng hoảng tài chính, xu hướng tăng trưởng năng suất tại nhiều nước giàu hoặc đứng im hoặc chậm lại trong khi lại tăng mạnh ở các nước mới nổi.
    Thứ ba: Hậu quả của khủng hoảng tài chính và sự phục hồi yếu ớt tác động xấu tới tăng trưởng kinh tế tiềm năng.
    Thất nghiệp cao trong thời gian dài thường làm giảm chứ không tăng số lao động tiềm năng. Người thất nghiệp mất đi các kỹ năng và khi đã quá thất vọng, họ không còn muốn lao động nữa. Tài sản các ngân hàng giảm khiến tín dụng đắt đỏ mà vẫn khó tiếp cận hơn.
    Ai lạc quan thì dẫn ra kinh nghiệm của Mỹ trong thế kỷ qua và cho rằng suy thoái dẫu có nghiêm trọng không phải lúc nào cũng gây ra hậu quả dài hạn.
    Sau mọi đợt suy thoái rút cục kinh tế lại hồi phục khiến tỷ lệ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người tiềm năng vẫn ổn định một cách đáng ngạc nhiên (xem đồ thị 2).


    [​IMG]


    Bất chấp thiếu hụt tổng cầu, năng suất của Mỹ thập niên 1930 vẫn tăng trưởng nhanh hơn bất kỳ thập niên nào khác trong thế kỷ 20. Thất nghiệp cao hôm nay có thể là nền tảng giúp tăng hiệu quả sản xuất ngày mai.
    Tuy vậy đa phần các nhà kinh tế cho rằng khả năng sản xuất của các nước giàu đã chịu thiệt hại, đặc biệt là ở các nước mà tăng trưởng đến nhiều từ các ngành phát triển kiểu “bong bóng” như xây dựng ở Tây Ban Nha và tài chính ở Anh.
    OECD tính toán rằng hậu quả của khủng hoảng tài chính trung bình sẽ lấy mất 3% sản lượng tiềm năng của các nước giàu.
    Cầu yếu càng kéo dài, thiệt hại càng lớn. Kinh nghiệm của Nhật hai thập kỷ vừa qua là một ví dụ đáng lo ngại, đặc biệt là với các nền kinh tế có dân số già ở Châu Âu.
    Để tránh số phận như Nhật Bản, các nước giàu nên kích thích tăng trưởng bằng hai con đường là củng cố tổng cầu ngắn hạn và tăng tổng cung dài hạn.
    Đáng buồn thay các nhà hoạch định chính sách hiện nay thường xem hai chiến lược này chỉ là lựa chọn thay thế.
    Nhiều nhà kinh tế phái theo Keynes lo ngại về thiết hụt cầu từ khu vực tư nhân cho rằng lúc này chưa nên lo tới tăng trưởng tiềm năng trong trung hạn.
    Kích thích kinh tế hay Thắt lưng buộc bụng?
    Các nhà kinh tế Châu Âu nhấn mạnh tới kích thích tăng trưởng trung hạn và ủng hộ các cải cách ví dụ như làm thị trường lao động linh hoạt hơn. Họ thường phủ nhận việc tiếp tục kích thích để hỗ trợ tổng cầu.
    Chủ tịch ECB Jean-Claude Trichet là người rất ủng hộ cải cách cơ cấu kinh tế Âu châu. Nhưng ông cũng là người ủng hộ nhiệt tình nhất ý tưởng cắt giảm thâm hụt tự nó sẽ kích thích tăng trưởng.
    Và thế là một cuộc tranh luận tuy trong diện hẹp nhưng không kém phần nảy lửa đã nổ ra về việc nên kích thích tài khóa hay thắt chặt ngân sách.

    [​IMG]


    Người viết bài này cho rằng cả hai bên đều chỉ nhìn một phía. Chính phủ nên nghĩ xem làm thế nào vừa hỗ trợ tổng cầu vừa kích thích tổng cung cùng một lúc.
    Thứ nhất, phe theo Keynes đúng khi cho rằng với các nước giàu, thắt chặt ngân sách trong ngắn hạn quá mức cũng là hiểm họa.
    Cắt giảm mạnh tay đe dọa phục hồi, đặc biệt là vì không thể dễ dàng bù đắp nhờ nới lỏng chính sách tiền tệ. Cải thiện cơ cấu thuế và chi tiêu công cũng quan trọng chẳng kém gì thâm hụt trong ngắn hạn.
    Thứ hai, lờ đi nguy cơ đối với tăng trưởng kinh tế tiềm năng và đánh mất cơ hội thực hiện những cải cách hỗ trợ tăng trưởng ở tầm vi mô cũng nguy hiểm chẳng kém gì nhau.
    Chính phủ hầu hết các nước giàu đều đã học được một bài học quan trọng từ các cuộc khủng hoảng tài chính trước đó: phải nhanh tay dọn dẹp khu vực ngân hàng.
    Nhưng tăng cạnh tranh và giải điều tiết cũng cần phải được nhìn nhận đúng mức hơn, đặc biệt là ở khu vực dịch vụ, nguồn gốc của phần lớn việc làm và tăng trưởng năng suất tại các nước giàu trong tương lai.
    Tăng trưởng nhanh không phải là liều thuốc vạn năng. Vì các nền kinh tế đang phát triển đông dân hơn các nước giàu nên rồi thì thế nào họ cũng thống trị nền kinh tế thế giới.
    Nhưng bước chuyển ấy sẽ tới trong bối cảnh thịnh vượng hay đình trệ phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng của các nước giàu. Hiện nay, đáng lo ngại là trì trệ lại là kịch bản mà nhiều nước đang hướng tới.
    Minh Tuấn
    Theo Economist



Chia sẻ trang này