Thị trường đi về đâu sau bầu cử

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi noname123, 06/11/2008.

1116 người đang online, trong đó có 446 thành viên. 21:48 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 299 lượt đọc và 3 bài trả lời
  1. noname123

    noname123 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    14/01/2007
    Đã được thích:
    0
    Thị trường đi về đâu sau bầu cử

    Sau những hân hoan trước một bức ngoặc mới của nước MỸ là sự lo lắng thường trực trong mắt mỗi người. Thất vọng bi quan, có lẽ tết này người dân cũng không buồn ăn tết.

    Phố Wall chao đảo sau ngày Obama đắc cử

    06-11-2008 09:56:54 GMT +7


    Chứng khoán Mỹ đã giảm trên 5% và đây là phiên giảm điểm mạnh nhất trong lịch sử sau ngày bầu cử tổng thống - (Ảnh: AP)
    Ngày 5-11, chứng khoán Mỹ bất ngờ giảm trên 5% sau ngày ông Obama trở thành tân Tổng thống Mỹ

    30 cổ phiếu trong chỉ số Dow Jones đều mất điểm

    Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ đã khép lại bằng chiến thắng thuyết phục của Thượng nghị sỹ Barack Obama. Cùng đó là chiến thắng áp đảo của đảng Dân chủ trong cuộc chạy đua vào Thượng viện và Hạ viện trước đảng Cộng hòa.

    Theo giới quan sát, việc nắm quyền chi phối ở hai viện sẽ giúp cho ông Obama có thể nhanh chóng đưa ra các quyết sách.


    Vấn đề quan trọng nhất nổi lên lúc này là vấn đề chính sách kinh tế của ông Obama để vực dậy nền kinh tế Mỹ đang gặp khó khăn sau cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua.


    Theo giới phân tích nhận định, một trong những chính sách kinh tế mà ông Obama sẽ tập trung vào là chính quyền mới sẽ đẩy mạnh việc thắt chặt các quy định luật pháp, đặc biệt đối với ngành tài chính.


    Một trong những điểm hàng đầu trong chương trình làm việc của tân Tổng thống sẽ là cải tổ toàn diện các quy định pháp lý đối với ngành tài chính nhằm hạn chế các hoạt động đầu tư có mức độ rủi ro cao. Các quy định này sẽ nhằm vào từng tổ chức riêng lẻ một để đảm bảo sự ổn định của cả hệ thống.

    Vấn đề đặt ra lúc này là liệu bộ phận nào của ngành tài chính sẽ chịu tác động mạnh từ những thay đổi pháp lý nào. Có khả năng, đối tượng dễ bị tổn thương nhất sẽ là các quỹ đầu cơ, mặc dù chính các quỹ này là những người ủng hộ ông Obama.


    Bên cạnh đó, vị trí Bộ trưởng Bộ Tài chính cũng rất quan trọng trong việc thực thi các chính sách kinh tế dưới thời tân Tổng thống.


    Giới quan sát nhận định, sẽ có 3 ứng cử viên sáng giá cho vị trí Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ là tỉ phú - nhà đầu tư lừng danh Warren Buffett, cố vấn kinh tế của ông Obama; ông Timothy Geithner, người hiện giữ chức Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tại New York; bà Sheila Bair, người hiện là Chủ tịch Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ.


    Ngoài ra, các ứng cử viên khác bao gồm hai cựu Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ là Robert Rubin và Lauwrence Summers, cũng như Thống đốc bang New Jersey, ông John Corzine - cựu CEO của tập đoàn Goldman Sachs.


    Một ngày sau khi ông Obama đắc cử Tổng thống Mỹ, chứng khoán Phố Wall đã sụt giảm mạnh và trở thành phiên giảm điểm mạnh nhất trong lịch sử sau ngày bầu cử tổng thống.


    Ngay khi thị trường bước vào ngày giao dịch, các chỉ số đã đồng loạt mất điểm. Đà giảm liên tục được duy trì từ 10 giờ (giờ địa phương) đến lúc thị trường đóng cửa.


    Biểu đồ của thị trường lộ rõ một xu thế ?ocắm mặt? đi xuống của các chỉ số, tất cả 30 cổ phiếu blue-chip trong chỉ số Dow Jones đều giảm mạnh, trong đó, cổ phiếu của Citigroup sụt giảm 13,97%, cổ phiếu Bank of America mất 11,33%, cổ phiếu JPMorgan Chase hạ 7%, cổ phiếu Intel trượt 7,38%...


