Thông điệp từ Thông tư 13

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi ttvidai, 24/09/2010.

653 người đang online, trong đó có 261 thành viên. 13:06 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 911 lượt đọc và 12 bài trả lời
  1. ttvidai

    ttvidai Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/09/2007
    Đã được thích:
    239
    http://tinnhanhchungkhoan.vn/RC/N/CFGBCF/thong-diep-tu-thong-tu-13.html
    Thông điệp từ Thông tư 13
    24/09/2010 11:40:56
    [​IMG]
    Đa số ngân hàng đã sẵn sàng cho Thông tư 13
    Chỉ còn vài ngày nữa (1/10) là đến thời hạn áp dụng Thông tư 13 về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, nhưng nhiều nhà đầu tư (NĐT) vẫn không hết hy vọng Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ sửa đổi thông tư này.
    "Cam kết ngầm" của giới đầu tư là, nếu có tín hiệu điều chỉnh hoặc gia hạn thời gian thực hiện Thông tư 13, họ sẽ ngay lập tức "nhảy" vào thị trường.

    Hy vọng đến phút cuối

    Chứng khoán lình xình với xu hướng chủ đạo là giảm. Trong tất cả các câu chuyện của giới đầu tư cũng như tâm lý chung trên thị trường là chờ đợi động thái sửa đổi Thông tư 13 từ phía NHNN.

    Điều này cũng dễ hiểu bởi một trong những vấn đề lớn nhất của Thông tư 13 là hạn chế việc tham gia vào các hoạt động liên quan đến kinh doanh chứng khoán và kinh doanh bất động sản của các NH thương mại khi nâng hệ số rủi ro trong 2 lĩnh vực này lên mức 250%. Nghĩa là nguồn vốn chảy vào chứng khoán và bất động sản sẽ bị "chặn" lại và 2 thị trường này sẽ bị tác động theo hướng tiêu cực.

    Tuy nhiên, theo ông Lê Đạt Chí, chuyên gia chứng khoán tại TP. HCM, việc nâng tỷ trọng rủi ro trong 2 lĩnh vực này cho thấy, NHNN đã nhìn thấy mức độ rủi ro cao hơn so với nhận định ban đầu của mình trong việc đầu tư vào các lĩnh vực này. Và điều này là hoàn toàn cần thiết. Lấy thị trường chứng khoán làm minh chứng.


    Thị trường này luôn bất ổn, tăng giảm không theo bất cứ quy luật nào. Đặc biệt, khi giảm khoảng 15% - 20% thì luôn luôn phải đối mặt với áp lực giải chấp. Tương tự trong lĩnh vực bất động sản.

    Chúng ta vẫn thường sử dụng từ "đóng băng" để nói về thị trường này trong những năm gần đây. Điều đó có nghĩa là, khi cần, muốn bán bất động sản, cũng rất khó. Việc nâng tỷ lệ rủi ro lên 250% sẽ khiến các NH muốn cho vay trong lĩnh vực này phải tính lại LS. Từ đó, chủ đầu tư phải tính lại các khoản vay. "Thông điệp của tỷ lệ này là "nếu anh muốn tham gia lĩnh vực chứng khoán, bất động sản thì anh phải chấp nhận tỷ lệ này" - ông Chí nói.

    Trên thực tế, nếu "bịt" dòng vốn chảy vào 2 lĩnh vực này thì dòng vốn sẽ chảy vào sản xuất kinh doanh. Đây là điểm tốt cho nền kinh tế và cũng thể hiện một thông điệp cao hơn, chính sách phải định hướng lâu dài chứ không nhìn trong ngắn hạn.

    An toàn hệ thống

    Đa số NH đã sẵn sàng nhưng một số NH vẫn kêu khó khi đáp ứng yêu cầu nâng tỷ lệ an toàn vốn từ 8% lên 9% trong Thông tư 13. Đặc biệt, việc nhiều NH tăng lãi suất huy động vàng trong những ngày vừa qua cũng được cho là để "chạy" yêu cầu về tỷ lệ 9% theo Thông tư 13.

    Nhiều ý kiến cho rằng, NHNN đã quá lo xa khi tăng tỷ lệ an toàn vốn lên 9%. Tuy nhiên, điều này xuất phát từ đặc thù rất đáng lo ngại của các tổ chức tín dụng hiện nay, đó là huy động 10 đồng thì cho vay... cả 10 đồng. NH nào cũng cố gắng cho vay càng nhiều càng tốt dẫn đến rủi ro rất lớn. Đặc biệt, điểm nhạy cảm của ngành NH đó là tính rủi ro hệ thống, từ đó gây ảnh hưởng tới cả nền kinh tế.

