Tháng 11 - 2010 thị trường tăng mạnh

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by L44, Oct 31, 2010.

666 người đang online, trong đó có 266 thành viên. 07:11 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 0)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. ttvidai

    ttvidai Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Sep 24, 2007
    Likes Received:
    239
    http://vneconomy.vn/201010300717359...noi-ve-bat-trac-tiem-an-cua-kinh-te-vi-mo.htm
    .head_chuyenmuc .con .cat a:link, .head_chuyenmuc .con .cat a:visited, .head_chuyenmuc .con .cat a:active, .head_chuyenmuc .con .cat a:hover { color: rgb(6, 69, 153) ! important; } Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế nói về “bất trắc tiềm ẩn” của kinh tế vĩ mô

    [​IMG] E-mail [​IMG] Bản để in [​IMG] Cỡ chữ [​IMG] Chia sẻ: [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] Ý kiến (0)

    [​IMG]
    Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền trình bày báo cáo thẩm tra tình hình kinh tế xã hội tại phiên khai mạc kỳ họp Quốc hội thứ tám.


    THÚY HÒA
    18:13 (GMT+7) - Chủ Nhật, 31/10/2010
    Tại sao nhận định về kinh tế vĩ mô của Ủy ban Kinh tế luôn đi kèm với những quan ngại về “bất trắc, bất ổn”?


    Tiếp tục chương trình của kỳ họp thứ tám, sáng 1/11, Quốc hội sẽ bước vào phiên đầu tiên trong hai ngày thảo luận tại hội trường về tình hình kinh tế - xã hội năm 2010 và kế hoạch 2011.

    Trước đó, khi thảo luận tại tổ về nội dung này, nhiều đại biểu đã bày tỏ sự quan ngại sâu sắc trước những bất ổn của kinh tế vĩ mô, dù vấn đề này đã được đặt lên bàn nghị sự của Quốc hội, không chỉ riêng một kỳ họp.

    Trao đổi với VnEconomy, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền nhấn mạnh, nếu không sớm khắc phục thì những bất trắc tiềm ẩn của kinh tế vĩ mô sẽ có thể ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định trong những năm tiếp theo.

    Đã nhìn thấy lạm phát trên 8%

    Thưa ông, trong những năm gần đây, nhận định về kinh tế vĩ mô của Ủy ban luôn đi kèm với những quan ngại về “bất trắc, bất ổn”. Ông có thể phân tích rõ hơn những yếu tố này?

    Đúng là trong những năm gần đây ở một số kỳ họp, trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban đều có nhận định kinh tế vĩ mô ổn định nhưng chưa vững chắc và tiềm ẩn những yếu tố dễ gây ra bất ổn vĩ mô.

    Biểu hiện tiềm ẩn ấy là gì, đó là lạm phát rất cao so với các nước trong khu vực, năm 2010 khả năng trên 8% đã nhìn thấy rồi, những năm trước cũng rất cao. Nên nếu để mãi như vậy thì hoàn toàn không được, nó ảnh hưởng đến nền kinh tế, đến sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân.

    Hay nhập siêu cũng luôn ở mức rất cao trong nhiều năm rồi, dẫn đến mất cân đối cán cân thương mại, đến cán cân thanh toán, dự trữ ngoại tệ. Rồi bội chi cũng ở mức cao, nợ công cũng đã hơn 56,7% GDP trong khi tổng GDP chỉ trên 100 tỷ USD…

    Tổng hợp các yếu tố đấy cho thấy nền tài chính quốc gia chưa thật vững chắc. Những cân đối vĩ mô tiềm ẩn những yếu tố thiếu vững chắc, không ổn định. Nhiều cơ quan khác và cả báo cáo của Chính phủ cũng nhận định như thế.

    Có chuyên gia kinh tế cho rằng, sự mất ổn định vĩ mô có nguyên nhân do nền kinh tế phát triển không theo quy luật mà chịu các tác động hành chính quá nhiều. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào?

    Nói thế cũng không hoàn toàn đúng, thực ra chúng ta càng ngày càng có nhiều cố gắng trong việc tuân thủ cơ chế thị trường. Đương nhiên cơ chế thị trường ở Việt Nam có đặc thù, tức là còn theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa phát triển kinh tế vừa phải ổn định an sinh xã hội nên những nhiệm vụ đó phải hài hòa với nhau.

