►►►♠♣♥♦♪♫♫ Thị trường tháng 1/2010, tháng của hệ thống ngân hàng "thừa thanh khoản" ►►►♠♣♥♦♪♫♫

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi TLbooks, 30/12/2009.

806 người đang online, trong đó có 322 thành viên. 07:28 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 4923 lượt đọc và 74 bài trả lời
  1. TLbooks

    TLbooks Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/02/2008
    Đã được thích:
    11
    VFM lập thêm quỹ mới, gọi vốn để đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam với quy mô ban đầu 300 tỷ đồng.



    Chiều 14/12, Công ty Cổ phần Quản lý quỹ đầu tư Việt Nam (VFM) sẽ ra mắt và giới thiệu quỹ đầu tư mới tại Hà Nội: Quỹ đầu tư Năng động Việt Nam (VFA).


    Dự kiến tại buổi ra mắt này, VFM sẽ tiến hành lễ ký cam kết tham gia đầu tư vào Quỹ VFA với đại diện một số tổ chức tài chính, ngân hàng và công ty chứng khoán lớn.




    Từ ngày 18 - 30/1/2010, Quỹ đầu tư VFA cũng sẽ được giới thiệu cho các nhà đầu tư cá nhân tại sàn các công ty chứng khoán làm đại lý phân phối tại Tp. HCM và Hà Nôi như BVSC, SBS, HSC, KEVS, TSC, VIETINBANK KSC, VDSC, SSI, ACBS, APSI và FPTS.


    Theo giới thiệu, Quỹ đầu tư Năng động Việt Nam (VFA) là quỹ công chúng dạng đóng thứ ba và là loại quỹ ngắn hạn đầu tiên của VFM.


    Quỹ có quy mô vốn ban đầu 300 tỷ đồng, hiện đang được huy động từ cá nhân, pháp nhân trong và ngoài nước. Thời gian huy động sẽ bắt đầu tư đầu 12/1 đến hết ngày 8/2/2010 và sẽ được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Tp. HCM (HOSE) ngay sau khi đóng quỹ.
    VFM cho biết, đến thời điểm hiện nay, tổng số tiền cam kết đầu tư vào Quỹ VFA đã đạt hơn 200 tỷ đồng.


    Theo giới thiệu của VFM, “Quỹ VFA thừa hưởng các ưu điểm của các sản phẩm quỹ trước đó, nổi bật là chiến lược chia cổ tức hiệu quả. Trong trường hợp có lợi nhuận, Quỹ VFA sẽ chia ở mức tối thiểu 50% lợi nhuận thực hiện hàng năm (realized gain) cho nhà đầu tư”.


    Ông Trần Thanh Tân, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc VFM, cho biết: “Quỹ đầu tư VFA ra đời với mục tiêu nắm bắt cơ hội vàng của thị trường trong giai đoạn hậu khủng hoảng. Chiến lược của Quỹ là nắm bắt các xu hướng tăng trưởng của thị trường chứng khoán Việt Nam dựa trên mô hình đầu tư theo xu hướng (trend-following) thuộc mô hình đầu tư phân tích định lượng (Quant), nhằm mang lại lợi nhuận tối ưu cho quỹ. Bên cạnh đó, Quỹ đầu tư VFA luôn giữ vững mục tiêu bảo toàn vốn khi thị trường diễn biến không thuận lợi”.


    Mô hình Quant, theo giải thích của VFM, là sự kết hợp của cả ba loại hình phân tích truyền thống: phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật và phân tích số liệu thống kê. Dựa trên các thuật toán tiên tiến và phần mềm máy tính thông minh như Lý thuyết thông tin (Information Theory) và Thuật toán trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence), Quant tìm kiếm chính xác và xử lý nhanh chóng các thông tin thị trường, xác định dấu hiệu mua – bán và đưa ra chiến lược phân bổ đầu tư hợp lý mà không bị chi phối bởi cảm tính của con người.


    “Nhiều quỹ đầu tư lớn trên thế giới đã sử dụng Quant như một công cụ tối ưu tạo ra lợi nhuận vượt trội. Trong giai đoạn hậu khủng hoảng, các thị trường mới nổi như Việt Nam sẽ giao động rất mạnh tạo cơ hội để Quant phát huy tối đa hiệu quả”, VFM nhận định.
    Hiện tại VFM đang chào bán chứng chỉ quỹ VFA rộng rãi trên toàn quốc.
    Theo Minh Đức
    VnEconomy
  2. TLbooks

    TLbooks Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/02/2008
    Đã được thích:
    11
    Vì sao cấm đầu tư chỉ số?
    [​IMG]

    Thoạt nhìn, phương án “đầu tư theo chỉ số” dường như khá hợp lý và đã khá phổ biến tại các thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, xét về bản chất, mọi chuyện lại không đơn giản như vậy.



    Trong thời gian gần đây, một số công ty, sàn vàng tại Việt Nam đã triển khai sản phẩm giao dịch chỉ số theo VN-Index đến các nhà đầu tư. Theo đó, một số công ty cam đoan nhà đầu tư sau khi mua sản phẩm “đầu tư theo chỉ số” sẽ nhiều khả năng đạt được mức tỉ suất sinh lợi bằng với mức tỉ suất sinh lợi của VN-Index, đồng thời các công ty này sẽ thanh toán đầy đủ cho nhà đầu tư.
    Thoạt nhìn, phương án “đầu tư theo chỉ số” mà các công ty đưa ra dường như khá hợp lý và đã khá phổ biến tại các thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, xét về bản chất, mọi chuyện lại không đơn giản như vậy.
    Đầu tư theo chỉ số là gì?
    Có thể nhận thấy những tranh luận xung quanh việc nên hay không nên triển khai sản phẩm “đầu tư theo chỉ số” của các công ty, phần lớn xuất phát từ sự khác biệt giữa khái niệm chính thống của đầu tư theo chỉ số và khái niệm “đầu tư theo chỉ số” mà các công ty đưa ra. Nếu không tìm hiểu kỹ lưỡng, nhà đầu tư sẽ nhiều khả năng bị nhầm lẫn.
    Ở đây, trước khi phân tích về vấn đề khái niệm chính thống này, có thể khẳng định: Khái niệm “đầu tư theo chỉ số” mà các công ty đưa ra trong sản phẩm của mình là hoàn toàn khác biệt và sai lệch với truyền thống giao dịch trên thế giới.
    “Đầu tư theo chỉ số” được định nghĩa một cách chính thống như là việc nhà đầu tư mua chứng chỉ của một quỹ đầu tư, mà danh mục đầu tư của quỹ này bao gồm một phần hoặc toàn bộ chứng khoán cấu thành nên một chỉ số trên thị trường theo tỉ lệ vốn hóa thị trường phù hợp sao cho mức chênh lệch giữa tỉ suất sinh lợi của danh mục và tỉ suất sinh lợi của chỉ số thị trường tiến về 0. Một quỹ đầu tư cung cấp chứng chỉ như vậy gọi là quỹ chỉ số (index fund).
    [​IMG]
    Như vậy, “đầu tư theo chỉ số” phải thỏa mãn 2 điều kiện tiên quyết: - Phải thực sự có đầu tư vào cổ phiếu trên thị trường và hình thành danh mục thỏa điều kiện như đã đề cập. Mức lời hay lỗ của nhà đầu tư, giống như khi đầu tư vào các quỹ đầu tư khác, phụ thuộc vào tình hình lãi/lỗ (performance) của danh mục đầu tư.
    - Tiêu chí của “đầu tư theo chỉ số” phải rõ ràng, tức mục tiêu đầu tư là vào loại chỉ số nào.
    Ví dụ, quỹ đầu tư chỉ số A tại Mỹ xác định mục tiêu của mình là đầu tư vào chỉ số công nghiệp DJIA. Giả sử chỉ số này chỉ bao gồm 3 cổ phiếu là X, Y, Z có các thông tin như bảng sau đây:
    [​IMG]
    Như vậy, quỹ đầu tư có thể đầu tư vào một danh mục 3 cổ phiếu X, Y, Z theo tỉ lệ 12,5% X, 50% Y và 37,5% Z. Như vậy, quỹ đầu tư chỉ số A đã thỏa mãn 2 điều kiện là thực sự có đầu tư vào cổ phiếu theo danh mục vừa nêu, đồng thời xác định chỉ số mà mình muốn theo dấu (tracking) là DJIA. Tuy nhiên, ví dụ nêu trên chỉ là một trường hợp cơ bản. Trên thực tế, với hàng ngàn loại cổ phiếu, các quỹ đầu tư tại nước ngoài thường sử dụng các phần mềm quản lý quỹ trong việc thiết lập danh mục.