    Vì vậy, việc tăng tỷ lệ an toàn vốn lên 9% của Thông tư 13 là hết sức cần thiết cho hệ thống NH. Không chỉ ở Việt Nam, sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 trên thế giới, yêu cầu đầu tiên đối với các NH ở Mỹ, EU... cũng là đảm bảo an toàn cho cả hệ thống.

    Điểm gây tranh cãi khá nhiều là tỷ lệ sử dụng vốn 80%. Cụ thể, theo nội dung thông tư, nguồn vốn huy động sử dụng để cho vay không bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế, Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm Xã hội và các tổ chức khác.

    Theo ý kiến của nhiều người, quy định này chưa từng có thông lệ quốc tế và cản trở các NH trong việc tăng trưởng tín dụng. Nhưng trên thực tế, tiền gửi có kỳ hạn mới quản trị được, còn gửi không kỳ hạn, khách hàng muốn rút lúc nào thì rút, NH không thể kiểm soát được.

    Đó là chưa kể tới "tính đặc thù" của các NH trong nước là luôn cho vay với tỷ lệ rất cao, gây tình trạng mất thanh khoản như đã nói trên. Có lẽ hơn ai hết, NHNN biết rõ vòng quay vốn ở các NH nên đã đưa ra tỷ lệ này để "hãm phanh" tốc độ tăng trưởng tín dụng, đảm bảo thanh khoản hệ thống.

    Chính sách ban hành luôn vấp phải sự "la lớn" của các đối tượng bị điều chỉnh nhưng mục tiêu của chính sách là tầm nhìn dài hạn. Và trên thực tế, chỉ có vài NH khó khăn với Thông tư 13, còn cả hệ thống nhìn chung vẫn rất ổn.

    Đó là chưa kể, trong tay NHNN có rất nhiều công cụ cho phép NHNN có thể sửa đổi khẩn cấp để vẫn thực hiện chủ trương giảm LS cho nền kinh tế mà vẫn giữ được thanh khoản cho toàn hệ thống nếu Thông tư 13 đi vào thực tế không đạt được những kỳ vọng ban đầu của NHNN.



