Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lãi suất khó xuống 13%/năm

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi movingforward, 06/10/2010.

1476 người đang online, trong đó có 590 thành viên. 21:51 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 3569 lượt đọc và 65 bài trả lời
  1. cknews

    cknews Thành viên này đang bị tạm khóa Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    28/08/2010
    Đã được thích:
    0
    Lãi suất huy động tăng rồi !
  2. movingforward

    movingforward Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2010
    Đã được thích:
    0
    Thông tư 13 đã sửa, giảm lãi suất vẫn khó

    Mặc dù Thông tư 13 đã được chỉnh sửa một số nội dung cho phù hợp với tình hình hoạt động của các ngân hàng, việc giảm dần lãi suất tiền đồng theo chủ trương của Chính phủ trong những tháng cuối năm vẫn khó thực hiện.

    Tổng giám đốc một ngân hàng cổ phần tại TPHCM cho biết ông chủ trương từ nay đến cuối năm sẽ giữ mức lãi suất cho vay như hiện nay vì lợi nhuận của ngân hàng trong ba quí đầu năm quá thấp so với kế hoạch đề ra.


    Bên cạnh đó, mức lãi suất huy động hiện nay của ngân hàng cũng không khiến huy động tiền đồng tăng khá nên khả năng giảm tiếp lãi suất huy động tiền đồng sẽ không lớn.

    Phó giám đốc chi nhánh TPHCM của một ngân hàng lớn cho biết rằng sau khi Thông tư 13 đã được chỉnh sửa theo hướng thuận lợi hơn cho các ngân hàng, khả năng lãi suất cho vay tiền đồng giảm xuống là có nhưng mức độ có thể không lớn.

    Trước đó, vào tháng 9, Hiệp hội Ngân hàng đã có cuộc họp với các ngân hàng ở hai miền Nam, Bắc nhằm kêu gọi các ngân hàng giảm lãi suất huy động và cho vay theo chủ trương của Chính phủ. Theo đó, mức lãi suất huy động tiền đồng được hiệp hội kêu gọi giảm xuống còn 11%/năm thay cho mức 11,2% hiện nay, bắt đầu từ 15-10.

    Hiệp hội vào đầu tháng này đã gửi công văn nhắc nhở các ngân hàng thực hiện nhưng theo bà Dương Thu Hương, Tổng thư ký hiệp hội, các ngân hàng sẽ còn phải nhìn nhau trước khi quyết định giảm lãi suất vì e ngại khách hàng sẽ bỏ đi. “Đây là cuộc họp mà các ngân hàng rất do dự khi cân nhắc lời kêu gọi từ hiệp hội”, bà nói.

    Còn trong thực tế, các ngân hàng vẫn liên tục đưa ra rất nhiều chương trình khuyến mãi như tặng quà, bốc thăm trúng thưởng… để thu hút khách gửi tiền. Bên cạnh đó, theo lãnh đạo một ngân hàng cổ phần, tình trạng thỏa thuận lãi suất tiền gửi với khách hàng vẫn còn diễn ra.

    Tuy nhiên, bà Hương cho rằng điều kiện cần để lãi suất tiền đồng có thể giảm thì ngoài việc chỉnh sửa một số nội dung của Thông tư 13 còn phải căn cứ vào tín hiệu lạm phát khi lạm phát đang có xu hướng tăng trở lại trong những tháng cuối năm.

    Lãi suất huy động đô la Mỹ và vàng đang tăng lên cũng khiến việc giảm lãi suất tiền đồng của các ngân hàng trở nên khó khăn vì sẽ khiến việc gửi tiền đồng vào ngân hàng không còn hấp dẫn nữa. Vì vậy, Hiệp hội Ngân hàng cũng đã kêu gọi các ngân hàng giảm bớt lãi suất huy động đô la Mỹ. Theo các ngân hàng, sau khi lãi suất vàng được điều chỉnh tăng lên quanh mức 1%-2%/năm kết hợp với giá vàng tăng cao, tiền gửi bằng vàng ở các ngân hàng đã tăng đáng kể, cho thấy xu hướng chuyển dịch dạng tài sản nắm giữ của người dân.