    Theo đó, quỹ đầu tư chỉ cần xác định hai vấn đề: Lựa chọn chỉ số để theo dấu (tracking) và tạo lập một danh mục sao cho mức chênh lệch giữa tỉ suất sinh lợi của danh mục và tỉ suất sinh lợi của chỉ số được lựa chọn tiến về 0.
    Hiện nay tại Mỹ và EU, rất nhiều quỹ “đầu tư theo chỉ số” đã ra đời và hiện cung cấp rất nhiều sản phẩm tài chính “đầu tư theo chỉ số” cho nhà đầu tư. Các sản phẩm này trải rộng ra từ những chỉ số tổng hợp như DJIA, NASDAQ, FTSE 100, DJ Euro Stoxx 50, đến các chỉ số ngành riêng biệt.
    Thực tế tại Việt Nam có gì khác biệt?
    Vấn đề đầu tiên cần đặt ra đối với sản phẩm của các công ty là liệu có hay không một sự đầu tư cổ phiếu thực? Đây cũng chính là điều kiện tiên quyết đối với “đầu tư theo chỉ số”.

    Thực tế đã cho thấy việc mà các công ty làm đơn thuần chỉ là lấy chỉ số VN-Index nhân với một hệ số quy đổi để tính ra giá trị mỗi đơn vị sản phẩm mà các công ty này bán ra cho nhà đầu tư, như có thể nhìn thấy ở sơ đồ dưới đây:
    Phương thức hoạt động có thể tồn tại trong sản phẩm “đầu tư theo chỉ số” của một số công ty.
    [​IMG]
    Như vậy, có thể nhận thấy “đầu tư theo chỉ số” như các công ty cung cấp, nhiều khả năng hoàn toàn không tồn tại khâu hình thành và đầu tư vào danh mục cổ phiếu thực thỏa điều kiện. Đây chính là sai biệt lớn nhất về khái niệm “đầu tư theo chỉ số” mà các nhà đầu tư cần lưu ý. Tuy nhiên, một số sàn vàng đã đưa ra ý kiến cho rằng danh mục đầu tư của họ là có tồn tại. Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu danh mục đó có thỏa điều kiện đã trình bày là mức chênh lệch giữa tỉ suất sinh lợi của danh mục và tỉ suất sinh lợi của chỉ số được lựa chọn tiến về 0 hay không? Và cách thức tạo lập danh mục này của các công ty là như thế nào?
    Cho dù trong trường hợp nào đi nữa, trong hai trường hợp trên, sàn vàng cũng rất khó theo dấu (tracking) VN-Index. Và như thế, khi nhà đầu tư sử dụng sản phẩm này, nhiều khả năng đồng nghĩa với việc đang chơi một trò chơi cá cược. Ngay cả trong trường hợp VN-Index tăng mạnh, nhà đầu tư thắng lớn, liệu các công ty này có đủ khả năng thanh toán?
    Như vậy, có thể nhận thấy việc một số sàn vàng triển khai hoạt động “đầu tư theo chỉ số” không thông qua đầu tư thực hoặc thiết lập danh mục sai nguyên tắc sẽ tạo ra nguy cơ mất thanh toán và vỡ nợ với quy mô lớn trong xã hội. Thiết nghĩ, đây có thể là cơ sở để Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ra công văn yêu cầu các công ty không được triển khai tổ chức giao dịch sản phẩm đầu tư chỉ số VN-Index.
    Theo Thạc sĩ Lê Đạt Chí - Trưởng bộ môn đầu tư tài chính Trường ĐH Kinh tế TPHCM
    Người lao động
  3. TLbooks

    TLbooks Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/02/2008
    Đã được thích:
    11
    Thị trường đang trong... phần "thân cá" ​
    [​IMG]

    VN-Index trong giai đoạn hiện nay có thể coi là phần thân một con cá trong xu thế tăng giá dài hạn. NĐT lướt sóng ngắn hạn chỉ ăn phần thân cá mà bỏ qua phần đầu hoặc đuôi.