    Hiện nay một số giá cả như xăng dầu hay điện, than, phân bón… dần dần đang tiến tới giá thị trường. Nền kinh tế chúng ta phải có bước đi phù hợp chứ nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của dân. Theo tôi việc dần dần đạt tới yêu cầu theo cơ chế thị trường theo định hướng chúng ta đang tiến hành là hoàn toàn phù hợp.

    Trong số những hạn chế bất cập của năm 2010 đã được Ủy ban Kinh tế nêu rõ tại báo cáo thẩm tra có việc các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh do tác động bởi một số chính sách cụ thể. Hay điều hành chính sách, quản lý thị trường, giá cả; điều hòa sản xuất, lưu thông, phân phối trong một số ngành, lĩnh vực chưa tốt. Vậy những hạn chế này có nguyên nhân từ tác động hành chính không, thưa ông?

    Tôi cho rằng là có, nhưng định lượng thì không dễ, vả lại ở đây cũng cần nói là ngay cả trong cơ chế thị trường cũng không thể thiếu vai trò của Nhà nước, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế vừa qua càng cho thấy rõ điều đó.

    Dưới góc nhìn của các chuyên gia kinh tế tại cơ quan thẩm tra thì những bất ổn ông đã nói trên chủ yếu do hạn chế nội tại của nền kinh tế hay do nguyên nhân chủ quan, thưa ông?

    Có nhiều nguyên nhân nhưng trong đó cũng có những yếu tố nội tại tích tụ nhiều năm. Nhất là mô hình tăng trưởng kinh tế không phù hợp, chúng ta đã duy trì nhiều năm mô hình tăng trưởng lấy tăng vốn đầu tư là chủ yếu, trong khi đó hiệu quả đầu tư lại thấp nên bây giờ cần phải cơ cấu lại.

    Ví dụ cơ cấu lại đầu tư bao gồm cả nguồn vốn, cả cơ cấu đầu tư ở các ngành, các lĩnh vực; phải tạo sự thay đổi căn bản về hiệu quả đầu tư; cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước mà việc xác lập rõ vai trò chủ sở hữu vốn Nhà nước là rất quan trọng; các ngành kinh tế trọng yếu như công nghiệp, nông nghiệp và kể cả trong xuất, nhập khẩu cũng cần cơ cấu lại.

    Vì thế năm 2011 Ủy ban Kinh tế mới đặt vấn đề ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, ưu tiên tiếp theo là nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế và tiếp theo mới là đặt mức tăng trưởng cao hơn các năm trước.

    Theo quan điểm của Ủy ban thì giữ mức tăng trưởng 7-7,5% GDP cũng không phải là khó với những cái mà nền kinh tế chúng ta đang có. Song ổn định vĩ mô, nâng cao chất lượng tăng trưởng thì phải tập trung nhiều hơn nữa để chuẩn bị cho bước đi dài hạn hơn.

    Thưa ông, phải chăng để ổn định kinh tế vĩ mô thì không thể tiếp tục chạy theo “thành tích tăng trưởng”, như một số chuyên gia kinh tế đã cảnh báo?

    Đúng là những năm trước 2008 thì tập trung cho ổn định kinh tế vĩ mô còn ít, vẫn chạy theo mục tiêu tăng trưởng nhiều hơn.

    Do vậy chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế chưa cao, sức cạnh tranh nền kinh tế còn thấp, đầu tư hiệu quả thấp, tăng trưởng dựa chủ yếu vào yếu tố vốn chứ yếu tố năng suất chưa cao nên chất lượng chưa tốt. Hạn chế này chưa phải là chưa nhìn ra, nhưng vấn đề là phải tập trung những biện pháp cụ thể như thế nào đó để tạo ra những chuyển biến cụ thể. Với năm 2011 thì quan điểm của Ủy ban Kinh tế vẫn phải ổn định kinh tế vĩ mô, gắn với tái cơ cấu nền kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng.