    Theo báo cáo quí 3 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay tiền đồng ngắn hạn đối với các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện phổ biến ở mức 12-12,5%/năm đối với nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và 12,5-13,5%/năm đối với nhóm ngân hàng thương mại cổ phần; các loại lãi suất cho vay khác phổ biến ở mức 13-15%/năm.

    Báo cáo cũng nhận định rằng mặt bằng lãi suất huy động và cho vay tiền đồng vẫn chưa thể giảm xuống mức Chính phủ chỉ đạo (huy động 10%, cho vay 12%/năm) do áp lực lạm phát có xu hướng tăng, các ngân hàng vẫn gặp khó khăn trong huy động vốn...

    Báo cáo giám sát mới đây của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia gửi Thủ Tướng Chính phủ cho rằng sau khi thực hiện Thông tư 13 chỉnh sửa, vốn ra thị trường có khả quan hơn nhưng về căn bản vẫn bị hạn chế do tỷ lệ cho vay trên huy động không quá 80% đối với các ngân hàng.

    Năm 2009 cho vay từ vốn huy động chiếm khoảng 96,93% toàn ngành ngân hàng, 6 tháng đầu năm 2010 khoảng từ 92,96%, và từ ngày 1-10 đến cuối năm sẽ phải duy trì dưới mức 80% theo Thông tư 13 đã chỉnh sửa. Điều này cho thấy khả năng bơm mạnh tín dụng và giảm lãi suất sẽ khó thực hiện.
  3. movingforward

    movingforward Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2010
    Đã được thích:
    0
    Trả thêm lãi suất bằng khuyến mãi

    Nhiều ngân hàng (NH) vẫn rầm rộ khuyến mãi, tặng lãi suất (LS), rút thăm trúng thưởng... dù sát thời hạn giảm LS huy động xuống 11%/năm theo đồng thuận với Hiệp hội NH. Trong khi đó, có thêm NH quốc doanh giảm LS cho vay.

    Hình thức phổ biến nhất là tặng lãi suất. Một NH nhỏ có trụ sở tại quận 1, TP.HCM tặng LS thưởng 1,5%/năm nếu gửi kỳ hạn ba tháng và người gửi tiền cam kết không rút trước hạn. Số tiền thưởng sẽ được trả ngay khi gửi tiền. Trong khi đó nếu gửi theo chương trình “Rút vốn linh hoạt” duy trì đến cuối kỳ sẽ được thưởng LS 1,44%/năm. Như vậy LS thực trả lên đến 12,7%/năm.


    Chương trình rút thăm trúng thưởng tại NH này đã chấm dứt, bù lại LS thưởng tăng thêm khoảng 0,3%/năm so với đầu tháng 8.

    Một NH khác không còn hình thức tặng phiếu cào trúng ngay nhưng quy thành hiện vật tương ứng theo từng mức gửi tiền. Một NH nhỏ tại quận 5 cho biết mới đây LS các kỳ hạn đã tăng lên mức tối đa 11,2%/năm, người gửi tiền sẽ được nhận quà tặng, riêng LS thưởng NH sẽ có thỏa thuận riêng. Một NH cổ phần lớn quy tiền thưởng ra... vàng với mức thưởng cao nhất lên đến 3 chỉ vàng, tương đương 10 triệu đồng.

    Có NH trả LS cao thông qua kỳ phiếu. Mới đây NH Nam Á thông báo phát hành 2.000 tỉ đồng kỳ phiếu ghi danh bằng VND, thời hạn đến ngày 25-11. LS lên đến 11,19%/năm. Trường hợp mua kỳ phiếu VND mệnh giá từ 10 triệu đồng sẽ được tặng LS thưởng 0,96%/năm. Như vậy dù tới đây các NH phải giảm LS xuống 11%/năm nhưng người gửi tiền vẫn còn kênh gửi tiền LS lên đến 12,15%/năm.

    Tính đến chiều 11-10 chưa có thêm NH nào giảm LS huy động. Theo tổng giám đốc một NH, vẫn chưa đến hạn theo cam kết với hiệp hội, hơn nữa nhiều NH nhỏ ráo riết khuyến mãi nên nếu giảm LS sớm sẽ mất khách hàng.