    Cổ phiếu của hai tập đoàn bảo hiểm trái phiếu hàng đầu nước Mỹ đã mất điểm với biên độ lớn sau khi Tập đoàn Ambac Financial Group công bố lỗ 7,81 USD/cổ phiếu và MBIA công bố lỗ 806,5 triệu USD, tương đương 3,48 USD/cổ phiếu, trong quý 3/2008.


    Giới đầu tư đã bán tháo mạnh hai cổ phiếu này khiến cổ phiếu Ambac Financial Group hạ 40,88%, còn cổ phiếu MBIA thì mất 20,99%.


    Tin xấu về kinh vĩ mô đã ập đến khiến thị trường không thể tiếp tục khởi sắc. Trong ngày 5-11, Viện Quản lý Nguồn cung (ISM) đã công bố chỉ số khu vực phi sản xuất (dịch vụ) ở Mỹ giảm từ 50,2 điểm trong tháng Chín xuống 44,4 điểm trong tháng Mười. Như vậy cả lĩnh vực sản xuất và phi sản xuất ở Mỹ đều sụt giảm mạnh trong tháng 10.


    Trong khi đó, tình trạng cắt giảm việc làm của giới chủ tư nhân lại gia tăng trong tháng 10. Theo đó, giới chủ Mỹ đã cắt giảm 157.000 việc làm, cao hơn mức dự báo của giới phân tích là 100.000 sẽ mất việc trong tháng 10. Giới phân tích cũng dự báo, tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ trong tháng 10 có thể sẽ tăng từ 6,1% lên 6,3%.


    Điểm qua kết quả giao dịch ngày 5-11: Chỉ số công nghiệp Dow Jones sụt giảm 486,01 điểm, tương đương -5,05%, đóng cửa ở mức 9.139,27.


    Chỉ số Nasdaq phiên này trượt 98,48 điểm, tương đương -5,53%, chốt ở mức 1.780,12.


    Cuối cùng, chỉ số S&P 500 mất 52,27 điểm, tương đương 5,27%, đóng cửa ở mức 952,98.


    Khối lượng trên sàn New York phiên này ở mức 1,31 tỉ cổ phiếu. Khối lượng giao dịch trên sàn Nasdaq đạt 2,21 tỉ cổ phiếu. Trên hai sàn, thị trường cứ có 4 cổ phiếu mất điểm thì có 1 cổ phiếu lên điểm.


    Giá dầu kỳ hạn giao tháng 12 tại NYMEX trong ngày 5/11 đã sụt giảm 5,23 USD/thùng và đóng cửa ở mức 65,3 USD/thùng.

    Theo Duy Cường (Thời báo Kinh tế VN
  2. noname123

    noname123 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    14/01/2007
    Đã được thích:
    0
    Bóng ma giảm phát đang ngấm ngầm lộ diện
    06/11/2008 13:18 (GMT + 7)
    Khi nhiều quốc gia trượt sâu hơn vào tình trạng khó khăn tài chính, một hiểm họa mới dường như đang dấy lên bên trong nền kinh tế Mỹ, hàng hóa ứ đọng chờ người mua, giá cả suy giảm bóp nghẹt vốn đầu tư thanh sạch và ******** trạng thất nghiệp thêm trầm trọng. Người ta gọi nó là giảm phát, một thuật ngữ làm các nhà kinh tế nổi gai ốc.
    Góc nhìn quốc tế: Khủng hoàng tài chính thế giới tuần qua
    Joseph Stiglitz: Cách thoát khỏi khủng hoảng tài chính toàn cầu
    Khủng hoảng kinh tế thế giới: Nỗi đau thực sự bắt đầu...


    Khủng hoảng kinh tế thế giới có thể làm mất việc của hàng ngàn công nhân ở các công ty đa quốc gia tại các nước đang phát triển (Ảnh: Times)


    "Thập kỷ bị đánh mất" có thể trở lại?

    Giảm phát từng đi đôi với cuộc Đại suy thoái những năm 1930. Sự rớt giá liên tục cũng nằm trong tâm chấn của cái gọi là ?othập kỉ bị đánh mất? ở nước Nhật sau sự đổ vỡ kinh hoàng của bong bóng thị trường bất động sản vào cuối những năm 1980, giai đoạn mà hiện nay một số chuyên gia tìm thấy có nhiều tương đồng với tình trạng khó khăn của nước Mỹ.