    Theo TN
  2. ttvidai

    ttvidai Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/09/2007
    Đã được thích:
    239
    http://tinnhanhchungkhoan.vn/RC/N/CFGBEA/than-trong-voi-tin-dung-ngoai-te.html
    Thận trọng với tín dụng ngoại tệ
    24/09/2010 18:28:28
    [​IMG]
    Mặt bằng lãi suất ngoại tệ đang có chiều hướng tăng nhanh hơn so với lãi suất VND - Ảnh: Hoài Nam
    (ĐTCK-online) Lãi suất cho vay thỏa thuận bằng tiền đồng khó giảm theo chủ trương đưa ra bên cạnh áp lực tăng chi phí huy động vốn đang đè nặng các nhà băng trước khi các quy định của Thông tư 13/2010/TT-NHNN đi vào thực tế cuộc sống. Vì thế, nhu cầu vốn ngoại tệ của doanh nghiệp, nhất là với các nhà xuất khẩu vẫn tăng, nhằm tránh áp lực lãi suất. Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế, các doanh nghiệp cũng nên thận trọng, vì rủi ro biến động tỷ giá khó lường.
    Lãi suất USD vẫn tăng
    Sau quyết định nâng tỷ giá (USD/VND) chính thức của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thêm 2,1%, nhu cầu vốn bằng ngoại tệ của doanh nghiệp, theo các ngân hàng, tiếp tục tăng. Do đó, lãi suất tiền gửi ngoại tệ cũng được điều chỉnh lên mức khá cao hơn.
    Cụ thể, từ ngày 24/9, VietABank tăng mạnh lãi suất tiền gửi USD, từ 0,20%/năm đến 0,40%/năm cho các kỳ hạn, lĩnh lãi cuối kỳ đối với cá nhân, với 1 tháng lên 4,2%/năm; 3 tháng lên 4,8%/năm; 6 - 12 tháng lên 5%/năm… Trước đó 1 ngày, VietBank tăng lãi suất tiền gửi USD lên mức cao nhất 5,3%/năm. Tương tự, Ngân hàng HDBank cũng điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm USD lên mức cao nhất 5,2%/năm đối với USD áp dụng cho kỳ hạn tiền gửi ngoại tệ 12 tháng...
    Nhìn chung, mặt bằng lãi suất ngoại tệ đang có chiều hướng tăng nhanh hơn so với lãi suất VND và lãi suất tiền gửi bằng vàng. Lý do là lãi suất tiền gửi bằng USD không phải khống chế mức đồng thuận như tiền đồng và các ngân hàng có thể áp dụng mức cao nhất tùy theo xu hướng cũng như cạnh tranh trong huy động vốn bằng ngoại tệ để cho vay.
    So với đầu năm 2010, lãi suất tiền gửi USD hiện cao hơn khoảng 1 - 2%/năm và thậm chí ở các ngân hàng quy mô nhỏ, mức tăng thêm còn cao hơn. Chính lãi suất tiết kiệm bằng ngoại tệ của các ngân hàng trong nước đang dần tăng lên đã hấp dẫn tiền gửi nước ngoài. Theo TSKH Võ Đại Lược, Trung Tâm kinh tế châu Á Thái Bình Dương, lãi suất cho vay và tiết kiệm của Việt Nam hiện nay cao hàng đầu thế giới. Trên thực tế, hiện lãi suất ở các trung tâm kinh tế thế giới bằng không, trong khi ở Việt Nam tiếp tục gia tăng.
    Đáng chú ý, mặt bằng lãi suất tiết kiệm ngoại tệ ở Việt Nam hiện cao hơn nhiều so với lãi suất đồng USD ở các nước, khiến dòng vốn ủy thác đầu tư chảy nhiều hơn vào Việt Nam nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất giữa thị trường Việt Nam và quốc tế. Tuy nhiên, theo TS Võ Đại Lược, nếu dòng vốn này ở lại Việt Nam lâu dài thì không có rủi ro gì đáng lo ngại. Song nếu các điều kiện kinh tế thay đổi làm cho dòng vốn nói trên không tìm được lợi nhuận và nó sẽ được rút ra sẽ có tác động tiêu cực đến thị trường ngoại hối.
    Còn với doanh nghiệp, nhất là các nhà xuất khẩu, do có nguồn thu bằng ngoại tệ nên không ngần ngại vay vốn bằng USD bởi lãi vay thấp hơn nhiều so với lãi suất vay tiền đồng. Thực tế hiện nay, lãi suất vay ngoại tệ chỉ bằng 1/3 hoặc cao nhất cũng chỉ tới phân nửa so với lãi suất VND.
    TS Võ Đại Lược cho rằng, với mức lãi suất huy động tiền đồng cho kỳ hạn từ 3 tháng trở lên hiện là 11 - 11,2%/năm, lãi suất cho vay ở các ngân hàng thương mại vẫn phổ biến ở mức trên 14%/năm, thậm chí với khách hàng cá nhân còn lên đến 17%/năm. Vì thế, doanh nghiệp ngại vay VND và tiếp tục tìm đến vốn vay bằng ngoại tệ.
    Mức tăng dư nợ tín dụng bằng ngoại tệ của các ngân hàng trong 8 tháng qua cũng luôn cao hơn so với tiền đồng. Đơn cử tại khu vực TP. HCM, theo số liệu của Cục Thống kê TP. HCM, vốn huy động của các ngân hàng trên địa bàn tính đến cuối tháng 7/2010 đạt 669,7 nghìn tỷ đồng, tăng 20,5% so cùng kỳ và tăng 11% so đầu năm. Trong đó, vốn huy động bằng ngoại tệ chiếm 25,8% tổng vốn huy động, tăng 25,7% so cùng kỳ. Còn tổng dư nợ tín dụng đạt 610,8 ngàn tỷ đồng, tăng 26,4% so cùng kỳ, tăng 9,1% so đầu năm. Nhưng trong đó, dư nợ tín dụng bằng ngoại tệ đạt 172,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 28,2% tổng dư nợ, tăng đến 44,2% so cùng kỳ; dư nợ tín dụng bằng VND chỉ tăng 20,5%. Còn theo số liệu thống kê toàn ngành ngân hàng, 7 tháng đầu năm nay, dư nợ tín dụng bằng ngoại tệ tăng đến 34%. Điều này được các chuyên gia kinh tế cảnh báo cầu ngoại tệ để trả nợ ngân hàng dồn vào cuối năm sẽ gây áp lực lên tỷ giá. Rủi ro đối với doanh nghiệp vay vốn ngoại tệ là điều khó tránh.
    Đặc biệt là khi tình trạng nhập siêu hiện nay được TS Trần Du Lịch, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia đánh giá, tuy đã giảm về tỷ lệ, nhưng số tuyệt đối vẫn còn khá cao so với sự an toàn của dự trữ ngoại hối.

