Thôi rồi ACE ơi.........................................................................10000 nhé

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by ssivietnam, Sep 20, 2017.

1326 người đang online, trong đó có 530 thành viên. 18:23 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 0)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. bullist

    bullist Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Apr 19, 2010
    Likes Received:
    40,521
    Philippin còn hơn 8000 thì VN sẽ lên 10000 trong dài hạn:))
    ssivietnam likes this.
  2. ssivietnam

    ssivietnam Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Apr 17, 2014
    Likes Received:
    4,082
    :-bd
    --- Gộp bài viết, Sep 20, 2017, Bài cũ: Sep 20, 2017 ---
    :-bd kinh tế chắc chắn là theo xu hướng tăng trưởng
  3. ssivietnam

    ssivietnam Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Apr 17, 2014
    Likes Received:
    4,082
    Đặc khu kinh tế: Kỳ vọng và thực tế
    HOÀNG HẠNH Thứ Tư | 20/09/2017 08:00



    [​IMG]

    Hầu hết các đặc khu kinh tế sẽ phải mất hơn một thập niên trước khi được coi là thành công.
    Nguồn ảnh: biendaovandon.com

    Dù vô tình hay cố ý, Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đã chọn được thời điểm vàng để trình làng. Những lo ngại về khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng 7,6% năm 2017 vẫn còn đó, dư địa nguồn lực tự nhiên và xã hội để tạo ra GDP trực tiếp và thu hút nguồn lực nước ngoài đang ngày càng bị thu hẹp... Cần một động lực kích hoạt mạnh mẽ nền kinh tế và dường như theo tính toán của nhiều nhà quản lý, 3 đặc khu kinh tế Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc sẽ làm nên điều kỳ diệu.

    Sẽ có một sự bứt phá nếu từ năm 2020 trở đi, 3 đặc khu kinh tế nói trên đóng góp tăng GDP địa phương hàng tỉ USD mỗi năm. Tiếp đó, từ năm 2030, thu nhập trung bình của người dân sinh sống ở các đặc khu này sẽ đạt từ 12.000-13.000 USD/người/năm. Bức tranh sẽ nhiều màu hồng hơn nữa khi những góp ý về việc cải thiện thể chế chính sách, hình thành một khu vực kinh doanh thông thoáng của một nền kinh tế thị trường thực sự như khuyến nghị của nhiều chuyên gia, thể chế chính sách quan trọng hơn ưu đãi.

    Liệu các đặc khu kinh tế có là động lực để hình thành một nền kinh tế có nội lực bước vào cuộc chơi sòng phẳng với thế giới? Nhìn vào những điều khoản trong Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, dư luận có thể chia sẻ được với những băn khoăn này. Điều 4 của Dự thảo Luật quy định các ngành nghề được nhận chính sách đặc thù, phù hợp với đặc điểm, tiềm năng và lợi thế so sánh của từng đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, gồm 3 nhóm ngành lớn du lịch, tài chính và công nghệ cao.

    Trước hết, phải nói rằng, dù có thành lập đặc khu hay không, do đặc thù về mặt tự nhiên, nhóm ngành du lịch vẫn là ưu tiên số một, đồng thời là điểm nhấn thu hút đầu tư của Vân Đồn và Phú Quốc. Nói như ông Nguyễn Hoàng Hải, Phó Chủ tịch Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI), khi trao đổi với NCĐT, nếu 2 khu vực này được áp dụng các hình thức vui chơi giải trí như casino, mở rộng tối đa các phương thức thanh toán cùng ưu đãi thuế vượt thông lệ thế giới cho nguồn thu từ đánh bạc..., lượng khách du lịch có thể tăng gấp 3-4 lần so với hiện nay. Tuy nhiên, vị chuyên gia nhấn mạnh, quan trọng nhất là phải tìm ra một vị đặc khu trưởng có tài quản trị, để tránh phát sinh biến tướng, nhếch nhác làm xấu hình ảnh của khu du lịch, không níu chân được du khách.

    Lập tức, người ta đặt ra câu hỏi, nếu chỉ có yếu tố thứ 2, một vị lãnh đạo có tầm, liệu Phú Quốc và Vân Đồn có thể vươn vai? Từ một làng chài và một thành phố bị tàn phá sau chiến tranh, Đà Nẵng đã viết nên một câu chuyện đáng khâm phục trong phát triển du lịch. Thành công của thành phố miền Trung này hoàn toàn có thể lặp lại ở Vân Đồn hay Phú Quốc, những nơi chỉ cần một cú hích về chính sách. Tại sao chỉ cần dây cương mà phải tặng một con ngựa, trong khi cảnh báo về những nhóm lợi ích tận dụng mảnh đất màu mỡ đặc khu kinh tế không phải là điều lạ lẫm.

    [​IMG]
    Về nhóm ngành công nghệ cao, dễ thấy, đối với những đặc khu có diện tích tự nhiên chỉ xấp xỉ 600km2, lại ưu tiên phát triển du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái như Phú Quốc và Vân Đồn, khó có thể hình dung dư địa để hình thành những khu công nghiệp công nghệ. Kịch bản khả thi nhất là các tập đoàn công nghệ cao đặt trụ sở ở 2 khu vực này, để lĩnh nhận những ưu đãi vượt trội về thuế doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, quyền sử dụng đất, quyền thanh toán linh hoạt và được bảo hộ bằng luật pháp quốc tế (vốn bị chi phối rất nhiều bởi những cường quốc, nơi xuất sinh các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới).

    Mục tiêu của đặc khu kinh tế Bắc Vân Phong hơi khác một chút. Đó là các ngành công nghệ thông tin, điện tử, cơ khí chính xác; cảng biển hàng hóa và hành khách quốc tế; dịch vụ hậu cần cảng biển; thương mại, tài chính. Người ta có thể thấy ở đây hơi hướng muốn phát triển ngành logistics ở khu vực có cảng nước sâu thuộc loại tốt nhất trên thế giới. Không hiểu vì lý do gì, điều này đã không được nêu ra một cách rõ ràng trong dự thảo Luật.