    ?oĐiều khả dĩ đó là phác họa rủi ro mà tôi nhận thấy?, Robert J. Barbera, kinh tế gia đầu ngành tại công ty nghiên cứu và mậu dịch ITG, cho biết. ?oNó là cuộc khủng hoảng mà chúng ta đối mặt.?

    Khi những nền kinh tế trên toàn cầu yếu đi, nhu cầu dầu mỏ, đồng, lương thực và các mặt hàng khác giảm đi, kéo theo sự hạ giá của nguyên liệu thô. Tuy giả cả giảm rõ rệt ở hầu hết hàng hóa và dịch vụ, vẫn hiển hiện một ngoại lệ là các mặt hàng gia dụng.

    Nhu cầu giảm bắt đầu làm hạ giá thành một số mặt hàng, như đồ nội thất và đồ giường tủ, vốn đã giảm nhẹ từ đầu năm 2007, theo số liệu của chính phủ. Đồ điện, vật dụng và thiết bị gia đình cũng bắt đầu giảm giá.

    Chỉ vài tháng trước, những nhà chính sách người Mỹ đã lo lắng về vấn đề ngược lại, đó là tình trạng tăng giá, hay lạm phát, khi giá dầu mỏ và lương thực leo thang khi đó rút ruột nền kinh tế. Vào tháng 7, giá cả bình quân cao hơn một năm trước đó 5,6 %, mức lạm phát cao nhất kể từ năm 1991. Tuy nhiên đến cuối tháng 9, mức lạm phát theo năm giảm còn 4,9 % và được chờ đợi sẽ còn thấp hơn nữa.

    Lạm phát có thể khơi mào cho điều tồi tệ hơn: Giảm phát


    Một loạt các mặt hàng được bán trong các siêu thị Wal-Mart ở Mỹ giảm giá nhằm
    kích thích tiêu dùng (Ảnh nguồn: Beth Hall/Associated Press)

    Điều lo lắng khác nảy sinh khi ở trường hợp xấu nhất, lạm phát chấm dứt có thể khơi mào cho một điều tồi tệ: sự cắt giảm tiêu dùng lững thững và dai dẳng khi người tiêu dùng và nhà kinh doanh trên khắp thế giới mất sức mua, khiến hạ giá thành nhiều mặt hàng.

    Mặc dù được cân nhắc là khó thể xảy ra, điều đó vẫn có thể khiến nhà kinh doanh trì hoãn sản xuất và gia tăng cắt giảm nhân công, làm cho nhiều người mất khoản tiền lương và nhu cầu tiêu dùng suy giảm về sau.

    Mối nguy hiểm ở chỗ khó tìm ra cách giải quyết. Những nhà chính sách có thể đại khái đẩy lùi lạm phát bằng cách tăng lãi suất, thắt chặt hoạt động kinh tế và cắt giảm nhu cầu tiêu dùng. Nhưng như trường hợp Nhật Bản đã trải qua, một nền kinh tế có thể chìm trong giảm phát nhiều năm liền, ngay cả khi đã đưa lãi suất về số không: giá cả sụt giảm khiến các công ty đắn đo trong đầu tư ngay cả khi thừa thãi tín dụng.

    Hầu hết những năm 1990, giá nhà đất và hàng hóa không ngừng suy giảm ở Nhật Bản. Khi nhân công bị cắt giảm nhiều hơn và sức mua giảm, giá cả vẫn không ngừng rớt, tuột trong vòng xoáy bại sản. Một số người lo ngại nền kinh tế Mỹ đang lâm vào số phận tương tự, nếu như suy thoái sâu rộng và kéo dài, còn người tiêu dùng mất sức mua cũng như ở châu Âu, châu Á và Mỹ La tinh phải chịu xuống dốc.

    ?oĐó là một nguy cơ đầy ý nghĩa vào lúc này?, Nouriel Roubini, nhà kinh tế ở Stern School of Business thuộc đại học New York cho biết. Ông là người đã tiên đoán trúng từ trước cuộc khủng hoảng tài chính và cảnh bảo khả năng giảm phát cách đây nhiều tháng. ?oChúng ta đã bước vào vòng luẩn quẩn của nỗi khó khăn ngày một chồng chất?, ông nói.