    Thận trọng hơn khi vay ngoại tệ
    Với tình trạng trên, TS Trần Du Lịch cho rằng, khó có thể giữ ổn định tỷ giá ở mức hiện nay. Chính vấn đề này đang ảnh hưởng lớn đối với tâm lý doanh nghiệp và định hướng thị trường về sự kỳ vọng tiếp tục điều chỉnh tỷ giá từ nay đến cuối năm.
    Theo TS Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy Ban giám sát tài chính quốc gia, áp lực tỷ giá ngắn hạn có thể giảm nhẹ, nhưng trong dài hạn sẽ khó khăn do thâm hụt cán cân vãng lai. Dư nợ cho vay ngoại tệ có thể giảm dần trong thời gian tới, do chênh lệch lãi suất nội tệ - ngoại tệ có xu hướng thu hẹp. Tuy nhiên, cầu về ngoại tệ để trả nợ ngân hàng sẽ gia tăng vào các tháng cuối năm.
    Còn theo TS Võ Đại Lược, giá VND cao hơn trong điều kiện tỷ giá dường như cố định. Trong khi đó, kỳ vọng lạm phát ở Việt Nam luôn cao hơn mức lạm phát ở Mỹ, nhưng tỷ giá giữa VND/USD luôn cố định. Năm 2010, NHNN đã điều chỉnh hạ giá VND 2 - 3%, nhưng không thấm gì so với mức tăng giá VND trong nhiều năm.
    "Mọi người đều muốn tỷ giá ổn định để thuận tiện cho các tính toán, kinh doanh, song ổn định tỷ giá trong khi lạm phát ở Việt Nam cao hơn ở Mỹ, chắc chắn sẽ xảy ra giá VND sẽ tăng. Hệ quả, VND cao giá sẽ hạn chế xuất khẩu, khuyến khích nhập khẩu, gia tăng nhập siêu… Thực ra, với giá VND cao như hiện nay, nhà đầu tư kinh doanh xuất khẩu mặt hàng công nghiệp chế biến sẽ phải cân nhắc", ông Lược nói.
    Mặt khác, theo TS Võ Đại Lược, những mất cân đối đáng chú y như cán cân thanh toán thâm hụt trong 6 tháng đầu năm 2010 là 2,84 tỷ USD, cán cân vãng lai thâm hụt 3,87 tỷ USD, dự báo thâm hụt thương mại cả năm 2010 sẽ là 12 tỷ USD, dự trữ ngoại tệ giảm. Nếu những mất cân đối này kéo dài, chậm được khắc phục sẽ dẫn đến rủi ro kinh tế vĩ mô. Trên thực tế thời gian qua, một vòng xoáy đã xuất hiện: VND cao giá, dẫn tới thâm hụt thương mại, giảm sút sự trữ ngoại tệ, buộc phải điều chỉnh tỷ giá.
    Vì thế, rủi ro đối với các khoản vốn vay bằng ngoại tệ là điều khó tránh khỏi, nhất là với doanh nghiệp nhập khẩu, không có nguồn thu bằng USD. Các chuyên gia kinh tế - tài chính cho rằng, sử dụng vốn vay bằng ngoại tệ, các doanh nghiệp cần thận trọng và cần thiết phải sử dụng biện pháp bảo hiểm rủi ro biến động tỷ giá. Các doanh nghiệp nhập khẩu không nên sử dụng quá nhiều vốn vay bằng ngoại tệ.
    Theo các chuyên gia kinh tế, tỷ giá chưa được điều chỉnh thích hợp thì vòng xoáy lại tiếp tục và phải bị động đối phó. Vì thế, cần tạo một cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn và có "rổ tiền tệ" gồm đại diện các đối tác lớn.



