►►►♠♣♥♦♪♫♫ ... tháng 8, dòng tiền tiếp tục cạn kiệt...►►►♠♣♥♦♪♫♫ ...

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi TLbooks, 23/09/2010.

838 người đang online, trong đó có 335 thành viên. 14:57 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 394 lượt đọc và 2 bài trả lời
  1. TLbooks

    TLbooks Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/02/2008
    Đã được thích:
    11
    - Tổng huy động vốn cho các ngân hàng tăng vốn: đã ngốn hết 37,000 tỷ VND
    - Tổng nợ xấu mà Vinashin nợ của các định chế tài chính VN ?
    - Tổng tiền các NH phải hút về từ thông tư 13 ?
    - Chuyển động hậu trường trước mùa xuân 2011 với hai nhạc phẩm mở màn là Vinashin và Tân Tạo...

    Sóng lớn, cá lớn cá nhỏ bị xua đuổi, mây đen vần vũ, không bão cũng có mưa lớn...

    Ra khơi làm gì...............................
  2. TLbooks

    TLbooks Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/02/2008
    Đã được thích:
    11
    ----------------------------Các vũ công không biết nhẩy theo điệu nhạc nào
    http://vneconomy.vn/20100922050448993P0C6/chuyen-gia-kham-suc-khoe-thi-truong-tien-te-viet-nam.htm

    Tín dụng tăng chậm, lãi suất cao 12-15%/năm và chưa hạ được, cạnh tranh lãi suất tiếp tục; tăng dự trữ bắt buộc từ 8% lên 9%, tăng vốn điều lệ ngân hàng; điều chỉnh tỷ giá 3 lần trong vòng 10 tháng khiến VND mất giá hơn 10%...


    Đó là những nét nổi bật trên thị trường tiền tệ Việt Nam năm 2010, được Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên điểm lại trong bài phát biểu của ông tại hội thảo kinh tế Việt Nam năm 2010 và triển vọng 2011, diễn ra tại Tp.HCM từ ngày 21-22/9.

    Lãi suất quá cao so với thế giới

    Theo TS. Võ Đại Lược, chủ nhiệm chương trình trọng điểm cấp quốc gia về kinh tế Việt Nam đến năm 2020, tình hình lạm phát tại Việt Nam đang khiến mặt bằng lãi suất USD tại thị trường trong nước cao hơn thị trường quốc tế.

    “Sẽ xuất hiện dòng vốn vay ủy thác đầu tư (carry trade) chảy vào Việt Nam, cái mà dòng vốn này tìm kiếm là lợi nhuận, là sự chênh lệch giữa lãi suất trên thị trường Việt Nam và quốc tế”, ông nói.

    Trích số liệu từ Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, ông Lược cho biết, đã có khoảng 2 tỷ USD carry trade vào Việt Nam và cho đến nay vẫn chưa rút ra, do lãi suất ở Việt Nam vẫn còn cao.

    “Nếu dòng vốn này ở lại Việt Nam lâu dài thì sẽ chưa có rủi ro gì. Tuy nhiên, nếu những điều kiện kinh tế thay đổi làm cho dòng vốn này không tìm kiếm được lợi nhuận nữa và do vậy sẽ rút ra, gây nên những tác động tiêu cực”, ông Lược khẳng định.

    TS. Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cũng lưu ý thêm, hệ thống tài chính có biểu hiện thiếu lành mạnh, nợ xấu của một số định chế còn cao, chu chuyển tiền mang tính đầu cơ lớn và chưa đi nhiều vào sản xuất hàng hóa, dịch vụ.

    Đồng ý với quan điểm này, ông Lược nêu thêm dẫn chứng, nhiều tập đoàn kinh tế đã huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu doanh nghiệp với lãi suất khá cao, tới 14-16%/năm.

    “Hệ quả có thể dự báo được là các doanh nghiệp phải vay với lãi suất cao sẽ khó kinh doanh hiệu quả, và đến một lúc nào đó nợ xấu sẽ gia tăng”, ông Lược không giấu được lo lắng.