    Hầu hết nhà kinh tế, bao gồm cả Roubini và Barbera, cho rằng những nhà chính sách người Mỹ có đủ phương cách để ngăn ngừa hố đen giảm phát như đã từng bao trùm Nhật Bản. Nỗi lo giảm phát gần đây nhất ở Mỹ là vào năm 2003, nhưng Cục dự trữ liên bang (FED) đã ngăn chặn hiểm họa bằng cách giảm lãi suất nhằm giữ nền kinh tế phát triển. Lần này, FED một lần nữa phải mạnh tay, cắt lãi suất xuống mức 1% trong tuần trước. Đồng thời những dự án ứng cứu của chính phủ cũng đã đổ tiền vào nền kinh tế.

    ?oNếu bạn in đủ tiền, bạn có thể tạo ra lạm phát?, Kenneth S. Rogoff nói. Ông là kinh tế gia đầu ngành ở Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và hiện nay là giáo sư ở Harvard.

    ?oChúng ta đang bước vào cuộc suy thoái toàn cầu quyết liệt thật sự?


    Giảm giá, các cửa hàng hi vọng có thể kích cầu và cứu vớt thị trường
    (Ảnh nguồn: Ric Francis/Associated Press)


    Nhưng ngay cả khi chính quyền Mỹ buông lỏng tín dụng, nguy cơ vẫn gia tăng. Không phải chỉ từ sau Đại suy thoái nhiều quốc gia mới phải đối mặt với nó. Cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng lên toàn cầu, như một con virus miễn nhiễm mọi phương cách chữa bệnh. Từ Hàn Quốc đến Iceland, Brazil, cơn dịch lan rộng, mang theo nó là sự thắt chặt tín dụng đã làm ngã gục ngay cả những công ty tài chính khả kháng nhất.

    ?oChúng ta đang bước vào cuộc suy thoái toàn cầu quyết liệt thật sự?, Rogoff nói. ?oMột cuộc suy thoái tài chính đáng kể đã được mở đường để trở thành nỗi hoảng sợ trên toàn cầu mang đầy đủ dáng dấp. Đó là một tình trạng rất nguy hiểm. Nguy hiểm ở chỗ không chỉ một vài năm tới tồi tệ, mà chúng ta sẽ có một thập kỉ bị mất khác?.

    Kinh tế toàn cầu đã phát triển khởi sắc trong những năm gần đây, phần nhiều hưởng lợi từ việc đầu tư cho mượn. Nó làm nổi lên những khu nhà ở trù phú ở Florida và California, nhà máy thép ở Ukraina, lò gia súc ở Brazil và khu phố thương mại ở Thổ Nhĩ Kì.

    Làn sóng đó giờ đây đang đổi chiều. Những ngân hàng và tập đoàn tài chính đang tính đến những khoản lỗ đầu tư trị giá hàng trăm tỉ đô la. Khi khó khăn trong việc tích lũy lại vốn, họ hoãn việc cho khách hàng vay nợ, đòi các khoản trả nhanh chóng từ các khách hàng khác và các tài sản bán tháo, như nhà bán ra từ việc tịch thu để thế nợ, các khoản đầu tư liên quan đến thế chấp và nợ liên danh. Việc bán ra đang kéo giá cả xuống thấp hơn nữa, khiến trị giá tài sản trong bảng cân đối kế toàn giảm đi, nhiều trường hợp buộc phải phải thanh toán.

    ?oBạn rơi vào vòng phản hồi bất lợi này khi giá trị tài sản suy giảm?, Barbera nói. ?oVề căn bản bạn đang đặt gánh nặng xuống nền kinh tế toàn cầu.?

    Trong những cuộc khủng hoảng trước, như ở Mexoco năm 1994 và hầu hết châu Á năm 1997 và 1998, những nền kinh tế non yếu cũng tìm cách phục hồi bằng việc đẩy mạnh xuất khẩu, không riêng gì nước Mỹ. Nhưng bây giờ, người tiêu dùng ở Mỹ bị ảnh hưởng nặng. Sau nhiều năm được mượn tiền mua nhà và dư dả chi tiêu tín dụng, người tiêu dùng đang bị quay lưng lại.

    Từ châu Á đến Mỹ La tinh, xuất khẩu đang giảm dần và sẽ tiếp tục như thế khi nhu cầu tiêu dùng trên thế giới sa sút. Nỗi lo thêm chồng chất khi những nền sản xuất chủ yếu như Trung Quốc hay Ấn Độ, vốn gia tăng sản lượng mạnh mẽ trong những năm gần đây, sẽ phải bán hạ giá sản phẩm ra thị trường thế giới để giữ các nhà máy hoạt động và ngăn chặn nạn thất nghiệp, kéo giá cả thấp xuống.