    Nhưng có ý kiến đại biểu cho rằng muốn đảm bảo ổn định vĩ mô thì phải chuyển đổi và đẩy mạnh tái cơ cấu, dịch chuyển cơ cấu để đảm bảo ổn định vĩ mô, chứ không phải ngược lại là ổn định rồi mới tái cơ cấu?

    Trong mục tiêu tổng quát Ủy ban đề xuất đã ghi rõ là ổn định vĩ mô gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, hai cái đó tiến hành đồng thời với nhau. Ổn định vĩ mô có tính ngắn hạn và trung hạn, còn cơ cấu lại nền kinh tế thì mang tính dài hạn nhưng hai nội dung này lại quan hệ rất mật thiết với nhau. Từ năm 2010 đã nêu vấn đề và bắt tay vào làm rồi nhưng những việc cụ thể chưa làm được nhiều lắm và sẽ phải làm mạnh mẽ hơn từ các năm sau.

    Ngay từ kỳ họp Quốc hội thứ tư, thứ năm, một số đại biểu cũng đã đặt vấn đề cần phải xây dựng đề án tái cấu trúc nền kinh tế. Vậy tại sao đến nay vẫn “chưa làm được nhiều lắm” như ông vừa nhận xét?

    Tôi nghĩ rằng nghị quyết của Quốc đã đặt vấn đề đó rồi, Chính phủ phải tổ chức thực hiện thôi. Mà Chính phủ đã làm chứ không phải không làm nhưng làm chưa quyết liệt. Vậy nên Quốc hội phải yêu cầu riết róng hơn, để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế.

    Điều hành có tiến bộ rõ rệt

    Khi thảo luận tại tổ, không ít ý kiến cho rằng“Chính phủ và nhiều cơ quan của Chính phủ còn nhiều hạn chế trong điều hành”, ông có đồng tình?

    Những năm vừa qua, nhất từ 2007 – 2010 nhìn tổng quan lại thì nền kinh tế đã trải qua những giai đoạn rất khắc nghiệt. Cuối 2007 đầu 2008 thì lạm phát rất cao, phải tập trung mọi biện pháp để kìm chế lạm phát. Sang đến cuối 2008 – 2009 thì ảnh hưởng khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu lại phải chống suy giảm kinh tế. Hai giải pháp đó gần như ngược chiều nhau, để đảm bảo kiềm chế lạm phát thì phải thắt chặt tiền tệ, còn ngăn chặn suy giảm kinh tế thì phải nới lỏng và tăng đầu tư. Năm 2010 thì phải tập trung phục hồi và lấy lại đà tăng trưởng cho nền kinh tế.

    Nhìn lại 3 giai đoạn như vậy thì chúng tôi thấy rằng công tác điều hành đã có tiến bộ rất là rõ.

    Chẳng hạn nếu đầu năm 2008 điều hành kìm chế lạm phát còn thiếu chủ động, kịp thời và chưa đồng bộ, thì đến cuối 2008 đầu 2009 đã đồng bộ hơn, kịp thời hơn và tổ chức thực hiện cũng quyết liệt hơn để thực hiện mục tiêu chống suy giảm kinh tế.

    Tương tự 2010 thì ngay từ đầu năm đã khó khăn rồi, vốn cho doanh nghiệp thì thiếu, điện cũng vẫn thiếu gay gắt, đầu tư không tăng (năm 2009 là 42% GDP năm 2010 chỉ có 41%), lao động không tăng, hạn hán, dịch bệnh… Như vậy yếu tố mới không có gì tăng hơn nhưng đã hoàn thành rất tốt các chỉ tiêu cơ bản của năm 2010. Tất nhiên do nhiều nguyên nhân nhưng có nguyên nhân quan trọng là do công tác điều hành chủ động, kịp thời và hiệu quả.

    Năm 2010 Chính phủ dự kiến có 16/21 chỉ tiêu đạt và vượt, nhưng Ủy ban Kinh tế cho rằng chỉ có 15 chỉ tiêu, vì CPI cao hơn 7%. Vậy đánh giá là hoàn thành “rất tốt” liệu có lạc quan quá không, thưa ông?