    Vân Linh
  3. Tiger99

    Tiger99 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa Not Official

    Tham gia ngày:
    13/07/2010
    Đã được thích:
    1.945
    Xin lỗi, tớ không thể cho bạn vay tiền thêm nữa
    Nếu tính tổng những lần bạn vay tớ cộng với lời hứa rằng mai bạn trả, rằng cuối tuần bạn trả, hoặc 2 tuần nữa bạn trả, thì tớ không biết đây là lần thứ bao nhiêu.
    Trong mọi trường hợp, khi một người bạn hẹn gặp bạn hoặc điện thoại cho bạn thì ngại nhất là khi người đó đề cập đến vấn đề vay tiền.
    Tớ cũng không phải ngoại lệ.
    Tiền nong luôn luôn là vấn đề quan tâm số một của chắc phải đến 99% dân số trên trái đất này. Tiền là một công cụ hữu ích trong cuộc sống nhưng nếu đề cập đến vấn đề tiền nong trong tình bạn, thì chắc cũng phải cơ số ấy phần trăm dân số đồng tình rằng: tiền có thể làm mất bạn.
    Tớ không phải là người nhiều tiền. Xét một cách toàn diện thì tớ bị liệt vào “hộ nghèo” vì đơn giản bố mẹ tớ còn nợ rất nhiều tiền. Còn nếu xét về mặt cục bộ thì tớ tạm gọi là đủ ăn đủ tiêu với số tiền lương cố định hàng tháng mà một công ty TNHH trả lương cho một nhân viên văn phòng làm 8 tiếng mỗi ngày và được nghỉ chủ nhật như tớ.
    Vì biết là tớ không có nhiều tiền nên ít bạn hỏi vay tiền tớ. Tuy nhiên, cũng có một vài bạn hỏi tớ và tớ cũng cho vay. Cũng may là số tiền ấy không nhiều, chỉ dăm ba trăm thôi. Nhiều nhất là gần 2 triệu.
    Các bạn đi vay đều có một đặc điểm chung là khi vay thì rất chân thành. Nghĩa là "tao đang cần tiền gấp để trả cái nọ, bù cái kia", hoặc "bị ******* tóm mà ví thì để quên ở nhà"; "Lương thì công ty cầm vẫn chưa trả" hoặc là "ATM có vấn đề" hoặc là "đứa khác cầm của tao"; "Tao sẽ trả mày cuối tháng này khi lấy được lương hoặc làm lại được ATM hoặc thằng đó trả". Rồi cuối tháng thứ nhất trôi đi, cuối tháng thứ 2 lại về, bạn cũng bặt vô âm tín. Chẳng báo lại với tớ rằng vì sao mà bạn trễ hẹn.
    Rồi khi tớ cần tiền, tớ nhắn tin hoặc gọi điện thoại cho bạn bảo là xem thế nào, gửi cho tớ ít tiền tớ tiêu không thì tháng này tớ cũng teo mất. Bạn bảo ok, nhắn tin cho bạn số tài khoản rồi bạn chuyển cho tớ ngay chiều nay, hoặc sáng mai, hoặc bao giờ tớ không rõ vì bạn cũng không gọi lại và tài khoản của tớ vẫn trống. Và tớ biết rõ rằng bạn cũng có nhiều tiền, vì bạn đi du lịch khá nhiều và tiêu tiền cũng khá xông xênh. Hay tại số tiền ấy quá nhỏ, quá tủn mủn và không đáng để bạn bận tâm nên bạn mới lờ lớ lơ đi?
    Đấy, rồi chả lẽ tớ lại chai mặt gọi điện thoại thêm lần nữa giục bạn cái khoản ấy. Công bằng mà nói ngày trước tụi mình chơi với nhau vô tư nên nếu bảo tớ gọi thêm lần nữa để giục bạn cái số tiền lắt nhắt ấy, tớ hơi ngại. Cơ mà không phải tớ ngại mà thực sự là tớ sợ mất tình bạn. Tớ e bạn sẽ nghĩ tớ tủn mà tủn mủn, có một tý tiền thôi mà cũng phải đòi hoài. Nhưng, tớ là người lao động và tớ cũng quý công sức mình bỏ ra như thế. Tớ im lặng không có nghĩa là tớ đồng ý để bạn quên đi số nợ nhỏ nhoi ấy mà chỉ là vì tớ muốn bạn hiểu rằng tớ vẫn muốn giữ bạn. Thế thôi.
    Ngày hôm nay bạn lại hỏi vay tiền tớ. Nói thật tớ vẫn đủ tiền để tiêu đến cuối tháng. Chỉ đủ thôi. Tớ có thể cho bạn vay rồi vay tạm một ai đó trong công ty để tiêu, rồi đầu tháng lĩnh lương mới và trả họ. Thế nhưng tớ từ chối. Nếu tính tổng những lần bạn vay tớ cộng với lời hứa rằng mai bạn trả, rằng cuối tuần bạn trả, hoặc 2 tuần nữa bạn trả, thì tớ không biết đây là lần thứ bao nhiêu.
    Nếu tài chính của tớ xông xênh thì tớ cũng sẽ cho bạn vay thôi, vì mình là bạn bè mà. So đo tính toán làm gì mấy đồng ấy. Nhưng nếu tài chính của tớ chỉ cho phép tớ tiêu đến cuối tháng rồi lại chờ lương mới, thì tớ lại không dám để bạn vay để tớ phải đi vay người khác tiêu. Vì thực ra là bạn lỡ hẹn quá nhiều lần rồi. Tớ hiểu hoàn cảnh của bạn nên cho bạn vay nhiều lần và không đòi lại rồi. Nếu cứ tiếp tục như thế, tớ e một điều rằng có lẽ không phải bạn không còn chỗ để vay mà là vì vay tớ thì bạn không phải trả. Như là đang lợi dụng tớ vậy.
    Dù sao thì tớ cũng rất muốn nói với bạn một điều rằng tớ xin lỗi.
    Unknown-blog
  4. sananhtrang1989