    Cũng cần phải bổ sung, dù logistics là ngành rất có tiềm năng ở Việt Nam hiện nay khi kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2016 vào khoảng trên 300 tỉ USD. Tuy nhiên, nếu chủ thể tham gia phát triển lĩnh vực này ở Bắc Vân Phong lại là các tập đoàn nước ngoài, người Việt sẽ không được hưởng lợi nhiều, thậm chí còn đối diện nguy cơ phụ thuộc.

    Nhận diện ngành tài chính như một ngành, nghề phù hợp với đặc điểm, tiềm năng và lợi thế so sánh của đặc khu kinh tế chắc hẳn để dành cho một tương lai rất xa. Khi đã có Hồng Kông, Thượng Hải (Trung Quốc) và Singapore với nền tảng vững chắc về hạ tầng công nghệ và nhân lực, Việt Nam khó trở thành lựa chọn thay thế.

    Như vậy sẽ đúng với nhận định vị Phó Chủ tịch VAFI, Nguyễn Hoàng Hải khi chia sẻ với NCĐT: ‘’Những đặc khu như Phú Quốc hay Vân Đồn nếu gia tăng được lượng khách du lịch là đã tốt rồi. Đừng nghĩ được như Singapore’’.

    Bàn về vấn đề này với NCĐT, Tiến sĩ Bùi Trinh lại gợi ý một cách tiếp cận căn cơ hơn. Theo vị chuyên gia, một trong những phương pháp được nhiều nước áp dụng khi quyết định chủ trương thành lập đặc khu kinh tế đó là phân tích ảnh hưởng liên vùng, để xem vùng nào có lợi thế về cái gì; ngành kinh tế nào có độ lan tỏa đến bản thân vùng đó và các vùng khác của đất nước ra sao; mức độ ảnh hưởng của vùng đó đến nền kinh tế chung thế nào; ảnh hưởng về môi trường đến nội vùng và ngoài vùng tới đâu... Trong trường hợp của Việt Nam, nghiên cứu tiền khả thi chưa được các nhà hoạch định chính sách thực hiện.

    ‘’Tại sao chọn Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc? Tại sao lại chọn nhóm ngành này mà không chọn nhóm ngành kia? Tại sao lại mặc định những nhóm ngành lựa chọn có sức lan tỏa tới nền kinh tế trong nước? Nếu chú trọng vào du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi, đánh bạc thì sẽ lan tỏa kiểu gì?’’, vị chuyên gia đặt ra hàng loạt câu hỏi.

    Một điều đáng lo ngại khác, theo ông Bùi Trinh là, theo dự thảo Luật đang trình ra, cơ hội tham gia vào các đặc khu kinh tế nói trên chỉ thuộc về những vị đại gia siêu giàu Việt Nam và thế giới bởi quy mô đầu tư tối thiểu được quy định cho các lĩnh vực được ưu tiên phát triển là 6.000 tỉ đồng. Nói cách khác, ưu đãi vô tiền khoáng hậu chỉ dành cho người giàu.

    Tất nhiên, cần phải ghi nhận những chuyển đổi tích cực trong cải cách thể chế kinh tế, tạo cơ hội để nền kinh tế Việt Nam bứt phá trong chủ trương thành lập các đặc khu kinh tế Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc. Chỉ có điều, làm đặc khu kinh tế không thể vội được. Theo hãng tư vấn chiến lược McKinsey cho thấy, thất bại của các khu kinh tế là điều thường gặp, khi có 50% các khu kinh tế hoạt động kém hiệu quả so với mặt bằng nền kinh tế chung của quốc gia. Hầu hết các đặc khu kinh tế sẽ phải mất hơn một thập niên trước khi được coi là thành công.

    H
  4. daybyday

    daybyday Thành viên gắn bó với f319.com Not Official

    Joined:
    Apr 24, 2010
    Likes Received:
    3,115
    Bọn tây múc ssi mạnh quá
  5. ssivietnam

    ssivietnam Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Apr 17, 2014
    Likes Received:
    4,082
    Bộ Công Thương công bố cắt giảm 675 điều kiện đầu tư, kinh doanh
    21/09/2017

    [​IMG]Ngày 20/9/2017, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đã ký ban hành Quyết định số 3610a/QĐ-BCT ban hành phương án cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư, kinh doanh thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công Thương giai đoạn 2017 – 2018. Theo Quyết định này, 675 điều kiện đầu tư, kinh doanh được cắt giảm. Con số này được Bộ Công Thương đưa ra sau hơn hai tuần các đơn vị tiến hành rà soát cắt giảm, đơn giản hóa các điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực Bộ quản lý. 675 là con số được cho là lớn chưa từng có trong lịch sử ngành Công Thương được các đơn vị thuộc Bộ đề nghị cắt giảm, cao hơn dự kiến ban đầu 63 điều kiện và chiếm tới 55,5% tổng các điều kiện đầu tư kinh doanh.



    >>>Xem phụ lục tại đây



    Việc cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư, kinh doanh được căn cứ trên nguyên tắc:

    Thứ nhất: Chuyển đổi phương thức quản lý nhà nước bằng việc chuyển dần sang hậu kiểm trong xây dựng, thực hiện các điều kiện kinh doanh.

    Thứ hai: Việc xây dựng, thực hiện điều kiện đầu tư kinh doanh phải tính đến các điều kiện gia nhập thị trường theo các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

    Thứ ba: Điều kiện đầu tư, kinh doanh nếu thực sự cần thiết cũng phải đáp ứng các tiêu chí theo quy định tại Điều 7 Luật Đầu tư 2014.