    Trên TTCK Việt Nam, hiếm khi nào những thông tin về nhận định, dự đoán các biến động của chỉ số VN-Index lại thuần nhất như trong thời gian gần đây. Có đến 70 - 80% dự đoán của các CTCK và NĐT cho rằng, thị trường đã đổi chiều xu thế và bắt đầu bước vào những phiên điều chỉnh trước khi trở lại xu thế tăng giá.
    Những dự đoán khá giống nhau này chứng tỏ quy luật chuyển động thông thường của chỉ số VN-Index đã được khá nhiều NĐT nhận biết. Nó cũng thể hiện sự trưởng thành của một lớp người đầu tư sau 10 năm gắn bó với sàn giao dịch.
    Nhưng có một điều là nếu số lượng nhận biết của các NĐT trên thị trường ngày càng nhiều thì các quy luật thông thường trên sẽ không còn diễn ra như các dự đoán. Các dự đoán dựa trên phân tích kỹ thuật dần dần sẽ không chuẩn xác và bị vô hiệu hoá. Đó là một quy luật mà sớm hay muộn cũng diễn ra.
    Lý thuyết thị trường hiệu quả sẽ được áp dụng
    Điểm qua các diễn đàn của NĐT trên các website về chứng khoán trong thời gian gần đây, ta thấy có một số nhận định dựa trên phương pháp phân tích kỹ thuật đưa ra khá chuẩn xác. Nhưng điều đó không có nghĩa là nó sẽ đúng trong thời gian tới. Nếu các NĐT quá thần tượng những người đưa ra dự đoán đó, họ sẽ mất đi khả năng chống rủi ro và khó có thể trở thành một NĐT thành công.
    Vì sao vậy, theo lý thuyết thị trường hiệu quả (học thuyết về tính ngẫu nhiên), khi mọi người đã nắm bắt được những quy luật lên xuống thông thường thì thị trường sẽ nhanh chóng nhận thức được điều này và giá cả cổ phiếu sẽ tham gia xoá bỏ hiện tượng đó, nghĩa là quy luật này sẽ không diễn ra như dự đoán của nhiều người.
    Vì các nhà phân tích kỹ thuật thường dựa vào những biến động trong quá khứ cũng như hiện tại, để tìm ra sự vận động mang tính chu kỳ, qua đó dự đoán những chuyển động trong tương lai. Khi tất cả mọi người đều nhận biết điều này thì họ sẽ hành động và khai thác triệt để theo xu hướng đó, nên những chuyển động tương lai theo mô hình kỹ thuật lại không biến động như theo dự đoán.
    Trong thời gian tới, cùng với số đông NĐT trưởng thành, lý thuyết về một thị trường hiệu quả với sự chuyển động ngẫu nhiên của các chỉ số sẽ được áp dụng cho các NĐT trên TTCK.
    Điều chỉnh để tăng giá?
    Phiên giao dịch các ngày 8 – 11/1/2010 được giới phân tích đánh giá là những thời điểm điều chỉnh tại mốc 500 - 530 điểm. Nhưng trên thực tế, phiên điều chỉnh đã bắt đầu từ 2 phiên trước đó là phiên ngày 6 - 7/1/2010.

    Do tâm lý chung trên thị trường đều cho rằng tại mức 500 - 530 điểm, VN- Index sẽ có điều chỉnh nên nhiều người đã tranh thủ mua vào để chờ đợi một xu thế tăng giá mới.
    Vì lẽ đó mà 2 phiên điều chỉnh trước đó có biên độ dao động giá rất thấp. Việc tăng mạnh trở lại vào 2 phiên đầu của ngày 8/1 đã trở thành cơ hội chốt lời cho các NĐT ngắn hạn, kéo chỉ số VN-Index suy giảm các phiên sau đó.
    Theo đánh giá chung của giới phân tích thì chỉ số VN-Index sẽ dừng lại mức ngưỡng 500 - 530 điểm, rồi chuyển động nhấp nhô sang ngang là chuyển động theo quy luật thông thường, đúng với các dự đoán trước đó. Một lần nữa chỉ số VN- Index lại tấn công trở lại mức ngưỡng này. Mức hỗ trợ trước đây nay trở thành ngưỡng kháng cự trong quá trình tăng giá trở lại.
    Thông thường, khi thị trường trở lại mức ngưỡng này thì cường lực sức mạnh của nó sẽ yếu hơn, do lượng cổ phiếu bán ra không còn nhiều. Vì vậy, khả năng thời gian điều chỉnh sẽ rút ngắn lại. Nhưng nếu khối lượng khớp lệnh thấp hay số lượng cổ phiếu trao tay tại mức này không nhiều thì sẽ tạo một nguồn cung dồi dào cho ngưỡng kháng cự tiếp theo là mức 600 - 630 điểm.
    Mức kháng cự 600 - 630 điểm một lần nữa sẽ lại thử lửa thị trường để khẳng định xu thế tăng giá của VN-Index.
    Thực tế, nếu xét trên nhiều yếu tố, VN-Index trong giai đoạn hiện nay có thể coi là phần thân một con cá trong xu thế tăng giá dài hạn. Một chuyên gia phân tích nước ngoài cho rằng, hầu hết NĐT ngắn hạn đều chỉ ăn được đầu và đuôi của con cá mà bỏ qua phần thân cá. Trong thời điểm hiện nay, nếu các NĐT không thực hiện những động thái mua đi bán lại cổ phiếu nhiều thì khả năng họ sẽ ăn được phần thân của cá.
    Theo Mai Ly
    ĐTCK
  4. TLbooks

    TLbooks Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/02/2008
    Đã được thích:
    11
    Nhận định thị trường (HSC 14/1/2010) – Các thị trường hôm nay giao dịch trong biên độ khá hẹp trên ngưỡng đóng cửa của phiên ngày hôm qua. Các chỉ số đóng cửa ở giữa mức cao và mức thấp trong ngày với GTGD giảm. Thị trường tăng đầu phiên nhờ ảnh hưởng từ sự tăng điểm mạnh từ phiên hôm qua. Tuy nhiên, sau đó lực mua vào yếu đi và trên thị trường đã diễn ra tình trạng đuổi bắt giữa bên mua và bên bán. Biên độ biến động thu hẹp; độ rộng thị trường mở rộng so với phiên giao dịch hôm qua và đà tăng đầu phiên đã yếu đi trong phiên. Điều này cũng dễ hiểu khi chỉ số VNIndex đã tăng liền 30 điểm trong hai phiên giao dịch vừa rồi. Các mã bluechip tăng hôm nay gồm có SAM, VIS, TAC, MCV, TDH và BVH. Còn lại hầu hết các mã cổ phiếu giao dịch trong một phạm vi giá hẹp. Chỉ có một số mã giảm mạnh bao gồm DQC, DST SZL và RAL.

    KLGD giảm mạnh nhưng điều thú vị là lượng đặt mua và đặt bán đạt cao hơn so với phiên hôm qua cho thấy các nhà đầu tư đã đặt lệnh mua/bán thấp/cao hơn mức giá khớp. Do vậy, trước mắt, chúng ta không cần phải quá lo ngại trước sự suy giảm của KLGD. Và với việc lượng đặt mua đạt trên 10 triệu đơn vị vào cuối phiên cho thấy tâm lý thị trường vẫn khá lạc quan.

    Chúng tôi tiếp tục giữ quan điểm là thị trường có thể tiếp tục tăng trong ngắn hạn nhưng không chắc chắn rằng các chỉ số có thể bứt phá qua các đỉnh được thiết lập gần đây trong bối cảnh tính thanh khoản trong hệ thống ngân hàng vẫn thấp. Trong tuần tới, sẽ có những thông tin về chỉ số CPI của tháng 1 và quan điểm của chúng tôi là CPI tháng 1 sẽ tăng dưới mức 1.38% so với tháng 12. Điều này có thể là một nhân tố tích cực đối với tâm lý của các nhà đầu tư vì với mức tăng không quá cao của CPI thì việc tăng lãi suất cơ bản có lẽ sẽ không xảy ra ngay. Chúng tôi vẫn cho rằng lãi suất sẽ tăng trong Q1 nhưng vẫn còn 2 tháng nữa để điều này xảy ra.
  5. TLbooks

    TLbooks Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/02/2008
    Đã được thích:
    11
    GDP năm 2010 có thể tăng trưởng 7% ​

    [​IMG]


    Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế-xã hội Quốc gia đưa ra dự báo kinh tế năm 2010. Phương án 1, GDP báo tăng trưởng kinh tế khoảng 6-6,5%. Phương án 2, tăng trưởng khoảng 7%.