    Trong khi đó, NH Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB) vừa giảm LS cho vay với một số đối tượng. Mức giảm cao nhất lên đến 20% so với LS cùng loại. Tuy nhiên, khách hàng phải cam kết chuyển doanh thu từ hoạt động kinh doanh về NH, đồng thời phải sử dụng tất cả sản phẩm dịch vụ của NH. Đối tượng được ưu đãi bao gồm: vay vốn xây dựng khu công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, khu dân cư trọng điểm.

    Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đã sử dụng sản phẩm dịch vụ của NH và có doanh số hoặc số dư tiền gửi bình quân tương đương dư nợ vay. Bên cạnh đó NH cũng giảm LS với khách hàng cá nhân có số dư tiền gửi bình quân hằng quý từ 500 triệu-1 tỉ đồng tùy địa bàn trú đóng, thời hạn đã gửi tiền ít nhất 180 ngày.

    NH Phát triển nhà TP.HCM (HD Bank) dành 2.000 tỉ đồng tài trợ vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh cà phê đảm bảo món vay bằng chính cà phê thành phẩm, LS ưu đãi, giải ngân ngay trong ngày. Đồng thời miễn phí một số dịch vụ, hỗ trợ ngoại tệ thanh toán...

    Theo bà Dương Thu Hương - chủ tịch Hiệp hội NH, đến ngày 15-10 các NH phải giảm LS huy động nhưng hiện nhiều NH còn “nhìn nhau” vì sợ mất khách hàng. Bản thân hiệp hội chỉ có chức năng kêu gọi các NH đồng thuận, còn việc cấp phép khuyến mãi thuộc chức năng của Bộ Công thương
  4. movingforward

    movingforward Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    10/04/2010
    Đã được thích:
    0
    Đồng nội tệ và câu chuyện niềm tin

    Câu chuyện lạm phát, tỷ giá trong vài năm trở lại đây luôn là chủ đề quan tâm của các giới, từ nhà quản lý, chuyên gia kinh tế cho đến dân thường. Gần đây, câu chuyện này lại được “hâm nóng” khi chỉ số lạm phát tháng 9 tăng đột biến, tỷ giá USD/VND tăng mạnh, nhất là trên thị trường tự do.

    Những dấu hiệu này thêm một lần dấy lên nỗi lo mất giá tiền đồng trong dân chúng. Hệ quả là chỉ số giá và tỷ giá kỳ vọng tăng lên, làm cho nỗ lực hạ mặt bằng lãi suất trở nên khó khăn hơn và tăng trưởng kinh tế chịu thêm phần hệ lụy. Tình trạng này cứ lặp đi lặp lại khiến cho nhiều người tự hỏi, bao giờ mới hết nỗi lo mất giá tiền đồng?

    Nhiều năm trở lại đây, nền kinh tế nước ta luôn bị “vướng” vào giữa mối quan hệ tăng trưởng và lạm phát. Chúng ta không thể từ bỏ tăng trưởng kinh tế (càng nhanh càng tốt) nếu không muốn bị tụt hậu. Nhưng tăng trưởng nhanh mà kèm theo lạm phát cao thì tăng trưởng đó trở nên vô nghĩa. Vì thế, trạng thái lý tưởng là tăng trưởng cao và lạm phát vừa phải, chẳng hạn, tăng trưởng từ 10% trở lên và lạm phát từ 5% trở xuống.

    Tuy nhiên, gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế và chỉ số lạm phát cứ như “dính” chặt vào nhau mà chưa ai tìm được cách “gỡ” chúng ra, theo đó, cứ “kéo” tốc độ tăng trưởng lên thì tỷ lệ lạm phát lại “bám” lên theo, còn khi muốn “ghìm” chỉ số giá xuống thì tốc độ tăng trưởng cũng chực xuống theo.
    Cơ chế “dính” được phân tích như sau: Khi muốn tăng trưởng ở tốc độ cao hơn, ta thường “kéo” bằng cách mở rộng chính sách tài khóa và/hoặc nới lỏng chính sách tiền tệ. Cả hai đều làm gia tăng áp lực lạm phát do cầu kéo và/hoặc (đặc biệt) do tăng cung tiền.
    Ngược lại, khi lạm phát đang ở mức cao và chúng ta muốn “ghìm” nhanh xuống (cần phải nhanh vì lạm phát cao ảnh hưởng trực tiếp đến dân sinh, dễ gây bất ổn xã hội và nhất là rất dễ chuyển thành lạm phát phi mã, vượt khỏi tầm kiểm soát) thì biện pháp hữu hiệu nhất là thắt chặt tiền tệ, cắt giảm chi tiêu. Hành động này lập tức sẽ kìm hãm tốc độ tăng trưởng.