    Thứ tư: Phương án cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư kinh doanh và chuyển đổi phương thức quản lý nhà nước trong từng lĩnh vực phải được đánh giá, xem xét thận trọng về tính khả thi, các điều kiện nguồn lực của cơ quan quản lý nhà nước các cấp, xem xét khả năng phân cấp mạnh mẽ hơn cho các địa phương trong quản lý, thực hiện.

    Thứ năm: Phương án cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư kinh doanh cần phải gắn với công tác cải cách hành chính, đặc biệt là công tác cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính.

    Dự kiến sẽ có khoảng 675 điều kiện kinh doanh được cắt giảm, nhiều hơn khoảng 60 điều kiện so với dự kiến ban đầu và chiếm khoảng 55,5% tổng số điều kiện kinh doanh của 27 nhóm ngành hàng.

    Theo báo cáo của Tổ công tác, tính đến ngày 20/9/2017, các đơn vị thuộc Bộ đã đồng loạt gửi kết quả rà soát trên tinh thần ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Trần Tuấn Anh tại cuộc họp ngày 15/9. Bên cạnh đó, các đơn vị cũng đề xuất các phương án cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh trên nguyên tắc vì doanh nghiệp, người dân và sự phát triển bền vững của xã hội. Trong đó, tổng số điều kiện kinh doanh mà các đơn vị tiến hành rà soát là 1.216 trên 27 ngành, nghề, chưa tính đến ngành nghề sản xuất, nhập khẩu ô tô là ngành nghề thứ 28.

    Điểm đáng chú ý của đợt rà soát lần này theo Tổ công tác là số lượng điều kiện kinh doanh mà các đơn vị đề xuất cao hơn so với dự kiến ban đầu hơn 60 điều kiện và lên tới con số 675 thay vì 612 điều kiện, chiếm 55,5% tổng số các điều kiện thay cho con số 50,3% dự kiến ban đầu.

    Như vậy, sau khi cắt giảm, số điều kiện còn lại chỉ còn 541 thay vì con số dự kiến ban đầu là 752 điều kiện. Đây được coi là đợt cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh chưa từng có trong lịch sử ngành Công Thương với số lượng điều kiện đầu tư kinh doanh bị cắt giảm lớn nhất từ trước đến nay. Trước đó, vào điểm tháng 10/2016, Bộ Công Thương cũng tiến hành một đợt cắt giảm mạnh mẽ các thủ tục hành chính theo quyết định số 4846, gồm: bãi bỏ 15 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 108 thủ tục hành chính trong tổng số 443 thủ tục, tương đương 27,8% tổng số thủ tục hành chính hiện có của Bộ Công Thương.

    Cũng theo báo cáo của Tổ công tác, trong số 27 ngành nghề nằm trong diện rà soát thì có 10 ngành, nghề không có đề xuất cắt giảm gồm: kinh doanh ngành nghề có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ; dịch vụ nổ mìn; xuất khẩu gạo (lĩnh vực này đã được đề xuất đơn giản hóa theo hướng bỏ yêu cầu về quy mô trong từng điều kiện và thay vào đó áp dụng quy chuẩn); tạm nhập tái xuất hàng hóa có thuế tiêu thụ đặc biệt; tạm nhập tái xuất hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa đã qua sử dụng; kinh doanh khoáng sản; hoạt động mua bán hàng hóa và mua bán hàng hóa của doanh nghiệp FDI; hoạt động dầu khí; kiểm toán năng lượng, kiểm định kỹ thuật an toàn lao động máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động; sản xuất, gia công quân phục cho các lực lượng vũ trang nước ngoài.

    17 ngành, nghề kinh doanh còn lại đề xuất cắt giảm gồm: xăng dầu; khí; tiền chất thuốc nổ; hóa chất; rượu; thuốc lá; thực phẩm; điện; tạm nhập tái xuất hàng thực phẩm đông lạnh; nhượng quyền thương mại; logistic; tiền chất công nghiệp; sở giao dịch hàng hóa; giám định thương mại; đa cấp; thương mại điện tử; vật liệu nổ công nghiệp (bao gồm cả hoạt động tiêu hủy).

    Theo Bộ trưởng Trần Tuấn Anh, việc cắt giảm các điều kiện kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp sẽ là công việc trọng tâm đi suốt quá trình cải cách hành chính, hoàn thiện Bộ máy, thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và vì mục tiêu Chính phủ kiến tạo.

    Ngoài việc cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm và đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp thời gian qua, Bộ Công Thương cũng nghiêm tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP của Chính phủ để tạo thuận lợi tối đa cho các doanh nghiệp.

    Cụ thể, Bộ Công Thương đã giảm được trên 58% lượng mặt hàng phải kiểm tra trước thông quan, còn lại đều là những mặt hàng mà theo quy định của pháp luật, Bộ không có thẩm quyền bãi bỏ việc kiểm tra trước thông quan. Tuy nhiên, với những mặt hàng này, Bộ đã triệt để áp dụng các nguyên tắc như minh bạch hóa (quy định đầy đủ mã HS), quản lý theo mức độ rủi ro (phương thức kiểm tra giảm hoặc chỉ kiểm tra hồ sơ), quản lý theo quy chuẩn, tiêu chuẩn và xóa bỏ độc quyền, xã hội hóa công tác kiểm tra.

    Kết quả đạt được cho tới nay là khá tích cực, các vấn đề nổi cộm, bị doanh nghiệp phàn nàn nhiều như kiểm tra hiệu suất năng lượng, kiểm tra hàm lượng formaldehyde, kiểm tra chất lượng thép, dán nhãn tiết kiệm năng lượng, khai báo hóa chất… đều đã hoặc sẽ được giải quyết triệt để, dứt điểm. Công tác cải cách thủ tục hành chính và áp dụng thủ tục trực tuyến cũng thu được nhiều kết quả khả quan.