    TS. Lê Đình Ân, Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế-xã hội Quốc gia tại Hội thảo "Kinh tế Việt Nam năm 2010: Nhận diện cơ hội đầu tư - kinh doanh" vừa diễn ra hôm qua (14/1) đã đưa ra kết quả phân tích đã đưa ra các phương án dự báo kinh tế năm 2010.
    Phương án 1: là phương án chú trọng nhiều hơn đến chất lượng tăng trưởng. Trong phương án này, dự báo tăng trưởng kinh tế khoảng 6-6,5%, tăng trưởng trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 3,0-3,2%; công nghiệp và xây dựng 6,4-6,8%; dịch vụ 7,1-7,9%.
    Theo phương án này, để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, tránh gây xáo động lớn trong kinh tế và xã hội, cần tính toán kỹ việc huy động và sử dụng nguồn lực phát triển trong nền kinh tế.

    Trong đó, vốn đầu tư toàn xã hội dừng ở mức 40% GDP, với cơ cấu nguồn vốn sẽ giảm đáng kể từ nguồn ngân sách, sắp xếp lại cơ cấu đầu tư theo hướng hiệu quả, huy động tốt hơn các nguồn vốn ngoài ngân sách. Tiếp tục có các biện pháp kiểm soát giá một cách chặt chẽ, giữ chỉ số giá tiêu dùng ở mức một con số, thâm hụt ngân sách khoảng 6,2% GDP.
    Phương án 2: Là phương án theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao, khoảng 7%. Tốc độ tăng trưởng khu vực nông, lâm và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ tương ứng là 3,2-3,4%; 6,8-7,4% và 7,9-8,5%.
    Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao như vậy, sẽ vẫn phải chủ yếu dựa vào việc tăng đầu tư và chi tiêu của Chính phủ, trong đó đầu tư là chủ yếu. Theo phương án này tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên gần 835 nghìn tỷ đồng chiếm khoảng 42% GDP.
    Việc tăng đầu tư và chi tiêu của Chính phủ sẽ làm mức thâm hụt ngân sách tăng cao khoảng 6,5% GDP. Bên cạnh đó việc theo đuổi mục tiêu tăng trưởng trong điều kiện hiệu quả đầu tư không cao như hiện nay thì vấn đề lạm phát cần phải đặc biệt chú ý và có những biện pháp kiểm soát một cách chặt chẽ.
    Dự báo kim ngạch xuất khẩu năm 2010 từ 66,4 - 67,8 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu từ 77,5 - 80 tỷ USD, thâm hụt thương mại trên 12 tỷ USD.
    Kết quả dự báo một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô năm 2010
    Chỉ tiêu
    Đơn vị
    2009 (ước)
    Dự báo 2010
    PA1
    PA2
    GDP
    %​
    5,3​
    6,0-6,5​
    ≥ 7,0 ​
    Tốc độ
    tăng trưởng
    Nông, lâm, thủy sản
    %​
    1,8​
    3,0-3,2​
    3,2-3,4​
    Công nghiệp và Xây dựng
    %​
    5,5​
    6,4-6,8​
    6,8-7,4​
    Dịch vụ
    %​
    6,6​
    7,1-7,9​
    7,9-8,5​
    Cơ cấu
    Nông, lâm, thủy sản
    %​
    20,44​
    20,5​
    20,5​
    Công nghiệp và Xây dựng
    %​
    40,18​
    40​
    40​
    Dịch vụ
    %​
    39,38​
    39,5​
    39,5​
    CPI
    %​
    6,8​
    <10​
    <10​
    Xuất khẩu
    Tỷ USD​
    56,6​
    66,4​
    67,8​
    Tốc độ tăng xuất khẩu
    %​
    -9,7​
    5,88​
    8,16​
    Nhập khẩu
    Tỷ USD​
    68,8​
    77,5​
    80​
    Tốc độ tăng nhập khẩu
    %​
    -14,7​
    7,58​
    11,17​
    Thâm hụt thương mại
    Tỷ USD​
    12,2​
    11,1​
    12,2​
    Tổng vốn đầu tư toàn xã hội
    1000 tỷ đồng​
    708,5​
    790​
    835​
    Tổng vốn đầu tư toàn xã hội/GDP
    %​
    42,8​
    40​
    42​
    Trong đó:
    Vốn từ NSNN
    1000 tỷ đồng​
    161,0​
    130​
    145​
    Vốn trái phiếu CP
    1000 tỷ đồng​
    50​
    -​
    -​
    FDI
    Tỷ USD​
    10​
    11​
    12​
    Thâm hụt ngân sách/GDP
    %​
    7,0​
    6,2​
    6,5​
    3 khó khăn: thâm thụt cán cân vãng lai, lạm phát và nguy cơ bất ổn thị trường tài chính
    Tại Hội thảo, TS. Nguyễn Thị Kim Thanh, viện trưởng Viện Chiến lược phát triển ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết: kinh tế trong nước, mặc dù có đà tăng trưởng và lạm phát được kiềm chế ở mức thấp của năm 2009, song năm 2010 nền kinh tế tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn lớn
    Thứ nhất, thâm hụt cán cân thương mại, trong những năm trước, nguồn bù đắp cho thâm hụt này chủ yếu từ nguồn vốn nước ngoài. Tuy nhiên, khi kinh tế thế giới chưa phục hồi thì sự bù đắp này sẽ khó khăn. Điều này thể hiện rõ ở sự thâm hụt cán cân thanh toán năm 2009 sau 8 năm thặng dư.


    [​IMG]
    Nguy cơ lạm phát tiềm ẩn, mặc dù năm 2009 lạm phát giảm mạnh so với năm 2009, nhưng những tháng cuối năm có xu hướng tăng. Đây là dấu hiệu cho thấy, nguy cơ lạm phát gia tăng trong năm 2010 là không nhỏ, bởi tác động trễ của các giải pháp kích thích kinh tế năm 2009 làm tăng thâm hụt ngân sách, tăng trưởng tín dụng.
    Thêm vào đó, vốn đầu tư nhiều nhưng hiệu quả vốn đầu tư còn thấp. Tổng vốn đầu tư trên GDP năm 2009 tăng 42,8% từ mức 41,3% năm 2008, nhưng tích lũy tài sản chỉ tăng 4,3%.

    [​IMG]
    Thứ ba là nguy cơ bất ổn thị trường tài chính: Những biến động trên thị trường chứng khoán, vàng, lãi suất, tỷ giá những tháng cuối năm 2009, tuy Chính phủ đã có những giải pháp rất quyết liệt để bình ổn thị trường, song tính bền vững không cao do những mất cân đối vĩ mô còn chưa được khắc phục và những biến động trên thị trường quốc tế vẫn khó lường.