    Thực ra khi bàn các chỉ tiêu năm 2010 thì Ủy ban đề xuất chỉ tiêu lạm phát không quá 8%. Bây giờ tháng 10 đã là 7,58% nên còn hai tháng nữa khả năng trên 8% thì nhìn thấy rồi. Nền kinh tế chúng ta phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới, lạm phát cũng phụ thuộc rất nhiều vào giá cả thị trường thế giới nên điều hành như năm 2010 là tích cực. Nhất là điều hành chính sách tiền tệ rất cương quyết, nếu không thì không thể kìm chế được lạm phát ở mức như vậy.

    Vậy tại sao vẫn có nhiều lời “phê” là chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa chưa nhịp nhàng, thưa ông?

    Nhận xét thế cũng không mâu thuẫn gì cả, vì đầu năm thắt chặt tín dụng thì doanh nghiệp và một số chuyên gia đều kêu ca. Trong khi đó ngân hàng chịu hai sức ép, phải giữ lạm phát dưới 7% nhưng vẫn phải phấn đấu tăng trưởng đạt chỉ tiêu 6,5% nên hướng đi như vừa qua là hoàn toàn đúng đắn. Tôi nói điều hành chính sách tiền tệ cương quyết là như vậy, trước áp lực đó nếu không kiên quyết mà nới lỏng thì lạm phát sẽ có thể bùng phát trở lại.

    Còn lãi suất ngân hàng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nữa, thực tế bây giờ đã giảm nhưng vẫn ở mức cao. Chỗ này chúng ta cũng phải thấy rằng điều hành chính sách tiền tệ nó phức tạp, liên quan chặt chẽ đến chính sách tài khóa. Chính phủ cũng nhận định quan hệ giữa hai chính sách này chưa nhịp nhàng đồng bộ.

    Ví dụ khi thắt chặt tiền tệ, tín dụng rất thấp, nhưng đầu tư thì vẫn tăng, nhất là đầu tư công hoặc như xung quanh mức lãi suất của trái phiếu Chính phủ, lãi suất huy động, lãi suất cho vay, hay trái phiếu của doanh nghiệp. Khi lãi suất Chính phủ và lãi suất ngân hàng không phù hợp với nhau thì có xu hướng thiên về trái phiếu Chính phủ nhiều hơn, hoặc doanh nghiệp họ không vay được ngân hàng thì phát hành trái phiếu. Những mức lãi suất này không tương xứng nhau thì cái nọ nó đẩy cái kia tăng lên...

    Theo ông, để nhịp nhàng hơn giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa thì cần có giải pháp gì?

    Quan trọng là phối hợp các chính sách, khi ban hành phải có sự nhuần nhuyễn hơn để tránh khi chính sách ra đời thì có sự xung đột, như ở trên đã nói, tín dụng thì thắt chặt mà không thắt chặt đầu tư, nhất là đầu tư công thì không thể nói là đồng bộ được. Hay trong tổ chức thực hiện chính sách đã có, cũng cần phải thật quyết liệt.

    Có ý kiến đại biểu cho rằng, 2010 là năm cuối của kế hoạch 5 năm (2006 – 2010) vì vậy Ủy ban Kinh tế nên đánh giá việc thực hiện kế hoạch này để làm cơ sở cho đại biểu thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng cho những năm tiếp theo. Báo cáo của Chính phủ có đánh giá sơ bộ về chỉ tiêu 5 năm, song báo cáo thẩm tra của Ủy ban thì không có, thưa ông?

    Theo luật định thì tại kỳ họp này Ủy ban Kinh tế có báo cáo thẩm tra báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2010 theo nghị quyết của Quốc hội thôi. Nên chúng tôi chỉ khuôn lại ở phạm vi đó. Bên cạnh đó, tài liệu để tham khảo cho kỳ họp này thì chúng tôi cũng đã gửi đến cho đại biểu qua nhiều kênh rồi.
  2. ttvidai

    ttvidai Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Sep 24, 2007
    Likes Received:
    239
    http://www.thesaigontimes.vn/Home/thoisu/doisong/42539/No-cong.html
    Nợ công


    Vũ Thành Tự Anh(*)
    Thứ Bảy, 30/10/2010, 10:39 (GMT+7)

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG] Nợ công
    Vũ Thành Tự Anh(*)