    Bộ trưởng Trần Tuấn Anh khẳng định thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục lắng nghe cộng đồng doanh nghiệp để xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh. Những định hướng lớn của Bộ là:

    - Tiếp tục rà soát để giảm bớt danh mục hàng hóa thuộc diện kiểm tra chuyên ngành, bao gồm cả trước thông quan và sau thông quan.

    - Với các mặt hàng bắt buộc phải kiểm tra, tăng cường hình thức hậu kiểm và đẩy mạnh việc áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro.

    - Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa các đơn vị tham gia đánh giá sự phù hợp.

    - Tiếp tục bãi bỏ và đơn giản hóa các TTHC, các điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

    - Chú trọng xây dựng và hoàn thiện hệ thống TCVN và QCVN.

    Ngoài ra, trong các năm 2015, 2016 và 2017, Bộ Công Thương đã tiến hành rà soát, sửa đổi nhiều văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chuyên ngành của Bộ, thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm các loại giấy tờ, hồ sơ hoặc chuyển sang thủ tục mang tính tự động hơn (trực tuyến) để tạo thuận lợi tối đa cho các doanh nghiệp. Bộ đã triển khai và hoàn thành đúng thời hạn các nhiệm vụ được giao, cụ thể là:

    Giảm lượng hàng hóa thuộc diện kiểm tra trước thông quan: Ngày 8/9/2016, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 3648/QĐ-BCT công bố Danh mục sản phẩm hàng hóa nhập khẩu phải kiểm tra việc bảo đảm chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật và an toàn thực phẩm trước khi thông quan thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương, thay thế cho Quyết định số 11039/QĐ-BCT ngày 3/12/2014. Với mặt hàng thép, theo đề nghị của Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 07/2017/TT-BKHCN ngày 16/6/2017 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2012/TT-BKHCN ngày 12/12/2012 của Bộ KHCN, các mặt hàng thép (trừ thép làm cốt bê tông) đã được chuyển toàn bộ việc kiểm tra chất lượng sang hậu kiểm kể từ ngày 1/10/2017.

    Như vậy, Quyết định số 3648/QĐ-BCT và Thông tư 07 đã xóa bỏ khoảng 420 mã trong tổng số 720 mã HS phải kiểm tra trước thông quan thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương đạt tỷ lệ xóa bỏ lên tới 58,3%. Hiện nay, trong phạm vi quản lý của Bộ Công Thương, chỉ còn 02 loại sản phẩm phải kiểm tra trước thông quan là tiền chất thuốc nổ và thực phẩm là các sản phẩm bắt buộc phải kiểm tra trước thông quan theo quy định của Luật An toàn thực phẩm. Bộ Công Thương không có sản phẩm hàng hóa thực hiện kiểm tra trong khi thông quan.

    Cụ thể hóa mã HS cho các sản phẩm thuộc diện kiểm tra: Toàn bộ các loại thực phẩm và tiền chất thuốc nổ cần kiểm tra an toàn trước khi thông quan thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương đều đã được cụ thể hóa theo mã HS đến cấp độ 8 số.

    Xóa bỏ độc quyền, xã hội hóa công tác kiểm tra: Bộ Công Thương đã thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác kiểm tra chuyên ngành một cách triệt để. Bộ đã chỉ định 11 đơn vị đủ điều kiện thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu theo hình thức xã hội hóa. Với vật liệu nổ công nghiệp, Bộ đã chỉ định 02 tổ chức thử nghiệm có đầy đủ trang thiết bị và trình độ để đảm nhiệm công việc kiểm tra nhà nước.

    Đối với thủ tục dán nhãn tiết kiệm năng lượng, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 36/2016/TT-BCT ngày 28/12/2016 thay thế Thông tư số 07/2012/TT-BCT quy định dán nhãn năng lượng cho các phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng. Dù là thủ tục sau thông quan, Bộ cũng đã cho phép các tổ chức thử nghiệm trong nước và nước ngoài (bao gồm cả tổ chức thử nghiệm độc lập và phòng thử nghiệm của nhà sản xuất), nếu đáp ứng các điều kiện luật định, đều được tham gia kiểm tra, đánh giá.

    Áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro để giảm tần suất kiểm tra: Bộ Công Thương đã áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro để giảm tần suất kiểm tra an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ. Các lô hàng cùng loại, cùng xuất xứ, nếu đạt yêu cầu về an toàn thực phẩm qua 5 lần kiểm tra liên tiếp sẽ được áp dụng phương thức chỉ kiểm tra hồ sơ, không lấy mẫu sản phẩm. Với mặt hàng thép, khi còn thực hiện thủ tục kiểm tra trước thông quan, Bộ cũng đã áp dụng các hình thức kiểm tra giảm và chỉ kiểm tra hồ sơ để giảm thời gian thông quan và chi phí cho doanh nghiệp.

    Để tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính và giảm thời gian kiểm tra chuyên ngành, Bộ Công Thương đang xây dựng Thông tư sửa đổi một số quy định về kiểm tra an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. Dự kiến sẽ sửa đổi theo hướng chỉ kiểm tra hồ sơ đối với các lô hàng cùng loại, cùng xuất xứ đã đạt yêu cầu về an toàn thực phẩm qua 03 lần kiểm tra liên tiếp (trước đây là 05 lần). Trên tinh thần chỉ kiểm tra các nhóm sản phẩm có nguy cơ cao không bảo đảm an toàn thự phẩm, trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ cùng Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng danh mục hàng hóa được miễn kiểm tra hoặc áp dụng ngay hình thức kiểm tra hồ sơ theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam.