    Định giá VND cao khó thu hút đầu tư

    Tại hội thảo, TS. Võ Đại Lược cho biết cán cân thanh toán đã thâm hụt 8,8 tỷ USD trong năm 2009 và trong 6 tháng đầu năm 2010 là 2,84 tỷ USD (dự kiến năm nay thâm hụt 4 tỷ USD), dẫn tới dự trữ ngoại tệ giảm. Tính đến tháng 6/2010, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam chỉ còn ở mức 9 tuần nhập khẩu, khoảng 14 tỷ USD.

    “Một vòng xoáy đã xuất hiện: VND cao giá dẫn tới thâm hụt thương mại, dẫn tới giảm sút dự trữ ngoại tệ, buộc phải điều chỉnh tỷ giá. Nếu tỷ giá không được điều chỉnh thích hợp thì vòng xoáy lại tiếp tục theo hướng tiêu cực hơn. Do không có một chính sách chủ động về tỷ giá nên sẽ phải bị động đối phó, rủi ro sẽ tích tụ”, ông Lược lưu ý.

    Riêng trong năm 2010, Ngân hàng Nhà nước đã hạ giá VND hai lần, tương ứng mỗi lần là 3,5% và 2,1%. Theo ông Lược, “mọi người đều muốn có một tỷ giá ổn định để thuận tiện cho các tính toán kinh doanh, nhưng ổn định tỷ giá trong khi lạm phát ở Việt Nam cao hơn Mỹ thì điều chắc chắn sẽ xảy ra là giá VND sẽ tăng và hệ quả là hạn chế xuất khẩu, khuyến khích nhập khẩu, gia tăng nhập siêu”.

    Một điểm được nhấn mạnh trong bài viết của vị chuyên gia này là tác động của việc định giá cao VND đối với thu hút đầu tư vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu. Ông cho rằng, với đồng VND được định giá như hiện nay, các nhà đầu tư kinh doanh xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp chế biến sẽ phải cân nhắc nhiều hơn trong việc tính toán lựa chọn địa điểm đầu tư giữa Việt Nam và các nước khác.

    “Việt Nam sẽ chịu nhiều thiệt thòi trong lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu và sẽ tiếp tục duy trì địa vị là nước xuất khẩu tài nguyên, nếu không điều chỉnh tỷ giá”, ông Lược lưu ý.

    Tuy nhiên, ông cũng cho rằng hạ giá VND là đặc biệt khó khăn, do sẽ làm tăng nghĩa vụ trả nợ gia tăng với các khoản vay bằng USD của nhiều ngân hàng thương mại, các tập đoàn, tổng công ty…, vốn có tiếng nói rất “trọng lượng”.

    Phối hợp chính sách chưa chặt chẽ

    Bình luận về sự phối hợp chính sách tiền tệ trong thời gian vừa qua, nhiều chuyên gia tại hội thảo cho rằng việc này chưa được chặt chẽ. Thậm chí, TS. Trần Đình Thiên còn dùng các cụm từ "không nhất quán", "xung đột", "kích thích tâm lý bất ổn"... để nói về các chính sách tiền tệ được thực thi trong thời gian qua.

    Bằng chứng là nỗ lực hạ lãi suất không đi cùng hạ lạm phát kỳ vọng, đặc biệt là sau tín hiệu điều chỉnh mục tiêu lạm phát lên 8% và phá giá VND. Bên cạnh đó, vẫn còn những chính sách gây khan hiếm vốn hơn là tăng thanh khoản để hỗ trợ giảm lãi suất.

    Ở một góc nhìn khác, ông Thiên cho biết, nợ công đã lên tới 52,6% GDP, trong đó nợ nước ngoài chiếm 38,8% GDP, thâm hụt ngân sách cao kéo dài, nhưng chi tiêu ngân sách vẫn “bình thường” khi nền kinh tế gặp khó khăn về vốn, buộc chính sách tiền tệ “gồng mình” đối phó lạm phát và cung ứng vốn cho nền kinh tế.