    [​IMG]
    Nguồn: Economist Intelligence Unit(TBKTSG) - Nợ công, một lần nữa, lại làm nóng nghị trường Quốc hội, trong đó ba vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất là quy mô, tính an toàn, và tài trợ nợ công. Về quy mô, Bộ Tài chính ước tính đến cuối năm 2010, nợ công của Việt Nam vào khoảng 56,7% GDP, tăng nhanh từ mức 52,6% GDP của năm 2009. Tuy nhiên, định nghĩa nợ công của Bộ Tài chính chỉ bao gồm nợ của Chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh chứ không bao gồm nghĩa vụ nợ của ngân hàng trung ương, các đơn vị trực thuộc Chính phủ, trong đó có các doanh nghiệp nhà nước như định nghĩa của UNCTAD. Theo định nghĩa này, nợ công của Việt Nam hiện nay không dưới 70% GDP vì theo Báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính đến 31-12-2008, riêng tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã lên tới 287.000 tỉ đồng (hay 20% GDP năm 2008), mà tổng dư nợ này lại tăng lên đáng kể trong năm 2009 do chính sách kích cầu của Chính phủ. Không những thế, thống kê nợ của doanh nghiệp nhà nước thường rất không đầy đủ, được minh chứng qua trường hợp của Vinashin với tổng dư nợ thực tế, theo một đại biểu Quốc hội, có thể lên tới 120.000 tỉ chứ không phải 86.000 tỉ như báo cáo của Chính phủ.
    [​IMG]Cần nhấn mạnh là tỷ lệ nợ công/GDP chỉ phản ảnh một cách hết sức phiến diện mức độ an toàn hay rủi ro của nợ công. Nợ công khoảng 100% đủ để một nước như Hy Lạp rơi vào tình trạng phá sản, trong khi đó nợ công lên tới hơn 200% như Nhật Bản vẫn được coi là an toàn. Như vậy, mức độ “an toàn” hay “nguy hiểm” của nợ công không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ/GDP, mà quan trọng hơn, phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của nền kinh tế.
    Nợ công của Việt Nam tăng nhanh trong bối cảnh thâm hụt ngân sách (cả trong và ngoài dự toán) tăng từ 2,8% GDP năm 2001 lên tới 9,6% GDP năm 2009 (theo EIU). Điều này vi phạm một nguyên tắc cơ bản của quản lý nợ công bền vững, đó là nợ công ngày hôm nay phải được tài trợ bằng thặng dư ngân sách ngày mai. Đây là nguyên nhân chính khiến Fitch giảm xếp hạng tín dụng dài hạn của Việt Nam từ BB- xuống B+ (tức là thấp hơn “mức đầu tư” (investment grade) bốn bậc) vào cuối tháng 7-2010.
    Với nhu cầu tiếp tục đầu tư để phát triển, chắc chắn nợ công của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong nhiều năm tới. Cụ thể là với tỷ lệ tiết kiệm nội địa/GDP ngày một giảm (hiện khoảng 27%) trong khi mức đầu tư toàn xã hội ngày một tăng (hiện khoảng 42% GDP) thì bên cạnh việc thu hút đầu tư nước ngoài, Chính phủ sẽ phải tiếp tục đi vay rất nhiều để bù đắp khoản chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư.
    Tốc độ tăng GDP cao là điều kiện cần để tăng nguồn thu và đạt thặng dư ngân sách. Tuy nhiên, ở Việt Nam tăng trưởng GDP chủ yếu do tăng lượng đầu tư mà không đi kèm với tăng hiệu quả, bằng chứng là hệ số ICOR không ngừng tăng lên. Vì đầu tư không thể tăng mãi nên đến một lúc nào đó, tốc độ tăng trưởng sẽ phải giảm. Đáng lo ngại là chính vào lúc tốc độ tăng trưởng GDP giảm cũng là lúc nhiều khoản nợ nước ngoài của Chính phủ đáo hạn.
    Ở Việt Nam lạm phát đã trở thành cái bóng đi sau tăng trưởng GDP. Bằng chứng là khi nền kinh tế vừa chớm phục hồi thì CPI và lãi suất đã tăng nhanh trở lại. Hệ quả là trong năm 2010, lợi suất trái phiếu trong nước lên tới trên 11%, đồng thời lợi suất trái phiếu quốc tế cũng cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh.
    Nợ công ở Việt Nam tăng nhanh trong khi thâm hụt ngân sách đã trở thành kinh niên, đầu tư lại không ngừng mở rộng kéo theo lạm phát và lãi suất cao khiến cho việc tài trợ nợ công ngày càng trở nên đắt đỏ. Trong khi đó, Bộ Tài chính vẫn chưa có một chiến lược quản lý nợ công thuyết phục. Mức độ nợ công theo định nghĩa quốc tế hiện nay là bao nhiêu? Tính an toàn của nợ công trong 5-10 năm tới như thế nào? Nợ công sẽ được tài trợ ra sao? Đây là những câu hỏi chờ đợi câu trả lời của Chính phủ trong kỳ họp Quốc hội lần này.
    (*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