    Theo đánh giá của Tổ công tác, việc bãi bỏ thủ tục kiểm tra hàm lượng formaldehyde đối với vải, sợi, bán thành phẩm và sản phẩm mẫu đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm được 1,5 triệu đồng cho mỗi lần kiểm nghiệm mẫu và rút ngắn được thời gian thông quan từ 2,4 đến 3,8 ngày.

    Đối với thực phẩm, năm 2016 và 6 tháng đầu năm 2017, các đơn vị kiểm tra nhà nước thực phẩm nhập khẩu do Bộ Công Thương chỉ định đã áp dụng quy trình kiểm tra giảm cho 2.325 lô hàng đủ điều kiện, giúp doanh nghiệp giảm thời gian thông quan trung bình từ 12 ngày làm việc xuống còn 2 ngày làm việc. Những lô hàng đủ điều kiện "kiểm tra hồ sơ" chỉ mất 2 giờ là hoàn thành thủ tục kiểm tra chuyên ngành (tính từ khi hàng bắt đầu nhập cảng cho đến khi doanh nghiệp nhận được Thông báo kiểm tra nhà nước thực phẩm nhập khẩu).

    Đối với thép, Bộ Công Thương đã áp dụng quy trình kiểm tra giảm đối với các doanh nghiệp chấp hành tốt các quy định về quản lý chất lượng. Quy trình kiểm tra giảm giúp doanh nghiệp giảm được thời gian thông quan từ 3 đến 4 ngày, đồng thời giảm được khoảng 2 triệu chi phí thử nghiệm cho mỗi lô hàng. Kể từ ngày 1 tháng 10 năm 2017, khi mặt hàng thép được chuyển sang kiểm tra sau thông quan, dự kiến thời gian thông quan sẽ tiếp tục được giảm xuống.

    Bộ Công Thương đã chính thức thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia đối với 05 thủ tục hành chính bao gồm:

    - Cấp chứng nhận xuất xứ ưu đãi;

    - Cấp phép nhập khẩu tự động xe mô tô phân khối lớn;

    - Cấp phép nhập khẩu các chất làm suy giảm tầng ô-dôn;

    - Cấp Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu vật liệu nổ công nghiệp;

    - Cấp Giấy chứng nhận quy trình Kimberley đối với kim cương thô.

    Quyết định ban hành Phương án cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư, kinh doanh thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công Thương giai đoạn 2017 – 2018, xem tại đây
  6. ssivietnam

    ssivietnam Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Apr 17, 2014
    Likes Received:
    4,082
    10 kiến nghị cho “mặt tiền” đất nước khang trang hơn
    “Là mặt tiền của Việt Nam nhìn ra biển Đông, nhiều tiềm năng nhưng bao nhiêu đời vùng duyên hải miền Trung vẫn cứ nghèo”...
    [​IMG]
    Toàn cảnh phiên họp của Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung - Ảnh: Việt Tuấn.