    Trên cơ sở đó các chuyên gia cho rằng trong năm 2010, chúng ta nên tập trung vào việc khắc phục hậu quả của khủng hoảng, tập trung nguồn lực để ổn định kinh tế vĩ mô và tạo ra những nền tảng cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững trong tương lai.

    Đặc biệt là đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước, chấn chỉnh để nâng cao hiệu quả đầu tư công và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

    V.Minh
    Theo TT Thông tin và Dự báo KTXH
  6. LaohacHCM

    LaohacHCM Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    18/04/2009
    Đã được thích:
    0
    Cơ hội vào thị trường vẫn còn trong tuần sau! và chỉ còn một tuần sau!
  7. TLbooks

    TLbooks Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/02/2008
    Đã được thích:
    11
    OK, men ![:p][r32)]
  8. beartrap

    beartrap Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    06/06/2009
    Đã được thích:
    24
    Tuần sau cổ cánh NH lại cháy khét lẹt rồi:

    Lãi suất bình quân liên Ngân hàng giảm đến 2,23%/năm -

    [​IMG]

    Theo thông tin từ NHNN, lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng có xu hướng giảm đối với hầu hết các kỳ hạn, với mức giảm từ 0,07% đến 2,23%/năm.



    Doanh số giao dịch liên ngân hàng VND, USD đều giảm

    Theo thống kê từ Ngân hàng Nhà nước, trong tuần, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đạt xấp xỉ 65.853 tỷ VND và 1.605 triệu USD, bình quân đạt khoảng 13.170 tỷ VND/ngày và 321 triệu USD/ngày.

    So với tuần trước, doanh số giao dịch bằng VND và USD tuần này đều có sự sụt giảm, cụ thể doanh số giao dịch bằng VND giảm 5.500 tỷ/ngày, bằng USD giảm 164 triệu USD/ngày. Tuần này, doanh số giao dịch qua đêm chiếm tỷ trọng 31% so với tổng doanh số giao dịch cả tuần.

    Lãi suất bình quân liên ngân hàng giảm từ 0,07% đến 2,23%/năm
    Lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng có xu hướng giảm đối với hầu hết các kỳ hạn, với mức giảm từ 0,07% đến 2,23%/năm. Trong đó, lãi suất bình quân qua đêm và kỳ hạn 1 tuần có mức giảm khá lớn so với tuần trước (lãi suất qua đêm giảm 2,23%/năm, lãi suất bình quân kỳ hạn 1 tuần giảm 1,28%/năm).
    Riêng lãi suất bình quân kỳ hạn 1 tháng và 6 tháng vẫn ở mức 11,37% và 12%/năm, không đổi so với tuần trước; lãi suất bình quân kỳ hạn 3 tháng tăng nhẹ (0,23%/năm) so với tuần trước.
    Lãi suất bình quân qua đêm tuần này giảm xuống còn 9,07%/năm; lãi suất bình quân đối với các kỳ hạn từ 2 tuần đến 12 tháng đều trên 11%/năm trở lên, trong đó lãi suất bình quân kỳ hạn 6 tháng ở mức 12%/năm, tuy nhiên doanh số phát sinh đối với kỳ hạn này không lớn. Lãi suất cho vay thấp nhất là 7%/năm; lãi suất cho vay cao nhất là 12%/năm (không tính lãi suất không kỳ hạn).
    Ngân hàng Nhà nước cho biết, các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng bằng USD phát sinh chủ yếu đối với các kỳ hạn ngắn (dưới 6 tháng) với lãi suất giao dịch bình quân đối với hầu hết các kỳ hạn có xu hướng giảm nhẹ so với lãi suất bình quân tuần trước. Mức giảm của các kỳ hạn không nhiều, từ 0,02% đến 0,2%/năm. Lãi suất bình quân cao nhất là 1,42%/năm, lãi suất các kỳ hạn còn lại dao động từ 0,46% đến 1,35%/năm, không phát sinh giao dịch kỳ hạn 12 tháng.
    Lãi suất bình quân thị trường liên ngân hàng tuần qua cụ thể như sau:
    Đơn vị: %/năm​
    Kỳ hạn
    Qua đêm
    1 tuần
    2 tuần
    1 tháng
    3 tháng
    6 tháng
    12 tháng
    VND​
    9,07​
    10,43​
    11,09​
    11,37​
    11,76​
    12,00​
    11,93
    USD​
    0,79​
    1,09​
    1,21​
    1,35​
    1,42​
    0,46​
    -​









    Lãi suất cho vay USD tăng khoảng 0,5%/năm
    Theo thống kê, lãi suất tiền gửi VND ít biến động so với tuần trước, các NHTM tiếp tục huy động kỳ hạn tuần với mức lãi suất từ 8-9%/năm ở nhóm NHTM Nhà nước và 10-10,49%/năm ở nhóm NHTM cổ phần.

    Lãi suất tiền gửi USD: tăng từ 0,2-0,3%/năm so với tuần trước ở nhóm NHTM cổ phần; nhóm NHTM Nhà nước tương đối ổn định.

    Lãi suất cho vay thông thường phổ biến ở mức 12%/năm. Lãi suất cho vay thỏa thuận đối với các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua thẻ tín dụng phổ biến ở mức từ 15-17%/năm. Lãi suất cho vay USD, tăng khoảng 0,5%/năm so với tuần trước.
    Thanh khoản ngoại tệ cải thiện

    Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước đánh giá trong tuần qua, thị trường ngoại hối đã có những chuyển biến tích cực, tính thanh khoản ngoại tệ đã được cải thiện đáng kể. Theo báo cáo của một số ngân hàng thương mại, hệ thống ngân hàng tiếp tục mua được ngoại tệ từ các Tập đoàn, Tổng Công ty theo Thông tư 26/2009/TT-NHNN với khối lượng tương đối lớn. Hiện tỷ giá niêm yết mua, bán VND/USD của các ngân hàng thương mại phổ biến quanh mức 18.469/18.479 đ/USD.
    V.Minh
    Theo SBV

    Ngân hàng rủng rỉnh lợi nhuận
    [​IMG]

    Không chỉ với nhà băng lớn mà các ngân hàng nhỏ cũng sớm hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận năm 2009.







    So với 3 quý đầu năm 2009, trong quý IV, đà tăng lợi nhuận của nhiều ngân hàng đã giảm do chênh lệch lãi suất đầu vào - đầu ra thu hẹp. Thế nhưng, lợi nhuận cả năm được nhiều nhà băng công bố ở mức khá ấn tượng, vượt xa chỉ tiêu đề ra đầu năm.

    Tín dụng điều chỉnh vào cuối năm


    Ba quý đầu năm, đặc biệt là trong quý II - III/2009, lợi nhuận ngân hàng thu về chủ yếu do sự đóng góp từ nguồn thu của hoạt động tín dụng. Bởi đây được xem là giai đoạn tín dụng của ngành tăng tốc nhờ chính sách hỗ trợ lãi suất. Cũng tại thời điểm trên, lợi nhuận ngân hàng được công bố ở mức tương đối.