  3. ttvidai

    ttvidai Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Sep 24, 2007
    Likes Received:
    239
    http://vneconomy.vn/2010103112252246P0C6/lai-suat-lien-ngan-hang-tang-manh-cac-ky-han-ngan.htm
    Lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh các kỳ hạn ngắn

    [​IMG] E-mail [​IMG] Bản để in [​IMG] Cỡ chữ [​IMG] Chia sẻ: [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] Ý kiến (0)

    [​IMG]
    Lãi suất giao dịch bình quân qua đêm bằng VND trên liên ngân hàng trong ngày 26/10 ở mức 8,38%/năm.


    MINH ĐỨC
    00:26 (GMT+7) - Chủ Nhật, 31/10/2010
    Lãi suất giao dịch bình quân bằng VND trên thị trường liên ngân hàng tăng mạnh ở các kỳ hạn ngắn trong những ngày gần đây


    Lãi suất giao dịch bình quân bằng VND trên thị trường liên ngân hàng tăng mạnh ở các kỳ hạn ngắn trong những ngày gần đây.

    Theo công bố của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất giao dịch bình quân bằng VND trên thị trường liên ngân hàng các kỳ hạn qua đêm, 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng và 3 tháng vừa có những diễn biến đáng chú ý.

    Kết quả giao dịch từ nguồn này cập nhật trong ngày 22/10 ghi nhận lãi suất bình quân qua đêm đã chính thức lên trên 8%/năm, ở 8,02%/năm, thay vì dao động từ 7,11% - 7,30%/năm trước đó. Ở ngày vừa được cập nhật, ngày 26/10 vừa qua, lãi suất bình quân qua đêm tiếp tục tăng lên 8,38%/năm (trước đó một tổ chức đầu tư đưa ra con số là 8,45%/năm trong ngày 26/10 này).

    Cùng với lãi suất qua đêm, lãi suất giao dịch bình quân các kỳ hạn ngắn 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng và 3 tháng cũng tăng mạnh.

    Cụ thể, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, nếu trong ngày 22/10, lãi suất bình quân kỳ hạn 1 tuần là 8,92%/năm thì trong ngày 26/10 là 9,60%/năm. Tương tự trong so sánh này, ở kỳ hạn 2 tuần là 9,12% với 9,84%/năm; kỳ hạn 1 tháng là 9,67% với 10,09%/năm; kỳ hạn 3 tháng là 10,35% với 11,08%/năm.

    Trước đó, trong các ngày giao dịch giữa tháng 10, lãi suất bình quân kỳ hạn 1 tuần chỉ dao động trong khoảng 7,46% - 7,80%/năm; kỳ hạn 2 tuần trong khoảng 7,74% - 7,97%/năm; kỳ hạn 1 tháng trong khoảng 8,43% - 8,69%/năm và kỳ hạn 3 tháng trong khoảng 9,54% - 9,72%/năm.