    sananhtrang1989 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    29/05/2010
    Đã được thích:
    2

    chết thật, TT 13 lại được điều chỉnh, và điều chỉnh mạnh mới lo chứ. thứ 2 k bán nữa - múc thêm
  5. ttvidai

    ttvidai Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/09/2007
    Đã được thích:
    239
    http://vneconomy.vn/20100924012954331P0C10/fdi-thang-9-xuat-hien-mot-so-du-an-giam-von.htm
    FDI tháng 9: Xuất hiện một số dự án giảm vốn

    [​IMG] E-mail [​IMG] Bản để in [​IMG] Cỡ chữ [​IMG] Chia sẻ: [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG] [​IMG]
    [​IMG] Ý kiến (0)

    ANH QUÂN
    24/09/2010 16:07 (GMT+7)

    [​IMG] Lũy kế đến tháng 9/2010, số vốn FDI cấp mới và tăng vốn đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam là 12,19 tỷ USD, bằng 87,3% so với cùng kỳ 2009.
    Thu hút, giải ngân vốn FDI đều chậm lại trong tháng 9. Vốn đăng ký tăng thêm thậm chí còn sụt giảm, là một điểm đáng lưu ý
    Thu hút, giải ngân vốn FDI đều chậm lại trong tháng 9. Vốn đăng ký tăng thêm thậm chí còn sụt giảm, là một điểm đáng lưu ý.

    Vốn vào chậm lại

    Theo báo cáo của Cục Đầu tư Nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong tháng 9/2010 có 62 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn đăng ký đạt 616 triệu USD. Nếu so với các con số tương ứng của tháng 8 là 72 dự án và gần 2,5 tỷ USD, kết quả đạt được trong tháng qua khá khiêm tốn.

    Tính chung 9 tháng đầu năm, cả nước đã thu hút được 720 dự án đăng ký cấp mới với tổng vốn đăng ký 11,4 tỷ USD, tăng 37,3% so với cùng kỳ 2009. Mức bình quân gần 1,3 tỷ USD/tháng cũng cho thấy phần nào sự “tụt lại” của lượng vốn FDI đổ vào trong tháng 9.

    Tuy nhiên, một hiện tượng “lạ” đã xuất hiện với số vốn FDI đăng ký tăng thêm. Chênh lệch trong báo cáo tháng 9 và tháng 8 của Cục Đầu tư Nước ngoài cho thấy, mặc dù đã thêm được 4 dự án tăng vốn trong tháng qua, nhưng số vốn đăng ký lại hụt đi 4 triệu USD, đưa tổng số vốn đăng ký tăng thêm từ đầu năm đến thời điểm báo cáo chỉ còn 783 triệu USD, chỉ bằng 13,8% so với cùng kỳ năm 2009 (tháng 8 là 14,2%).

    “Đã xuất hiện một số dự án giảm quy mô vốn đầu tư, như dự án Công ty TNHH Phát triển quốc tế thế kỷ 21 xây dựng khu tái định cư tại Tp.HCM giảm trên 31 triệu USD; dự án Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Siêu thị An Lạc tại Tp.HCM giảm 6 triệu USD…”, Cục Đầu tư Nước ngoài cho biết.

    Lũy kế đến tháng 9/2010, số vốn FDI cấp mới và tăng vốn đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam là 12,19 tỷ USD, bằng 87,3% so với cùng kỳ 2009. Nhiều khả năng, chỉ tiêu này sẽ không đạt mục tiêu 22-25 tỷ USD của kế hoạch năm nay.

    Với con số quan trọng nhất, giải ngân vốn FDI trong tháng 9 đạt khoảng 800 triệu USD, đưa tổng số vốn thực hiện 9 tháng đầu năm lên mức 8,05 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2010. Như vậy, mức giải ngân tháng này đã thấp hơn 50 triệu USD so với tháng 8 và kém xa con số giải ngân bình quân 9 tháng đầu năm, gần 900 triệu USD/tháng.