    Chia sẻ quan điểm kể trên, Phó viện trưởng CIEM Võ Trí Thành nói, vấn đề hiện nay quan trọng là lựa chọn chính sách phù hợp. “Cả chính sách nới lỏng và “bóp nghẹt” thiếu thận trọng, thái quá đều không thích hợp”, ông nói.

    Nới lỏng thiếu thận trọng dẫn tới rủi ro bất ổn vĩ mô tăng, khuyến khích đầu cơ tài chính, không tạo điều kiện cho tăng trưởng bền vững và hiệu quả. Nhưng ngược lại, chính sách “bóp nghẹt” cũng làm “chết” quá trình phục hồi và sự năng động thị trường, trong khi rủi ro tài chính vẫn gia tăng, Phó viện trưởng CIEM lập luận.

    “Việc phối hợp chính sách không nên tạo ra sự lẫn lộn trong thông điệp, ảnh hưởng đến lòng tin thị trường vào khả năng ổn định vĩ mô”, ông Thành nói.
  3. TLbooks

    TLbooks Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/02/2008
    Đã được thích:
    11
    "Thông tư 13 đã phù hợp với thông lệ quốc tế và khả năng thực hiện của các NH Việt Nam"
    [​IMG]

    NHTM không được mạo hiểm, đem nguồn vốn của người gửi tiền cho kinh doanh, đầu tư những lĩnh vực quá nhiều rủi ro.



    Dưới đây là tóm lược nội dung trả lời phỏng vấn của Website Ngân hàng Nhà Nước (NHNN) với Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Hương – Tổng biên tập Tạp chí Ngân hàng về những ý kiến xung quanh một số quy định tại Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của Ngân hàng Nhà nước (Thông tư 13).

    Về cơ bản, Bà Hương cho rằng nội dung Thông tư 13 đã phù hợp với thông lệ quốc tế và khả năng thực hiện của các NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, có một số ít nội dung thuộc về kỹ thuật nên xem xét chỉnh sửa, bổ sung như tính thêm nguồn vốn tiền gửi thanh toán của tổ chức kinh tế và dân cư (không được tính nguồn vốn tiền gửi của KBNN tại ngân hàng) vào chỉ tiêu nguồn vốn tiền gửi.

    Xét chung toàn cảnh hệ thống ngân hàng Việt Nam, các nội dung của Thông tư 13 nên được triển khai thực hiện theo đúng lộ trình.

    CAR 8% - chỉ áp dụng với NH có trình độ quản trị kinh doanh, quản lý rủi ro tốt

    Nói Thông tư 13 có những quy định vượt trước cả chuẩn quốc tế tốt nhất về chỉ tiêu an toàn và lộ trình thực hiện là không chuẩn xác và là cách nhìn không toàn diện (hệ số CAR áp dụng 9%) vì những lý do sau: Tỷ lệ an toàn vốn (hệ số CAR) tổ chức tín dụng được xác định theo công thức sau:

    Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
    (CAR)
    =
    Vốn tự có​
    >= 8%

    Rủi ro tín dụng
    +
    Rủi rothị trường
    +
    Rủi ro hoạt động khác








    Trong đó, rủi ro tín dụng = Tổng tài sản “Có” rủi ro

    Nội dung của Thông tư 13 chưa yêu cầu về mức vốn tự có tối thiểu (quy định trong Basel I sửa đổi) đủ để sẵn sàng bù đắp mức độ rủi ro thị trường (bao gồm rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro giá chứng khoán, những rủi ro thị trường khác…), và rủi ro hoạt động khác.

    Kinh nghiệm quốc tế và của Việt Nam đã chứng minh nhiều NHTM phải đối diện với rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Ví dụ, Ngân hàng Barings (Mỹ) đã bị phá sản vì rủi ro thị trường và/ hoặc vì rủi ro hoạt động. Việt Nam cũng đã từng có trường hợp một NHTM lớn trong thời gian chưa đến 01 năm kinh doanh ngoại tệ đã để tổn thất hơn 500 tỷ VND.