    Chẳng hạn, Sacombank có lợi nhuận trước thuế tính đến hết quý III/2009 đạt 1.536 tỷ đồng, trong đó nguồn thu từ lãi (gồm hoạt động tín dụng, trái phiếu, kinh doanh vốn trên thị trường liên ngân hàng) chiếm đến 61%.


    Phần còn lại thu từ dịch vụ và thu nhập khác.


    Còn con số lợi nhuận cả năm 2009 vừa được Sacombank công bố ở mức 1.901 tỷ đồng (sau khi trích lập dự phòng đầu tư tài chính và rủi ro tín dụng, nhưng chưa bao gồm lợi nhuận hợp nhất từ các công ty con).


    Trong đó, riêng tháng 12, Ngân hàng đạt 243 tỷ đồng. Về cơ cấu thu nhập đóng góp vào lợi nhuận vừa được Sacombank công bố thì nguồn thu từ tín dụng chỉ chiếm 25,5%, còn lại là thu từ dịch vụ và thu nhập khác. Nếu tính chung thì thu nhập từ lãi (gồm hoạt động tín dụng, trái phiếu, kinh doanh vốn trên liên ngân hàng) của Sacombank vẫn chiếm tỷ lệ 60% trong tổng lợi nhuận.


    Ông Lý Xuân Hải, Tổng giám đốc ACB cho biết, lợi nhuận trước thuế hợp nhất (bao gồm cả từ các công ty con trực thuộc Ngân hàng) thu về của Ngân hàng trong năm 2009 đạt 2.818 tỷ đồng. Trong đó, thu nhập từ tín dụng chiếm 20%; dịch vụ 26%; thu từ việc kinh doanh vốn trên liên ngân hàng 4%; trái phiếu 24% và 25% còn lại là thu nhập khác.


    Tính đến cuối năm 2009, tổng tài sản ACB đạt 172.000 tỷ đồng; dư nợ tín dụng đạt 62.000 tỷ đồng và nguồn vốn huy động là 124.000 tỷ đồng. An toàn vốn của ACB xấp xỉ 40%.


    Tương tự, tại Maritime Bank, nguồn thu từ hoạt động tín dụng trong năm qua cũng chỉ chiếm 25% trong tổng lợi nhuận. Điều đáng nói là lợi nhuận của ngân hàng này trong năm qua đã vượt khá xa so với chỉ tiêu đề ra. Cụ thể, tính đến ngày 31/12/2009, lợi nhuận từ kinh doanh của Maritime Bank chốt ở con số 1.084 tỷ đồng, tăng 132% so với năm 2008 và vượt gần 500 tỷ đồng so với kế hoạch đầu năm.


    Trao đổi với ĐTCK, ông Trần Anh Tuấn, Tổng giám đốc Maritime Bank cho biết, sở dĩ lợi nhuận thu về đạt con số trên là do nguồn thu từ hoạt động phi tín dụng (dịch vụ phát sinh, trái phiếu, chứng khoán nợ, dịch vụ…) của Ngân hàng gia tăng.


    Trên thị trường liên ngân hàng, Maritime Bank luôn được đánh giá là một đối tác uy tín và tiềm năng. Tổng nguồn vốn huy động của Maritime Bank tính đến cuối năm 2009 đạt 60.000 tỷ đồng. Báo cáo hàng tháng, tỷ lệ khả năng chi trả trong 7 ngày của Maritime Bank luôn đạt trên 1,75%. Đây chính là cơ sở cho sự phát triển bền vững của ngân hàng này.


    Còn với BIDV, tổng tài sản đến ngày 31/12/2009 là 300.000 tỷ đồng (năm 2008 là 242.000 tỷ đồng); dư nợ tín dụng cho vay năm 2009 đạt trên 194.000 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế năm 2009 của BIDV là 3.450 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu là 3% tính đến cuối năm 2009 (năm 2008 là 4%).


    Tổng giám đốc Techcombank, ông Nguyễn Đức Vinh cũng cho ĐTCK biết, lợi nhuận trước thuế trong năm 2009 của riêng Ngân hàng đạt 2.138 tỷ đồng. Còn lợi nhuận sau thuế khi hợp nhất, trong đó có cả công ty con trực thuộc, là 2.250 tỷ đồng (sau khi đã trích lập dự phòng rủi ro 550 tỷ đồng).


    Vietinbank cho biết, năm 2009, lợi nhuận sau khi trích dự phòng rủi ro là 3.018 tỷ đồng, vượt 16% so với Nghị quyết ĐHCĐ đã đề ra. Số dư nguồn vốn huy động đạt 221.700 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 46.900 tỷ đồng (26,7%). Còn dư nợ cho vay và đầu tư đạt 218.000 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 43.000 tỷ đồng (24,6%). Hoạt động cho vay và đầu tư chiếm tỷ trọng 91%/tổng tài sản. Đến hết năm 2009, dư nợ cho vay nền kinh tế của Vietinbank đạt 162.300 tỷ đồng, tăng 42.300 tỷ đồng (35,2%).


    DongA Bank cho biết, đạt lợi nhuận trước thuế cả năm 2009 là 782 tỷ đồng, vượt kế hoạch đề ra (750 tỷ đồng). Số dư huy động bình quân đạt 33.392 tỷ đồng, đạt 104,35% kế hoạch năm 2009; dư nợ tín dụng bình quân là 29.463 tỷ đồng, đạt 109,12% kế hoạch năm 2009.


    Mặc dù đến nay, Eximbank vẫn chưa công bố chính thức con số lợi nhuận năm 2009, nhưng một cán bộ trong Hội đồng đầu tư ngân hàng này cho biết, Eximbank đã sớm hoàn tất chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế đề ra trong năm qua là 1.500 tỷ đồng.


    Không chỉ với nhà băng lớn mà các ngân hàng nhỏ cũng sớm hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận năm 2009.


    Theo HDBank, kết thúc năm 2009 tổng tài sản của Ngân hàng là 19.140 tỷ đồng, đạt 142% kế hoạch; huy động vốn đạt 17.119 tỷ đồng, bằng 155,51% kế hoạch; dư nợ 8.231 tỷ đồng, đạt 107,36%, tăng 33,3% so với đầu năm; tỷ lệ nợ xấu ở mức 1,1%. Lợi nhuận trước thuế đạt 255 tỷ đồng, tăng 218,75% so với đầu năm và đạt 148,26% kế hoạch năm 2009 (sau khi đã trích lập đầy đủ dự phòng rủi ro).


    HDBank cho biết, để có được những con số khả quan nói trên là nhờ vào kết quả của việc tái cơ cấu tổ chức. Đồng thời, Ngân hàng tiếp tục triển khai các dịch vụ mới như SMS Banking, Internet Banking dựa trên nền tảng Core Banking. Còn nguồn thu từ hoạt động tín dụng đóng góp 50% vào lợi nhuận của HDBank.