    Tuy nhiên, điều đáng lo ngại hiện nay là tình trạng lạm phát có dấu hiệu của lạm phát đình đốn, dẫn đến nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng. Lý do là tình trạng lạm phát cao kinh niên đã dẫn đến kỳ vọng lạm phát cao, khiến cho lãi suất bị duy trì ở mức cao trong một thời gian dài và điều này làm suy yếu năng lực tài chính cũng như sức cạnh tranh của doanh nghiệp (cả về giá cả và chất lượng sản phẩm), cũng có nghĩa là làm suy giảm tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế.
    Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam vừa thêm một lần kêu gọi các thành viên đồng thuận và thực hiện hạ lãi suất, trước tiên là hạ lãi suất huy động (từ mức 11,2% hiện nay xuống không quá 11%), trên cơ sở đó, hạ lãi suất cho vay.
    Tuy nhiên, sự đồng thuận này không dễ dàng chuyển thành hành động thực tế bởi vẫn tồn tại sự canh tranh “ngầm” giữa các ngân hàng trong việc huy động tiền gửi, nhất là khi sự kỳ vọng lạm phát lại vừa được nhen lên bởi kết quả thống kê chỉ số giá tháng 9 (dù phần lớn mức tăng chỉ số giá này do việc tăng học phí giáo dục tạo nên), điều làm tăng lãi suất yêu cầu của người có ý định gửi tiền vào ngân hàng.
    Cũng nan giải không kém là bài toán tỷ giá (USD/VND) và sự nan giải này có liên quan đến vấn đề lạm phát cao ở Việt Nam. Tỷ lệ lạm phát cao và cao hơn tỷ lệ lạm phát của Mỹ trong thời gian dài khiến cho trên thực tế, đồng VND bị định giá cao hơn tương đối so với đồng USD.
    Trong khi đó, thâm hụt thương mại lớn, liên tục trong nhiều năm làm thâm hụt cán cân thanh toán và “bào mòn” dự trữ ngoại tệ. Hệ quả của tình trạng này là áp lực tăng tỷ giá luôn thường trực.
    Tuy nhiên, do lượng vay nợ nước ngoài lớn, chủ yếu là đồng USD và đồng JPY (đồng JPY đang tăng giá so với đồng USD), nên việc nới lỏng tỷ giá sẽ khiến số nợ tăng lên tương ứng.
    Thêm nữa, hành động can thiệp tỷ giá (nếu có) của cơ quan điều hành cũng sẽ trở nên khó dự liệu kết quả bởi tình trạng “đô la hóa” cả trong hành vi thanh toán lẫn dự trữ, đặc biệt là dự trữ (hoặc găm giữ) của dân chúng và doanh nghiệp (với khối lượng lớn hơn cả dự trữ của Nhà nước).
    Có thể, vì bối cảnh đó mà Ngân hàng Nhà nước đã chọn giải pháp điều chỉnh tỷ giá dần dần. Nhưng như vậy thì kỳ vọng điều chỉnh tỷ giá của công chúng càng có lý do để xuất hiện và tồn tại.
    Bài toán với các biến số tỷ giá, lạm phát, lãi suất và tăng trưởng dường như không thể giải được bằng các công cụ điều tiết ngắn hạn như chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, bởi vấn đề của bài toán không chỉ bó hẹp trong phạm vi kinh tế vĩ mô mà nằm ở phạm vi rộng hơn, bao gồm cả các lĩnh vực khác trong đời sống kinh tế - xã hội như giáo dục, y tế, hạ tầng kỹ thuật; mô hình tăng trưởng; tình trạng tham nhũng, lãng phí…
    Giải pháp cốt lõi để có thể giải quyết được mối quan hệ lạm phát – tăng trưởng (theo hướng tăng trưởng nhanh và lạm phát thấp) là tăng năng suất sản xuất xã hội, bao gồm năng suất lao động và năng suất của các yếu tố đầu vào khác, qua đó, tăng tỷ suất giá trị gia tăng trên vốn. Nền kinh tế Nhật Bản là một minh họa rõ nét cho câu chuyện này.