    NGUYÊN VŨ
    “Là mặt tiền của Việt Nam nhìn ra biển Đông, nhiều tiềm năng nhưng bao nhiêu đời vùng duyên hải miền Trung vẫn cứ nghèo, phát triển tương xứng với mặt tiền vẫn là khát vọng”, TS. Trần Du Lịch, trưởng nhóm tư vấn phát triển vùng duyên hải miền Trung nhấn mạnh tại cuộc họp Ban Điều phối vùng, chiều 24/9.
    Để “mặt tiền của đất nước” khang trang hơn, ông Lịch cho biết, Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung đã kiến nghị Thủ tướng 10 nội dung, đề nghị Thủ tướng chấp thuận về nguyên tắc để làm cơ sở cho các bộ, ngành Trung ương hướng dẫn và phối hợp triển khai nghiên cứu thành những quy định hoặc đề án cụ thể để áp dụng.
    Thứ nhất, về quan điểm phát triển, đề nghị Chính phủ đặt mục tiêu và yêu cầu phát triển vùng duyên hải miền Trung là địa bàn trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam, vừa có ý nghĩa về kinh tế - xã hội, vừa có ý nghĩa quan trọng về an ninh - quốc phòng.
    Theo TS. Trần Du Lịch, đây là vấn đề mang tính chất quan điểm phát triển, nếu được xác định sẽ là tiền đề cho việc xây dựng cơ chế và chính sách phát triển cụ thể cho từng lĩnh vực và từng địa bàn, nhất là cho các khu kinh tế ven biển và cũng là cơ sở để điều chỉnh quy hoạch kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn vùng, nhất là ưu tiên đầu tư cho hạ tầng kinh tế biển trong việc phân bố vốn đầu tư trung hạn của Chính phủ.
    Theo kế hoạch, Quốc hội sẽ quyết định thành lập đặc khu hành chính - kinh tế Bắc Vân Phong (Khánh Hòa), trong đó quy hoạch phát triển 4 nhóm ngành nghề chính: công nghệ thông tin, điện tử, cơ khí chính xác; dịch vụ cảng biển; du lịch và thương mại - tài chính.
    Hiện nay chính sách và cơ chế đặc thù cho 3 đặc khu kinh tế đang được nghiên cứu thảo luận để trình Quốc hội quyết định, nhưng quan điểm chung của Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung đề nghị Chính phủ quan tâm đến thể chế thực sự vượt trội khả dĩ có thể cạnh tranh với các đặc khu kinh tế khác ở khu vực châu Á, tạo động lực thu hút đầu tư, tạo sự phát triển lan tỏa cho cả khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; đồng thời tạo ra cơ hội để liên kết phát triển cả vùng.
    Thứ hai, xây dựng trục kinh tế biển thống nhất với 9 tỉnh, thành phố là vùng kinh tế trọng điểm của quốc gia.
    Cụ thể, tiến hành điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thời kỳ 2021 - 2030 đồng thời rà soát lại, xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh duyên hải miền Trung phù hợp với không gian kinh tế Vùng.
    Trên cơ sở đó, mở rộng vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thêm 4 tỉnh: Phú Yên; Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận để thống nhất liên kết vùng 9 tỉnh, thành phố vùng duyên hải miền Trung và gắn Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung với Hội đồng đồng Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (hiện nay gồm 5 tỉnh: Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định) phát triển thành trục kinh tế biển thống nhất, gắn kết chặt chẽ với Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ.
    Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung và các địa phương trong vùng tiến hành nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch không gian phát triển kinh tế cho cả vùng.
    Thứ ba, điều chỉnh mục tiêu, quy mô của các khu kinh tế của vùng duyên hải miền Trung.
    Hiện nay trên địa bàn của vùng có 5 khu kinh tế ven biển với diện tích quy hoạch 152.000 ha, nhưng chưa được khai thác đáng kể. Đề nghị Chính phủ giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì cùng với Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung chủ trì, phối hợp với các tỉnh trong vùng và các bộ, ngành Trung ương khác, rà soát quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế tại vùng duyên hải miền Trung trình Chính phủ phê duyệt điều chỉnh.
    Một số khu kinh tế đã điều chỉnh như Chu Lai (Quảng Nam) và đang nghiên cứu điều chỉnh như Nhơn Hội (Bình Định) nhưng vẫn chưa có sự phối hợp về chức năng giữa các khu kinh tế.
    Trên cơ sở rà soát tổng thể các khu kinh tế, tiến hành điều chỉnh cơ bản về mục tiêu phát triển, quy mô diện tích và quy hoạch các phân khu chức năng của từng khu kinh tế cho phù hợp với khả năng thu hút đầu tư cũng như không trùng lắp với chức năng của các khu kinh tế khác, giúp cho việc tập trung nguồn lực vào các mục tiêu mũi nhọn của từng khu kinh tế và giảm bớt tình trạng cạnh tranh lẫn nhau giữa các khu kinh tế trong vùng.
    Thứ tư, đề nghị nghiên cứu mô hình quản lý các khu kinh tế, mở rộng phân cấp, phân quyền và ủy quyền cho các ban quản lý, bảo đảm cơ chế hành chính “một cửa”.
    Ông Lịch trình bày, để khắc phục các chồng chéo, vướng mắc giữa các văn bản dưới luật có liên quan đến khu kinh tế, kiến nghị Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương nên ưu tiên tiến hành rà soát, sửa đổi các văn bản pháp luật liên quan. Nghiên cứu ban hành luật về khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất.
    Trước mắt đề nghị các nghị định, thông tư hướng dẫn các luật chuyên ngành cần có các nội dung riêng điều chỉnh các hoạt động trong khu kinh tế. Trong đó cần phân cấp, ủy quyền mạnh hơn về địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ cho ban quản lý khu kinh tế (ban quản lý khu kinh tế phải thực sự là nơi cung cấp “dịch vụ hành chính một cửa”).
    Thứ năm, xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển khu kinh tế trọng điểm về công nghiệp lọc hóa dầu, công nghiệp chế biến sản phẩm từ dầu mỏ trên cơ sở rà soát và quy hoạch lại khu kinh tế Dung Quất và Chu Lai. Xây dựng quy chế đặc thù phát triển vùng kinh tế Chu Lai - Dung Quất, làm trung tâm công nghiệp - cảng biển (logistics) - đô thị biển của vùng duyên hải miền Trung. Cần gắn kết hai khu kinh tế này trong tổng thể phát triển, không bị chia cắt bởi hành chính địa phương.
    Thứ sáu, đề nghị Chính phủ, giao cho Bộ Giao thông Vận tải chủ trì cùng với Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung phối hợp cùng các địa phương, các bộ ngành khác rà soát quy hoạch chiến lược hệ thống hạ tầng của vùng, làm rõ theo chức năng, không chồng chéo, không xung đột lợi ích, nhất là không dàn trải đầu tư kém hiệu quả, phân tán nguồn lực về: cảng biển, đường giao thông, sân bay của vùng.
    Xây dựng cơ chế điều phối vùng trong việc đầu tư sân bay, cảng biển và giao thông kết nối vùng nhằm tránh phân tán nguồn lực (kể cả kêu gọi đầu tư tư nhân) và gắn kết giữa cảng biển với hệ thống tổ chức logistics, các khu công nghiệp trong vùng.
    Thứ bảy, đề nghị Chính phủ đặt mục tiêu ưu tiên xây dựng tuyến đường ven biển xuyên suốt toàn vùng. Đây là tuyến đường chiến lược về kinh tế và quốc phòng, gắn với con đường này sẽ quy hoạch xây dựng các đô thị ven biển, hình thành “mặt tiền” của đất nước.
    Để thực hiện nhiệm vụ này trong thời gian nhanh nhất, đề nghị Chính phủ xem xét phân bố tỷ lệ “vốn mồi”, còn chủ yếu huy động bằng “cơ chế”, trong đó có chính sách khai thác quỹ đất đô thị. Cần nghiên cứu chính sách đất đai và thuế đặc biệt ưu đãi để phát triển các đô thị trong các khu kinh tế ven biển, có thể nghiên cứu một số chính sách phù hợp sẽ áp dụng trong các đặc khu hành chính - kinh tế.
    Trong tương lai đường ven biển quan trọng hơn đường quốc lộ, ông Lịch nhấn mạnh.
    Thứ tám, để du lịch thực sự thành ngành kinh tế mũi nhọn theo nghị quyết của Bộ Chính trị và theo Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của Chính phủ, đề nghị Chính phủ giao cho Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch phối hợp với Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung xây dựng và triển khai thực hiện chương trình phát triển du lịch miền Trung trở thành ngành mũi nhọn”.
    Đây là địa bàn có lợi thế và có điều kiện để liên kết phát triển từ các “điểm du lịch” sang “vùng du lịch”, xây dựng “thương hiệu điểm đến” chung cho cả vùng.
    Thứ chín, đề nghị ưu tiên xây dựng trung tâm logistics - hậu cần biển cho vùng duyên hải miền Trung.
    Ưu tiên xây dựng trung tâm hậu cần nghề cá của vùng (quy hoạch ở Khánh Hòa) và tạo điều kiện để xây dựng một số cảng cá địa phương thành trung tâm hậu cần nghề cá của tỉnh, gắn với công nghiệp chế biến và tổ chức lại đời sống của ngư dân ở các “làng chài”.
    Việc đầu tư các khu neo đậu tránh bão của tàu thuyền với nguồn vốn nhỏ giọt thiếu tập trung đang rất bức xúc. Các khu hậu cần nghề cá ở quy mô địa phương phần lớn vẫn nằm trên quy hoạch, chưa có nguồn vốn đầu tư hoặc cơ chế huy động vốn đầu tư.
    Thứ mười, đối với mô hình tổ chức Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung, đề nghị Chính phủ hoặc Bộ Nội vụ ra quyết định công nhận Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung là một tổ chức hoạt động theo quy chế hội (theo Nghị định 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010).
    Đây là phương án nâng cấp Ban Điều phối vùng duyên hải miền Trung hiện nay thành tổ chức có tư cách pháp nhân, hoạt động theo khung pháp lý của hội, đoàn hiện nay nhằm triển khai thực hiện hiệu quả cơ chế điều phối liên kết vùng duyên hải miền Trung (nội dung này có đề án riêng đã trình Thủ tướng và Bộ Nội vụ cuối năm 2016).
  7. ssivietnam