    Tuy nhiên, vẫn có khá nhiều dự án quy mô lớn đăng ký đầu tư vào Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2010, gồm có dự án Công ty TNHH Điện lực AES-TKV Mông Dương vốn đầu tư là 2,1 tỷ USD; dự án Công ty Sắt xốp Kobelco Việt Nam tổng vốn 1 tỷ USD; dự án Công ty TNHH Skybridge Dragon Sea vốn đăng ký 902,5 triệu USD…

    Công nghiệp chế biến hút vốn FDI

    Cũng theo báo cáo của Cục Đầu tư Nước ngoài, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đã liên tục tăng cao trong các tháng gần đây. Với 275 dự án cấp mới, tổng số vốn cấp mới trên 3 tỷ USD và 106 lượt dự án tăng vốn, tổng số vốn đăng ký tăng thêm 653,6 triệu USD đã đưa lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu thu hút FDI trong 9 tháng qua, chiếm 30,2% tổng vốn đầu tư đăng ký.

    Kinh doanh thuận lợi là động lực để dòng vốn FDI đổ vào khu vực sản xuất. Báo cáo của Cục Đầu tư Nước ngoài cho biết, xuất khẩu của khu vực FDI (kể cả dầu khí) 9 tháng đầu năm ước đạt 27,4 tỷ USD, tăng 26,5% so với cùng kỳ và chiếm 53,1% tổng xuất khẩu cả nước.

    Nếu không tính dầu thô, khu vực doanh nghiệp FDI ước xuất khẩu 23,7 tỷ USD, chiếm 45,9% tổng xuất khẩu và tăng 40,1% so với cùng kỳ 2009. Các doanh nghiệp FDI cũng nhập khẩu trong 9 tháng đầu năm ước đạt 25,7 tỷ USD, tăng 42,4% so với cùng kỳ và chiếm 42,8% tổng nhập khẩu cả nước.

    Như vậy, trong 9 tháng đầu năm, khu vực FDI xuất siêu 1,7 tỷ USD, trong khi cả nước nhập siêu 8,6 tỷ USD. Nếu không tính xuất khẩu dầu thô, khu vực FDI nhập siêu trên 2 USD, chiếm 23,5% giá trị nhập siêu cả nước, Cục Đầu tư nước ngoài cho biết.

    Ở các vị trí tiếp sau, chí với 6 dự án đầu tư được cấp phép trong 9 tháng đầu năm 2010, lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí, nước điều hòa đứng thứ 2 với tổng vốn đầu tư đăng ký khá cao 2,94 tỷ USD, chiếm 24,1% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 9 tháng đầu năm.

    Không có nhiều dự án đăng ký thêm, nhưng với quy mô vốn đầu tư trung bình của một dự án khá cao, 144,9 triệu USD/dự án, nên lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ 3. Tổng vốn đầu tư đăng ký trong lĩnh vực này là 2,75 tỷ USD, chiếm 22,6% tổng vốn đầu tư đăng ký.

    Cũng trong 9 tháng đầu năm 2010, đã có 48 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Các nhà đầu tư lớn nhất lần lượt là Hà Lan với tổng vốn đầu tư đăng ký là 2,2 tỷ USD chiếm 18,2% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Hàn Quốc đứng thứ 2 với trên 2 tỷ USD, chiếm 17%; Hoa Kỳ đứng thứ 3 với tổng vốn đăng ký 1,87 tỷ USD.

    Bà Rịa - Vũng Tàu là địa phương thu hút nhiều vốn FDI nhất trong 9 tháng đầu năm 2010 với 2,23 tỷ USD vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm. Tiếp theo là Quảng Ninh, Tp.HCM và Nghệ An với số vốn đăng ký lần lượt là 2,15 tỷ USD, 1,8 tỷ USD và 1 tỷ USD.
  6. niemtinthangloi

    niemtinthangloi Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    10/06/2010
    Đã được thích:
    0
    10/12 ngân hàng thương mại cổ phần đã đảm bảo yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo Thông tư 13, 2 trường hợp còn lại đang cố gắng đảm bảo đúng hẹn.

    Chiều 24/9, Trang tin điện tử Ngân hàng Nhà nước có bản tin cho biết các tổ chức tín dụng ở Hà Nội đang khẩn trương chuẩn bị thực hiện Thông tư 13 về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động và Nghị định 141 về mức vốn pháp định.