    Mặc dù tốc độ tăng năng suất sản xuất quá cao đã khiến kinh tế Nhật rơi vào tình trạng giảm phát kéo dài trong hai thập kỷ qua, nhưng điều đó cho thấy, tác động của năng suất sản xuất tới chỉ số giá như thế nào.
    Thực tế ở nước ta, chất lượng giáo dục, y tế, hạ tầng,… được cho là yếu kém; nạn tham nhũng, lãng phí tràn lan là những nhân tố gây nên tình trạng năng suất thấp của nền kinh tế nước ta (hệ số ICOR cao, khoảng 8 lần trong năm 2009), qua đó, tạo nên áp lực lạm phát do chi phí đẩy.

    Ngoài ra, mô hình tăng trưởng với sự ưu tiên thái quá cho khu vực kinh tế nhà nước, nhất là ưu tiên về vốn nhưng hiệu quả không cao; tăng trưởng thiên về chiều rộng;… càng làm trầm trọng thêm tình trạng này.
    Như vậy, để xử lý “tận gốc” vấn đề lạm phát, phải giải quyết tất cả các yếu tố trên. Cụ thể, nền giáo dục và y tế cần được điều chỉnh để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; cải thiện hạ tầng kỹ thuật, giảm tình trạng tham nhũng, lãng phí… để tiết kiệm thời gian và tiền của; kết hợp với điều chỉnh mô hình tăng trưởng để phân bổ nguồn lực hợp lý hơn.
    Để giải quyết vấn đề tỷ giá, phải hạn chế đáng kể tình trạng nhập siêu nhưng nhập siêu là khó tránh khỏi do cơ cấu kinh tế nước ta thiếu hụt gần như hoàn toàn ngành công nghiệp phụ trợ, bên cạnh sự thiếu vắng các ngành mũi nhọn, có giá trị gia tăng cao, cạnh tranh.

    Sự mất cân đối trong cơ cấu ngành đã khiến chúng ta phải nhập khẩu phần lớn nguyên vật liệu chỉ để gia công với giá trị gia tăng thấp nhưng lại không thể xuất khẩu hết, đồng thời nhập khẩu rất nhiều hàng tiêu dùng. Do đó, muốn hạn chế nhập siêu một cách cơ bản, cần phải cơ cấu lại nền kinh tế, thậm chí điều chỉnh mô hình tăng trưởng.
    Nếu lạm phát được kiểm soát một cách căn bản, ổn định, niềm tin của người dân vào đồng bản tệ sẽ tăng lên và sẽ hạn chế tình trạng “đô la hóa”, qua đó tạo thuận lợi hơn cho các chính sách can thiệp thị trường tiền tệ, thị trường ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước.
    Chừng nào những tồn tại nằm ngoài các yếu tố kinh tế vĩ mô như đã nêu còn chưa được cải thiện đáng kể thì nỗi lo mất giá tiền đồng còn hiện hữu.

    Nhưng để giải quyết những tồn tại đó, không thể trong một sớm một chiều mà cần nhiều thời gian, ít nhất là vài năm.
  5. rachdung

    rachdung Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/01/2010
    Đã được thích:
    0
    anh Rich có biết gì về tiền tệ đâu mà làm. Sắp về quê roài. TTCK sẽ đón chờ ngày đấy bằng những phiên bùng nổ cho một con sóng lớn;
  6. WIN-WIN

    WIN-WIN Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    14/05/2010
    Đã được thích:
    83
    lão giàu di làm ở ủy ban chống lạm phát thì hơn,không nên làm thống đóc khổ dân

Chia sẻ trang này