    ssivietnam Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Apr 17, 2014
    Likes Received:
    4,082
    Tăng trưởng GDP ba quí dự báo trên 6%
    • Learn from yesterday, live for today, hope for tomorrow. The important thing is not to stop questioning.

      “Các chỉ số sản xuất nông nghiệp và công nghiệp trong tháng 8-2017 khá tích cực và chúng tôi tin tăng trưởng GDP quí 3 và chín tháng đầu năm sẽ ở mức trên 6%” - ông Nguyễn Đức Hùng Linh, Trưởng bộ phận nghiên cứu - phân tích của Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI), nhận xét.

      Ông Linh cho rằng việc đạt mục tiêu tăng trưởng GDP năm nay 6,7% bằng mọi giá là không cần thiết và chính sách điều hành nên tập trung vào hướng kích cung thay vì các giải pháp kích cầu mang tính ngắn hạn đồng thời chứa đựng rủi ro.

      Hai vấn đề vĩ mô nổi lên hiện nay được không chỉ giới nghiên cứu mà cả giới đầu tư quan tâm, nhất là biến động của lạm phát và tăng trưởng tín dụng. Chỉ số CPI tháng 8 vừa qua đã bất ngờ tăng 0,92% so với tháng trước đó và đây là mức tăng cao nhất trong gần bốn năm qua. Sự cộng hưởng tăng giá của nhiều mặt hàng như thực phẩm, xăng dầu, dịch vụ y tế, học phí đã đẩy CPI gần chạm mức 1%/tháng.

      Dự báo CPI tháng 9 có thể vẫn tiếp tục tăng do giá xăng đã tăng hai lần. Giá dịch vụ y tế và giáo dục của nhiều địa phương cũng được điều chỉnh trong tháng này. Hơn nữa giá thịt heo cũng nhích lên do nhu cầu từ Trung Quốc.

      Nếu nhìn về 12 tháng trước mắt, nhiều khả năng lạm phát sẽ thử thách mức 4-5% bất chấp năm nay CPI sẽ đứng ở mức dưới 4%. Ngoài những yếu tố liên quan đến lạm phát kể trên, có thể thấy những cuộc khủng hoảng về giá lương thực thực phẩm như giải cứu heo, dưa hấu, các loại cây trồng khác sẽ khó lặp lại.

      Yếu tố tác động tới lạm phát không thể bỏ qua là tăng trưởng tín dụng. Nới lỏng tín dụng quá mức có thể dẫn tới bất ổn vĩ mô nếu không kiểm soát tốt đường đi của đồng vốn giải ngân. Tín dụng tăng trưởng cao là con đường ngắn nhất đưa đến khủng hoảng tài chính và kinh tế, điều đã từng xảy ra hai lần trong vòng 10 năm trở lại đây.

      Lĩnh vực được trông chờ hỗ trợ cho GDP chính là xuất khẩu khi giải ngân đầu tư công chậm chạp và giới ngân hàng trong tình trạng lo ngại về nợ xấu bùng phát một khi nhiều tổ chức tín dụng đã được Ngân hàng Nhà nước cho phép nâng hạn mức tín dụng năm nay lên trên 20%. Tái cơ cấu mạnh nông nghiệp, phát triển nông nghiệp công nghệ cao đang được chú trọng do nông nghiệp đứng thứ hai trong cơ cấu GDP, chỉ sau công nghiệp chế tạo chế biến. Xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp đã bắt đầu le lói hy vọng khi kim ngạch xuất khẩu rau quả lần đầu tiên cán mốc 2,35 tỉ đô la Mỹ chỉ trong tám tháng đầu năm. Trong khi giá trị xuất khẩu các mặt hàng truyền thống như gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, chè... chưa có đột phá, thì xuất khẩu rau quả là một sự gợi mở cho thành công nếu chúng ta làm tốt công tác thị trường.