    Bản tin này cho biết, về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR), đến nay trên địa bàn đã có 10/12 ngân hàng thương mại cổ phần đạt yêu cầu, 2 ngân hàng còn lại cho biết cũng sẽ cố gắng đủ tỷ lệ vào thời điểm 1/10/2010.

    Theo quy định tại Thông tư 13, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của các ngân hàng thương mại từ ngày 1/10 tới là 9% thay cho quy định 8% hiện nay. Thời gian qua, thị trường cũng chứng kiến những nỗ lực của một số thành viên trong việc chuẩn bị đáp ứng yêu cầu này.

    Tuy nhiên, theo một số thông tin phản ánh gần đây, không loại trừ khả năng có trường hợp đến “hẹn” 1/10 tới vẫn chưa đảm bảo được yêu cầu mới.

    Như tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), những thông tin dẫn ý kiến lãnh đạo ngân hàng này cho biết cần phải thực hiện tăng thêm 33% vốn để đáp ứng (hệ số CAR theo đó được nâng lên khoảng 10%, thay cho mức dưới 9% hiện nay). Tuy nhiên, phải đến ngày 9/11 tới Vietcombank mới tổ chức đại hội cổ đông bất thường để thông qua phương án tăng vốn này (theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước).

    Cũng theo quy định tại Thông tư 13, với điều khoản “Kiểm tra, xử lý vi phạm”, tổ chức và cá nhân vi phạm các quy định của Thông tư, tùy theo tính chất và hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính; bị hạn chế tín dụng, hạn chế mở rộng mạng lưới, nội dung hoạt động; bị đình chỉ có thời hạn hoặc không thời hạn một hoặc một số nghiệp vụ liên quan đến hành vi vi phạm; bị đề nghị truy cứu trách nhiệm theo quy định của pháp luật…

    Về việc thực hiện lộ trình tăng vốn pháp định, bản tin nói trên của Trang tin điện tử Ngân hàng Nhà nước cho biết, Hà Nội hiện có 117 tổ chức tín dụng là pháp nhân đầy đủ thuộc đối tượng thực hiện Nghị định 141. Hiện nay có 6/12 ngân hàng thương mại cổ phần đủ mức vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng. Các ngân hàng cổ phần trong diện phải bổ sung vốn điều lệ đến nay đều đã được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận tăng vốn điều lệ.

    Đối với các công ty tài chính cổ phần, bản tin cho biết hiện chỉ còn 2/7 công ty chưa đủ mức vốn pháp định tối thiểu 500 tỷ đồng; tuy nhiên 2 công ty này đến nay cũng đã trình đầy đủ hồ sơ về phương án tăng vốn điều lệ và có khả năng đảm bảo đúng lộ trình theo qui định.

    Bên cạnh đó, 98/98 quỹ tín dụng nhân dân đều đảm bảo đủ và vượt mức vốn pháp định 100 triệu đồng. Các tổ chức tín dụng Hà Nội chưa đủ mức vốn pháp định đều có kế hoạch tăng vốn điều lệ để đảm bảo mức theo theo Nghị định 141.

    “Cho đến thời điểm này, có thể nói phương án tăng vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng cổ phần ở Hà Nội đều có tính khả thi và đảm bảo theo quy định của Nghị định 141”, bản tin cho biết thêm.

    Ngoài ra, theo bản tin trên, đối với các tổ chức tín dụng cổ phần ở Hà Nội có cổ đông là tập đoàn, tổng công ty Nhà nước trước khi góp vốn, mua cổ phần phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ (theo công văn số 3780/VPCP-ĐMDN ngày 6/6/2008 của Văn phòng Chính phủ) đều đã có phương án xử lý trong trường hợp các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước không được Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho phép góp vốn, mua cổ phần.
  7. tuvan_taichinh

    tuvan_taichinh Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    23/04/2006
    Đã được thích:
    567
    Tôi thích nó rớt mạnh hơn, chỉ có rớt mạnh thì ai muốn bán, bán được, ai muốn mua mua được, và thị trường có thể lùi 1 bước tiến 2 bước
  8. kingLionCK

    kingLionCK Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    27/08/2010
    Đã được thích:
    0
    Tất cả đã sẵn sàng . Thứ hai chúng ta cùng đi tìm ai là tỷ phú [:D]
  9. PHH2010

    PHH2010 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    16/04/2010
    Đã được thích:
    0
    Tỷ phú âm phủ=))
  10. thutrang1289

    thutrang1289 Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    06/05/2010
    Đã được thích:
    0
    Mua vào tuần sau.

Chia sẻ trang này