    ABBank cho biết, năm 2009 lợi nhuận trước thuế thu về đạt trên 415,57 tỷ đồng, hoàn thành 100% chỉ tiêu đề ra. Các chỉ số tài chính khác cũng tăng trưởng khá. Cụ thể, vốn điều lệ đạt 3.482 tỷ đồng, tổng tài sản đạt trên 26.576 tỷ đồng… Dư nợ cho vay của ABBank trong năm qua đạt 12.883 tỷ đồng; huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế đạt trên 15.000 tỷ đồng.


    Lợi nhuận trước thuế của VietA Bank năm 2009 là 274 tỷ đồng so với chỉ tiêu đầu năm là 270 tỷ đồng. Ông Võ Văn Khang, Phó tổng giám đốc VietA Bank cho biết, nguồn thu từ sàn vàng đóng góp không nhiều vào tổng lợi nhuận của Ngân hàng trong năm qua.


    Trích lập dự phòng ít và có hoàn nhập


    Nếu cuối năm 2008, các ngân hàng phải trích lập dự phòng đầu tư tài chính và rủi ro tín dụng cao khi tỷ lệ nợ xấu gia tăng, chứng khoán giảm giá thì cuối năm 2009, nhiều khoản trích lập dự phòng năm trước đã được hoàn nhập. Đồng thời, các khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và đầu tư tài chính cuối năm qua cũng ít hơn.


    Chẳng hạn tại Vietcombank, ông Nguyễn Hòa Bình, Chủ tịch HĐQT cho biết, khoản trích lập dự phòng của Ngân hàng cuối năm 2009 chỉ ở mức 400 - 500 tỷ đồng, bằng phân nửa so với năm trước (1.200 tỷ đồng). Kết thúc 11 tháng năm 2009, Vietcombank đạt 4.400 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế. Ước tính cả năm sẽ vượt trên mức này, trong đó ông Bình cho biết, có một phần được hoàn nhập dự phòng của năm trước để lại.


    Trong tổng số lợi nhuận của Techcombank, ông Vinh cho biết, có 100 tỷ đồng được hoàn nhập từ khoản trích lập dự phòng từ năm trước để lại. Còn theo nguồn tin từ Eximbank thì ngân hàng này cũng được hoàn nhập dự phòng của năm trước với 50 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu của Eximbank hiện cũng giảm đáng kể, nên khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng giảm. Đầu năm 2009, tỷ lệ nợ xấu là 4,71% và được xem là ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu lớn, nhưng Eximbank đã giảm tỷ lệ này còn trên 3% vào giữa năm qua.


    Ông Lý Xuân Hải cho biết, trong tổng số lợi nhuận ACB thu về năm 2009 cũng có một phần được hoàn nhập dự phòng từ năm trước là 100 tỷ đồng (cuối năm 2008 trích lập dự phòng đầu tư tài chính và tín dụng của ACB là 500 tỷ đồng).


    Với tín hiệu lạc quan từ nền kinh tế, ABBank phấn đấu giữ nhịp độ tăng trưởng ở mức 30 - 40% trong năm 2010. Đồng thời, Ngân hàng kỳ vọng sẽ đạt mức 550 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế; tổng tài sản đạt 35.000 tỷ đồng; vốn điều lệ đạt mức 3.800 tỷ đồng trong năm nay.


    TiênPhongBank vừa công bố lợi nhuận năm 2009 ở mức 164,7 tỷ đồng sau khi trích lập đầy đủ dự phòng rủi ro. Trong năm 2009, TiênPhongBank không có nợ xấu, đồng thời khoản trích lập dự phòng cụ thể cho nợ quá hạn chỉ có 260 triệu đồng trên toàn hệ thống.


    Cũng tính đến cuối tháng 12/2009, tỷ lệ nợ xấu (NPL) của Sacombank là 0,69%, tổng thặng dư vốn và các quỹ đạt 2.095 tỷ đồng. Còn tỷ lệ nợ xấu của ACB tính đến cuối năm 2009 cũng chỉ ở mức 0,42%. Vì vậy, trích lập dự phòng tín dụng cũng sẽ ít hơn năm trước.


    Theo ông Trần Phương Bình, Tổng giám đốc DongA Bank, chỉ tiêu lợi nhuận Ngân hàng xây dựng trong năm 2010 ở mức 1.100 tỷ đồng, cao hơn 350 tỷ đồng so với năm trước.


    Còn Sacombank xây dựng kế hoạch lợi nhuận năm 2010 ở mức 2.600 tỷ đồng.


    Song rủi ro lớn nhất của ngành ngân hàng hiện nay vẫn là rủi ro về chính sách. Do đó, đòi hỏi bản thân các nhà lãnh đạo ngân hàng phải dự báo để đưa ra kế hoạch hoạt động hiệu quả. Chẳng hạn như đối với hoạt động tín dụng trong năm nay cần kiểm soát ở mức hợp lý, hạn chế rủi ro cho các ngân hàng và đáp ứng yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước.
    Theo Vân Linh
    Đầu tư


  9. quyenboom

    quyenboom Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    19/11/2009
    Đã được thích:
    1.702
    đúng, bác nói chí lí, vai trò của các nhà tạo lập thị trường rất to lớn, thứ 2 ngày 18 sẽ là ngày thị trưởng đi xuống nhưng chỉ ở mức 480-490, sẽ có một lực rất mạnh đỡ giúp thị trường đi lên, còn lên nữa hay không tuỳ vào cái nhìn của NDT thui..hehe
  10. TLbooks

    TLbooks Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    14/02/2008
    Đã được thích:
    11
    Chứng khoán và bất động sản, 'ai quyến rũ' hơn
    [​IMG]






    Giao dịch vàng vật chất, chuyển qua chứng khoán hay bỏ vốn vào BĐS? Câu hỏi treo lơ lửng trong đầu nhiều nhà đầu tư vàng hiện nay.




    10 ngày sau khi có quyết định đóng cửa sàn vàng và chấm dứt giao dịch vàng trên tài khoản của Chính phủ, nhiều chủ sàn vàng đã ngay lập tức chuẩn bị cho việc chuyển huớng kinh doanh.




    Mua bán vàng vật chất theo phương thức thanh toán bù trừ qua mạng là cách mà không ít chủ sàn vàng nhắm đến nhằm duy trì kinh doanh sau khi "sàn vàng" đóng cửa. Đây cũng là cách mà theo một số chủ sàn vàng, sẽ giúp hạn chế rủi ro cho các nhà đầu tư.




    Với lợi thế đó, các chủ sàn vàng hy vọng có thể giữ chân nhà đầu tư. Tuy nhiên, rất nhiều nhà đầu tư đang lên kế hoạch chuyển hướng đầu tư sang BĐS hoặc chứng khoán.




    Tuy nhiên, theo nhận định của đa số sàn vàng, việc chuyển hướng đầu tư không phải dễ bởi sức hấp dẫn của vàng quá lớn, bên cạnh đó BĐS và chứng khoán cũng không phải kênh đầu tư lý tưởng trong thời điểm hiện nay.