    Trong khi đó, CAR là 8% - đó là mức áp dụng đối với ngân hàng có trình độ quản trị kinh doanh, quản lý rủi ro tốt. Basel II cũng đã đưa ra nội dung: Cơ quan giám sát, thanh tra yêu cầu một ngân hàng nhất định phải có mức vốn tự có tối thiểu cao hơn 8% nếu xác định trình độ quản trị kinh doanh, quản trị rủi ro của đơn vị ngân hàng đó không tốt.

    Trình độ quản trị kinh doanh, quản lý rủi ro của các NHTM Việt Nam đã tiến bộ rất nhiều. Tuy nhiên chưa thể nói quản trị kinh doanh, quản lý rủi ro của đa số các NHTM Việt Nam đã ở trình độ tốt hoặc đạt mức chuẩn quốc tế.

    Ngoài ra, chuẩn mực kế toán Việt Nam đang thiếu những chuẩn mực kế toán về công cụ tài chính. Nếu NHTM Việt Nam lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc tế thì mức độ rủi ro tín dụng được thể hiện cao hơn khi lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán Việt Nam.

    Tỷ lệ giữa cho vay với tiền gửi là một trong những thước đo khả năng chi trả của NH

    Mặc dù chuẩn mực Basel không đề cập tỷ lệ % vốn huy động cụ thể để cấp tín dụng, nhưng nói rằng quy định này của Thông tư 13 đã vô hiệu hóa hoạt động của bộ phận quản lý Tài sản có-Tài sản nợ (ALCO) và can thiệp vào quyền chủ động của các TCTD là chưa chuẩn.

    “Thanh khoản” hay “khả năng chi trả” (liquidity) của một ngân hàng được đánh giá thông qua một tập hợp đa dạng các công cụ và kĩ thuật; tỷ lệ giữa cho vay so với tiền gửi (LDR) là một trong những thước đo nhận được nhiều sự quan tâm nhất. Một sự gia tăng tỉ lệ cho vay so với tiền gửi cho thấy ngân hàng đang có ít hơn nguồn vốn tiền gửi để tài trợ cho tăng trưởng tín dụng và bảo vệ mình khỏi nguy cơ rút tiền gửi đột ngột, khả năng thanh khoản của ngân hàng giảm.

    Theo Bà Hương, khi triển khai quy định về tỉ lệ cho vay so với tiền gửi của Thông tư 13, một số NHTM có thể gặp khó khăn, các ngân hàng này cần báo cáo riêng NHNN và đưa ra lộ trình, thời điểm cụ thể để thực hiện.

    Hệ số rủi ro 250% là ngăn ngừa NHTM không thực hiện quy mô lớn những hoạt động quá nhiều rủi ro

    Năm 2008, 2009 vừa qua, Việt Nam đã chứng kiến có nhiều mã chứng khoán mất tới 70%- 80% giá trị thị trường; và đã có thời gian nhất định, nhiều bất động sản riêng lẻ giảm tới 50% giá trị thị trường.

    Việc quy định hệ số rủi ro cao 250% (tương ứng là yêu cầu phải có 20đ (= 8* 2.5) vốn tự có khi cho vay 100đ vào lĩnh vực kinh doanh, đầu tư chứng khoán/ cho vay kinh doanh, đầu tư bất động sản, nếu xét riêng về rủi ro tín dụng) là ngăn ngừa NHTM không thực hiện quy mô lớn những hoạt động quá nhiều rủi ro.

    Một cách tiếp cận tương tự đối với một khoản mục tài sản “Có” khác có mức độ rủi ro cao của ngân hàng thương mại đã có ngay trong nội dung của Basel II: Đó là đơn vị ngân hàng phải loại bỏ hoàn toàn khỏi vốn tự có khi tính toán hệ số CAR đối với số vốn góp vào công ty con, công ty liên kết hoặc khi cho vay “người có liên quan”.

    Theo bà Hương quy định trên là cần thiết. Để phát triển ổn định, bền vững, nguồn vốn kinh doanh của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản cần phải dựa chủ yếu vào nguồn vốn trung, dài hạn của người đầu tư, không nên dựa chủ yếu vào nguồn vốn tín dụng ngắn hạn của hệ thống ngân hàng.

    Q. Nguyễn
    Ghi theo SBV

Chia sẻ trang này