    Trước đó trong năm nay, một số nhà phân tích cho rằng những công ty ở Mỹ nên tiếp tục đà kinh doanh, ngay cả khi người tiêu dùng quay đi, bàng cách bán ra thị trường nước ngoài. Lập luận cho rằng Caterpillar, nhà sản xuất thiết bị xây dựng, có thể bị thiệt hại doanh thu ở Mỹ nhưng những dự án lớn từ Nga cho đến Dubai đòi hỏi nhà thầu nước ngoài. Úc và Brazil cũng cần mở rộng các hoạt động khai khoáng khi đưa quặng sắt đến những lò nung ở Đông Bắc Á.

    ?oNăm tới, không nghi ngờ gì nữa, sẽ là một thách thức?

    Nhưng khi hầu hết thế giới đang gặp khó khăn, Ceterpillar cũng lo lắng. ?oNăm tới, không nghi ngờ gì nữa, sẽ là một thách thức?, James W. Owens, CEO của Ceterpillar nói.

    Trung Quốc từ lâu đã là tâm điểm của lập luận cho rằng thế giới vẫn giữ đà tăng trưởng bất kể Mỹ rơi vào khó khăn. Trung Quốc đang nhập khẩu bông từ Ấn Độ và Mỹ, linh kiện điện tử từ Hàn Quốc, Malaysia và Đài Loan; gỗ từ Nga và châu Phi, và dầu từ Trung Đông.

    Nhưng nhiều thành phẩm của Trung Quốc với nguyên vật liệu nhập từ nước ngoài đã đổ bộ vào thị trường Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Khi người tiêu dùng quay lưng ở những nước trên, các nhà máy Trung Quốc cũng chịu ảnh hưởng cùng với các nhà cung cấp trên toàn cầu.

    Việc Trung Quốc sản xuất ít máy laptop hơn trước kéo theo nhu cầu về chip giảm. Tuần trước nữa, Toshiba, nhà sản xuất chip lớn nhất ở Nhật, công bố khoản lỗ 275 triệu đô la từ tháng 7 đến tháng 9, cho rằng đó là hậu quả của nhu cầu trên thế giới giảm đi.

    Nhu cầu cho TV màn hình phẳng ít hơn đồng nghĩa với việc giảm nhu cầu của màn hình thủy tinh phẳng. Tháng trước, Samsung, nhà sản xuất điện tử lớn ở Hàn Quốc, nói rằng việc vượt cung của sản phẩm này tạo nên khoản lỗ trong quý nặng nhất kể từ 3 năm qua.

    Hiện nay, việc thừa mừa hàng hóa dường như đang xảy ra ở Mỹ. Đặt hàng của cho xe tải của các doanh nghiệp sụt giảm. Đầu tư trong thiết bị công nghiệp suy yếu. Tuy nhiên lượng vật tư lại gia tăng.

    ?oTôi lo lắng về một nền kinh tế tương tự nước Nhật?, Barry P. Bosworth, nghiên cứu sinh Viện Brookings cho biết. ?oChúng ta sẽ gặp khó khăn trong việc làm thế nào để đưa nền kinh tế phục hồi trong vài năm tới?.

    Tác giả bài viết là Peter S. Goodman, cây bút kinh tế trong nước của báo The New York Times. Trước đó, ông là phóng viên viết về kinh tế châu Á của tờ Washington Post.

    Quốc Tân (theo New York Times)
  3. trangsiBode

    trangsiBode Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    22/05/2006
    Đã được thích:
    0
    Bọn nó kéo lên để xả để chạy thoát, bà con nhỏ lẻ mua vào với hy vọng gì? đống giấy lộn với mệnh giá cao mua làm gì?
  4. noname123

    noname123 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    14/01/2007
    Đã được thích:
    0

    Đồng ý với bác Tráng sĩ. nhà đầu tư có kinh nghiệm dần rất rút vốn ra khỏi thị trường tỷ lệ tiền cổ phiếu 80:20. ai cũng công nhận là cổ phie16u nhưngkhông biết tương lai sắp tới thế nào nếu các CTY trở thành con nợ. Post tiếp bài nhận định sâu sắc cho các bác kham khảo.


    1.200 tỷ đôla biến mất khỏi phố Wall

    30/9 trở thành ngày sụt giảm mạnh nhất trong lịch sử phố Wall, với việc chỉ số Dow Jones giảm gần 778 điểm, sau khi Quốc hội Mỹ từ chối thông qua đạo luật giải cứu thị trường tài chính.