    Quyết giữ nhà đầu tư


    Theo ông Nguyễn Văn Huyền, Giám đốc Sàn giao dịch vàng Agribank AJC Vi Na, cho đến thời điểm này, Agribank AJC Vi Na vẫn giao dịch bình thường, đồng thời sàn cũng không dừng việc mở tài khoản mới. Tuy nhiên, nếu nhà đầu tư muốn tất toán trạng thái trước ngày 30/3, sàn giao dịch này sẽ giảm mức phí giao dịch xuống còn 1/3 so với hiện tại.




    Hiện, Agribank AJC Vi Na có khoảng 700 tài khoản, tuy nhiên mới chỉ có hai nhà đầu tư rút tiền khỏi tài khoản từ khi có chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc ngưng hoạt động của sàn vàng. Điều này cho thấy, nhà đầu tư vẫn còn “vương vấn” nhiều với kênh đầu tư vàng.




    Chính vì vậy, sàn vàng này sẽ đẩy mạnh việc kinh doanh vàng vật chất ngay từ bây giờ để giữ chân nhà đầu tư. Vốn từ trước đến giờ, sàn vẫn ký hợp đồng với nhà đầu tư dưới dạng giao dịch vàng vật chất. Do đó, khi có quyết định ngưng hoạt động giao dịch vàng tài khoản, Agribank AJC Vi Na vẫn còn cửa để sống.




    “Agribank AJC Vi Na vẫn kinh doanh vàng vật chất song song với vàng tài khoản từ trước đến nay. Do đó, với quyết định đóng cửa sàn vàng, không những không phải rủi ro mà là thời cơ cho sàn”, ông Huyền nói.




    Đối với sàn Vàng Thế giới (VTG), do không có ý định kinh doanh vàng vật chất nên số lượng nhà đầu tư rút khỏi sàn khá nhiều, gần 50% cho đến thời điểm này. Tuy nhiên, ông Lâm Minh Chánh, Tổng Giám đốc VTG cho biết, công ty cũng đã lên kế hoạch giữ chân nhà đầu tư bằng sản phẩm VTG-VNIndex.




    Với sản phẩm này, VTG sẽ chịu trách nhiệm tư vấn đầu tư và tư vấn quản lý tài khoản chứng khoán của khách hàng, nhằm giúp khách hàng đạt được tỷ suất lợi nhuận bằng đúng với tỷ suất lợi nhuận của chỉ số VNIndex. Theo ông Chánh, đây là một dạng của sản phẩm đầu tư theo chỉ số (Index tracking) khá phổ biến đối với các nhà nhà đầu tư trên thế giới.




    Chứng khoán sẽ “hưởng lợi”!


    Hiện, có hai lối thoát rộng nhất cho các sàn vàng, đó là kinh doanh vàng vật chất hoặc làm chứng khoán. Đối với vàng vật chất, theo ông Huyền, chắc chắn kênh đầu tư này sẽ nở rộ trong thời gian tới. Bởi, sức hấp dẫn của vàng vật chất không hề kém vàng tài khoản. Với cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin hiện đại của các sàn vàng, việc chuyển qua kinh doanh vàng vật chất vẫn tạo được sức hút với nhà đầu tư.




    Tuy nhiên, kênh đầu tư chứng khoán cũng được không ít sàn vàng nhắm đến, bởi hai kênh đầu tư này liên thông với nhau rất nhanh và dễ dàng, từ cơ sở hạ tầng cho đến nhân lực. Việc các sàn quay sang làm chứng khoán là một trong những nguyên nhân giúp thị trường chứng khoán Việt Nam tăng mạnh trong những ngày gần đây. Chỉ số Vn-Index vượt trên 530 điểm, trong khi tính thanh khoản trên thị trường vàng ngày càng thu hẹp.




    Chị Kiều Thanh, một nhà đầu tư trên sàn vàng VTG cho biết, hiện giá vàng trên sàn chưa tới 25 triệu đồng/lượng nên chị chưa thể chốt lời (bán ra) ngay. Bởi nếu bán ra lúc này, chị sẽ bị lỗ hơn 1 triệu đồng/lượng.




    “Ngay khi có thông tin đóng cửa sàn vàng, tôi đã lên kế hoạch chuyển hướng đầu tư sang chứng khoán vì hai lĩnh vực này có thể quay vòng vốn nhanh. Theo dự báo của tôi, nhiều khả năng Vn-Index sẽ có đợt điều chỉnh giảm trong thời gian tới, đây là thời điểm hấp dẫn để nhà đầu tư mới nhảy vào. Tuy nhiên không biết lúc nào vàng mới lên để tôi bán ra, thu hồi vốn”, chị Thanh nói.




    Theo nhận định của TS. Lê Đăng Doanh, để chuyển hướng đối với những nhà đầu tư vàng, chứng khoán là kênh lựa chọn hàng đầu bởi hai lĩnh vực này khá gần với nhau. Chính điều này mà mấy ngày qua, chứng khoán “hồng” hẳn lên. Còn BĐS, lĩnh vực này hiện sức hút chưa nhiều, ngoài ra tính thanh khoản không cao và chôn vốn lâu. Vì thế, đóng cửa sàn vàng, chứng khoán sẽ là kênh “hưởng lợi” nhiều nhất.




    Ngay cả các công ty BĐS cũng đồng quan điểm này. Ông Nguyễn Lê Bảo Ngọc, Trưởng phòng Maketing, Công ty BĐS Đất Xanh cho biết, mặc dù thời gian gần đây, Đất Xanh bán khá tốt những dự án của mình, song chủ yếu là những khách hàng quen, vốn đã từng đầu tư nhà, đất.




    Ngay cả việc Đất Xanh bán được khoảng 60% trong tổng số 144 căn hộ cao cấp của Block B thuộc dự án cao cấp HimLam Riverside có giá khoảng 2.000 USD/m2 trong sáng 10/1 cũng hầu hết là khách đã quá rành về thị trường nhà, đất.




    Ông Ngọc cho rằng, thị trường BĐS hiện nay chưa phải là thời điểm tốt đối với những nhà đầu tư mới. Hầu hết nhà đầu tư BĐS đều xác định đầu tư dài hạn, trong khi đó những nhà đầu tư vàng thì ngược lại.




    Thực tế, thời gian gần đây, hầu hết các sàn vàng đều khá vắng vẻ. Tuy nhiên, những người còn trụ sàn lại tỏ ra khá ung dung. Theo nhận định của nhiều sàn vàng, những người “có vay, có trả” với vàng sẽ còn bám sàn cho tới hết tháng 2. Tháng cuối mới là thời điểm họ nghĩ đến việc đóng trạng thái và rút vốn.






    Bởi theo phân tích của ông Huyền, với nhà đầu tư vàng, một ngày vẫn có thể kiếm tiền, huống hồ còn gần 3 tháng nữa.


    Theo Ca Hảo
    Vietnamnet

Chia sẻ trang này