    Hiện kết quả giao dịch trong ngày 25/10 của tuần vừa qua, cũng như các ngày 27, 28 và 29 chưa được Ngân hàng Nhà nước cập nhật, nhưng với diễn biến trên, mức lãi suất giao dịch bình quân của cả tuần có thể có nhiều biến động.
  4. L44

    L44 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Mar 26, 2010
    Likes Received:
    0
    Fulbright Mỹ còn không ăn ai, nữa là treo đầu dê bán thịt chó
  5. tuananhdao

    tuananhdao Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Mar 14, 2007
    Likes Received:
    3
    múc mạnh [r2)][r2)][r2)][r2)]
  6. L44

    L44 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Mar 26, 2010
    Likes Received:
    0
    Các dòng tiền cùng tăng nóng.
  7. L44

    L44 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Mar 26, 2010
    Likes Received:
    0
    .head_chuyenmuc .con .cat a:link, .head_chuyenmuc .con .cat a:visited, .head_chuyenmuc .con .cat a:active, .head_chuyenmuc .con .cat a:hover {color:#064599 !important;}Trình Quốc hội sửa Luật Chứng khoán

    [​IMG] E-mail [​IMG] Bản để in [​IMG] Cỡ chữ [​IMG] Chia sẻ: [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] Ý kiến (0)


    [​IMG]
    Kỳ họp Quốc hội thứ tám đã qua 9 ngày làm việc.


    NGUYÊN HÀ
    01:01 (GMT+7) - Thứ Hai, 1/11/2010

    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán sẽ được Quốc hội thảo luận trong tuần này

    Từ hôm nay (1/1), Quốc hội sẽ bước sang tuần làm việc thứ ba của kỳ họp thứ tám với đa số các phiên thảo luận tại hội trường.

    Hai ngày đầu tuần, qua truyền hình trực tiếp, cử tri cả nước có thể theo dõi Quốc hội thảo luận về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010 và kế hoạch năm 2011.

    Với nội dung này, ngay từ tuần đầu của kỳ họp, Quốc hội đã tiến hành thảo luận tại tổ trong một buổi sáng. Tại đây, bên cạnh ghi nhận những kết quả đạt được trong năm qua, nhiều đại biểu đã bày tỏ sự quan ngại sâu sắc về những bất ổn vĩ mô của nền kinh tế. Về nhiều vấn đề bức xúc trong xã hội chậm được giải quyết. Nhiều chỉ tiêu về môi trường không thể về đích như mong muốn.

    Thứ Tư (3/11), Quốc hội sẽ dành buổi sáng để thảo luận ở hội trường về tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2010; dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2011.

    Khi thảo luận tại tổ về nội dung này, nhiều vị đại biểu đã không giấu được sự “sốt ruột” trước nợ công đang tăng cao, bội chi khó giảm và kỷ luật tài chính còn chưa nghiêm. Trong khi đó, đại biểu Quốc hội không có đủ thời gian và điều kiện để yên tâm “bấm nút” nhiều vấn đề về ngân sách nên quyết rồi nhưng vẫn băn khoăn.

    Chiều cùng ngày, Bộ trưởng Bộ tài chính Vũ Văn Ninh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, sẽ trình bày tờ trình dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán. Sau đó, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Hà Văn Hiền trình bày báo cáo thẩm tra dự án luật này. Và, ngay sáng hôm sau những điểm sửa đổi, bổ sung của Luật Chứng khoán sẽ được thảo luận tại tổ.

    Dự kiến sẽ thông qua ngay tại kỳ họp này, dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán đã bổ sung 1 điều mới; sửa đổi, bổ sung 16 điều và bãi bỏ 1 điều trong tổng số 136 điều của luật hiện hành.

    Các nội dung cơ bản được sửa đổi, bổ sung liên quan đến hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ, chào bán chứng khoán ra công chúng, chào mua công khai, quản trị công ty đại chúng, về công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ...

    Một dự án luật khác thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận ngay từ quá trình chuẩn bị là dự án Luật Thủ đô cũng sẽ được trình Quốc hội trong tuần và thảo luận tại tổ vào chiều thứ bảy.

    Quốc hội cũng sẽ nghe báo cáo tổng kết công trình quan trọng quốc gia dự án Nhà máy Lọc dầu Dung Quất và báo cáo thẩm tra về nội dung này trong chiều thứ Năm.

    Cả ngày thứ Sáu và sáng thứ Bảy, Quốc hội sẽ nghe và thảo luận về báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao, của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao; báo cáo về công tác thi hành án và công tác đặc xá; công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm cùng báo cáo thẩm tra về các nội dung này.

Share This Page