      Không nhiều các doanh nghiệp nông nghiệp có mặt trên sàn. Bên cạnh những công ty mía đường, các đơn vị trồng, khai thác, xuất khẩu cao su thiên nhiên mà cổ đông chi phối vẫn là Nhà nước thông qua Tổng công ty Cao su, các cổ phiếu có liên quan đến nông nghiệp chỉ có APC (Công ty cổ phần Chiếu xạ An Phú); PAN (Tập đoàn cổ phần Pan); LTG (Tập đoàn Lộc Trời); HNG (Công ty cổ phần Nông nghiệp quốc tế Hoàng Anh Gia Lai); HAI (Công ty cổ phần Nông dược HAI); NAF (Công ty cổ phần Nafoods)... APC là cổ phiếu tăng trưởng mạnh nhất trong nhóm cổ phiếu nông nghiệp trong ba tháng qua, từ 25.000 đồng lên 42.600 đồng/cổ phiếu nhờ kết quả lợi nhuận sau thuế bán niên khả quan hơn hẳn cùng kỳ. Là một trong số ít công ty chiếu xạ trái cây phục vụ xuất khẩu, APC đang có triển vọng sáng khi xuất khẩu trái cây sẽ còn gia tăng tới đây.

      Thị giá của NAF xoay quanh vùng giá 25.000-26.000 đồng tương đối lâu khi xuất khẩu chanh dây, sản phẩm chủ lực của Nafoods, đang không thuận lợi do giá giảm so với trước đây. LTG có những nỗ lực đáng ghi nhận trong việc đa dạng hóa sản phẩm, nhất là các loại gạo dành cho thị trường nội địa. HNG bị “sa lầy” trong trồng cao su và đã chuyển sang trồng cây ăn trái nhằm tạo dòng tiền ngắn hạn. PAN là cổ phiếu ổn định xét về thị giá (dao động quanh mức 35.000-40.000 đồng cả năm nay). Tuy vậy thanh khoản của PAN kém do lượng cổ phiếu cô đặc.

      Trào lưu đầu tư vào nông nghiệp được khởi xướng từ mấy năm trước và hiện vẫn thu hút dòng vốn của doanh nhân trong nước. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực này hoặc còn quá mới, hoặc không có ý định lên sàn do cả nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan. Nông nghiệp là một trong những lĩnh vực ưu tiên được vay vốn ưu đãi, nhưng tăng trưởng nông nghiệp mới chỉ ở mức 2%/năm. Vốn không phải là nút thắt. Rủi ro về thị trường tiêu thụ, về giá cả do phụ thuộc vào giá thế giới là đáng kể. Đầu tư cho khâu chế biến để nâng giá trị xuất khẩu vẫn là điểm yếu của nông nghiệp Việt.
  8. ssivietnam

    ssivietnam Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Apr 17, 2014
    Likes Received:
    4,082
    Chiều nay tăng lại hết nhé
    --- Gộp bài viết, Sep 26, 2017, Bài cũ: Sep 26, 2017 ---
    P đã khơi mào cho con sóng lớn => BDS+CK+NH sẽ đưa thị trường thăng hoa:x:x:x:x:x:x
  9. ssivietnam

    ssivietnam Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Apr 17, 2014
    Likes Received:
    4,082
    hãy mơ giấc mơ 10000 :D
  10. ssivietnam

    ssivietnam Thành viên gắn bó với f319.com

    Joined:
    Apr 17, 2014
    Likes Received:
    4,082
    Thặng dư Trung Quốc - Mỹ tăng kỷ lục
    Thứ Sáu | 13/10/2017 19:37



    [​IMG]

    Trong tháng 9, Trung Quốc có mức thặng dư lớn nhất với Mỹ trong một tháng đơn lẻ tính từ năm 2008.
    Nguồn ảnh: Reuters

    Theo Reuters, ngày 13.10, Tổng cục Hải quan Trung Quốc công bố số liệu cho thấy thặng dư thương mại của Trung Quốc với Mỹ trong tháng 9 vừa qua tăng lên 28,08 tỉ USD so với 26,23 tỉ USD của tháng 8. Đây là mức thặng dư lớn nhất của Trung Quốc với Mỹ trong một tháng đơn lẻ tính từ năm 2008.
    Theo thống kê, tổng thặng dư thương mại của Trung Quốc với Mỹ trong 9 tháng đầu năm là 195,54 tỉ USD.

    Các số liệu này có thể sẽ tiếp thêm sức mạnh cho những lập luận của Tổng thống Mỹ Donald Trump, người lâu nay vẫn phàn nàn về tình trạng mất cân bằng thương mại giữa hai nước khiến nền kinh tế Mỹ bị tổn hại. Mỹ chỉ trích thặng dư thương mại của Trung Quốc và đề xuất một thỏa thuận mậu dịch "công bằng hơn".

    Ngoài ra Tổng thống Donald Trump còn tỏ ý sẽ áp thuế đối với thép Trung Quốc. Ngoài thép, Mỹ được dự kiến ép Bắc Kinh đối với việc Trung Quốc trợ cấp cho các doanh nghiệp nhà nước.

    [​IMG]
    Cán cân xuất nhập khẩu của Mỹ với Trung Quốc
    Trong khi đó, trong 8 tháng đầu năm nay, tổng kim ngạch nhập khẩu dịch vụ của Trung Quốc tiếp tục lớn hơn tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ do nhu cầu trong nước tăng cao. Theo Bộ Thương mại Trung Quốc (MOC), trong giai đoạn này, tổng kim ngạch nhập khẩu dịch vụ của Trung Quốc là 2.130 tỉ nhân dân tệ (hơn 320 tỉ USD), tăng 12,2% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi xuất khẩu dịch vụ chỉ đạt 926,69 tỉ nhân dân tệ, đạt tốc độ tăng trưởng tương đối khiêm tốn ở mức 4,4%. Như vậy, tính gộp tám tháng đầu năm nay, Trung Quốc đã thâm hụt 1.200 tỉ nhân dân tệ trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, tăng gần 20% so với cùng kỳ năm ngoái.

Share This Page