    Chốt phiên, chỉ số công nghiệp Dow Jones giảm 6,98% xuống mức 10.365,45 điểm. Chỉ số Nasdaq rơi tự do 9,14%, đóng cửa tại 1.983,73 điểm. Chỉ số Standard & Poor 500 chốt tại 1.106,42 điểm, với số điểm trừ lên tới 8,81%.

    Với mức sụt giảm như trên, thiệt hại mà các nhà đầu tư phải chịu tính theo giá trị thị trường lên tới xấp xỉ 1.200 tỷ đôla. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử con số thiệt hại trong một phiên vượt quá 1.000 tỷ đôla.


    Việc đạo luật giải cứu khối tài chính không được thông qua có thể khiến phố Wall tiếp tục phải chứng kiến sự sụp đổ của nhiều định chế tài chính. Ảnh: telegraph.co.uk.

    Tai họa giáng xuống phố Wall bắt nguồn từ việc Quốc hội Mỹ, sau nhiều ngày thảo luận, đã không thông qua đạo luật cho phép Bộ Tài chính sử dụng 700 tỷ đôla mua lại các khoản nợ xấu ngân hàng. Giới kinh doanh sợ rằng nợ xấu không được giải quyết sẽ khiến các nhà băng thắt chặt cho vay. Từ đó gây khó khăn cho người dẫn trong việc tìm vốn kinh doanh hoặc chi tiêu.

    Ông Drew Kanaly, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc tại Kanaly Trust cho rằng thị trường chứng khoán đã bị sốc. Ông nói: "Nếu theo dõi các phương tiện thông tin đại chúng cuối tuần qua, mọi thứ dường như đã được thông qua". Tuy nhiên, cuối cùng tiền đã không được rót vào các ngân hàng.

    Gần đây, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Ben Bernanke, Tổng thống Bush, hay Bộ trưởng Bộ Tài chính Paulson liên tục có những phát biểu nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc càng sớm bơm tiền vào hệ thống ngân hàng càng tốt.

    Bên cạnh nỗi thất vọng do kế hoạch giải cứu bị hủy bỏ, phố Wall tiếp tục gặp hạn khi có tin ngân hàng đang gặp khủng hoảng Wachovia bị bán lại Citigroup. Theo đó, Citigroup sẽ mua lại 2,2 tỷ đôla tài sản của Wachovia thông qua cổ phiếu.

    Ngoài Wachovia, một số định chế tài chính lớn trước đó đã không thể trụ được lâu hơn, như Ngân hàng lớn thứ sáu nước Mỹ, Washington Mutual, Lehman Brothers, hay Merrill Lynch.

    Chung cảnh ngộ với phố Wall, thị trường chứng khoán Âu, Á cũng bị làn sóng bán tháo nhấn chìm. Tại châu Âu, Chính phủ đã buộc phải tiếp quản nhiều ngân hàng hoặc tập đoàn tài chính. Tập đoàn bảo hiểm ngân hàng Fortis của Bỉ và Hà Lan đã nhận được khoản hỗ trợ 16,4 tỷ đôla. Ngân hàng Bradford & Bingley cũng vừa được quốc hữu hóa để tránh khỏi nguy cơ phá sản.

    Tại Đức, hàng tỷ đôla từ các ngân hàng và cơ quan giám sát tài chính đã được bơm vào Hypo Real Estate Holding AG nhằm tránh cho nhà cho vay bất động sản này khỏi sụp đổ.

    Kết thúc ngày giao dịch, chỉ số FTSE 100 của Anh giảm 5,3%. Chỉ số DAX của Đức thấp hơn phiên trước 4,23%. Chỉ số CAC 40 của Pháp trượt 5,05%.

    Tuy chưa có những vụ sụp đổ lớn trong khối ngân hàng như châu Âu và phố Wall, nhưng chứng khoán châu Á cũng không nằm ngoài cơn bão khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sau phiên đầu tuần, các chỉ số chính tiếp tục lao dốc. Chỉ số Nikkei 225 của Nhật xuống 1,26%. Chỉ số Hang Seng của Hong Kong bị trừ 4,29%.

    Chứng khoán Trung Quốc ngừng giao dịch để nghỉ lễ.

    Xuân Hòa (theo CNN)
    http://khunglongcity.myminicity.com/

Chia sẻ trang này