Tin Phân Tích, Nhận Định TT

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi oneheartonelove, 27/12/2007.

803 người đang online, trong đó có 321 thành viên. 10:20 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 567 lượt đọc và 4 bài trả lời
  1. oneheartonelove

    oneheartonelove Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    05/04/2006
    Đã được thích:
    0
    Tin Phân Tích, Nhận Định TT

    Cuộc chơi của những ?oông lớn?


    Thị trường chứng khoán Việt Nam vừa trải qua 365 ngày biến động không giống bất cứ năm nào trong sáu năm về trước kể từ khi chào đời. Trong sự biến động đặc trưng của năm 2007 nổi lên vai trò của các nhà đầu tư tổ chức, các quỹ trong, ngoài nước. Họ đang dần thể hiện là những ?otay chơi? chính của thị trường.

    Phân cấp ?oông lớn?

    VinaCapital, công ty đang quản lý bốn quỹ đầu tư với tổng số vốn 2,2 tỉ đô la Mỹ, đã trở thành một nhà đầu tư tổ chức mà mọi động thái đáng để các đồng nghiệp cũng như đối thủ canh chừng. Tập trung vốn cho hàng loạt các dự án bất động sản lớn rải đều ở cả Hà Nội, Đà Nẵng, TPHCM, VinaCapital tăng cường mua lại phần hùn của phía Việt Nam và nước ngoài trong các liên doanh khách sạn. Trên thị trường cổ phiếu, các quỹ do công ty này quản lý cũng bỏ vốn, thông qua các cuộc đàm phán riêng lẻ, vào các công ty bất động sản. Suốt cả năm, VinaCapital hầu như chỉ tham gia một đợt đấu giá công khai lớn và trúng 2,35 triệu cổ phiếu của Công ty cổ phần Đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp Sông Đà (Sudico). Còn lại họ không mua bất kỳ cổ phiếu nào trên sàn. Ngược lại, họ bán theo phương thức khớp lệnh và thỏa thuận khá nhiều cổ phiếu, kể cả loại hàng đã nắm giữ từ lâu như KDC. Trên thị trường OTC, ?ophi vụ? thành công đáng ghi nhận của VinaCapital là mua 5% cổ phần Eximbank. Trong danh mục đầu tư của Quỹ VOF, đây là cổ phiếu ngân hàng đầu tiên mà họ có được. Don Lam, Tổng giám đốc VinaCapital, tự tin rằng ba chứng chỉ quỹ mà công ty quản lý (VOF, VinaLand, Hạ tầng Việt Nam) đang là loại chứng khoán có tính thanh khoản cao nhất trong số tất cả các chứng chỉ quỹ của các quỹ đầu tư vào Việt Nam niêm yết ở nước ngoài.

    Ở khối nội địa, hàng loạt quỹ được thành lập với số vốn ít nhất cũng 100 tỉ đồng/quỹ. Con số thống kê chưa đầy đủ cho thấy có chừng 50 quỹ đang hoạt động. Đáng kể nhất là các quỹ do hai công ty quản lý quỹ của Vietcombank và BIDV quản lý. Mặc dù ít được chú ý hơn các quỹ nước ngoài, nhưng các quỹ của Vietcombank và BIDV đã ?othầm lặng? giải ngân những khoản tiền lớn vào các doanh nghiệp, dự án mà giới đầu tư thèm muốn. Các quỹ này chính là sân sau cho các ngân hàng mẹ phát triển chức năng của những ngân hàng đầu tư sau khi quá trình cổ phần hóa hoàn tất.

    Ở khối doanh nghiệp chứng khoán, vị trí đứng đầu của Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) là không thể phủ nhận định cả về mảng đầu tư, môi giới, tư vấn doanh nghiệp cũng như quản lý quỹ. Lợi nhuận sau thuế (năm 2007 là 900 tỉ đồng, và ước 1.200 tỉ đồng cho năm 2008) của SSI đang bỏ xa các công ty đứng phía sau và để lại một khoảng cách mà các đối thủ khó lòng rút ngắn. Ông Nguyễn Duy Hưng, Chủ tịch Hội đồng quản trị SSI, nói mức lợi nhuận trên của SSI có thể đảm bảo đạt được trong bất kỳ hoàn cảnh nào của thị trường, kể cả khi VN-Index có thể về 800 điểm.

    Trạng thái phởn phơ

    Năm 2007 cũng là năm mà lòng tin của giới đầu tư bị thử thách nhiều nhất. Sự biến động giá cổ phiếu niêm yết ngày càng thất thường với những chu kỳ ngắn khó lường. Các chính sách, văn bản quản lý thị trường liên tục thay đổi, thiếu sự phối hợp đồng nhất giữa Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng phải chạy đua với thị trường để kịp thanh tra, kiểm tra, cấp phép thành lập, niêm yết, phát hành. Thị trường đang đi nhanh hơn với những bước sải của thời hậu gia nhập WTO mà cả nhà đầu tư lẫn cơ quan quản lý chưa theo kịp.

    ?oThị trường chứng khoán Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ phát triển, được khắc họa bằng ba đặc điểm: sự không ổn định (volatility), thiếu thông tin (information deficit), trạng thái phởn phơ (euphoria) được tạo nên bởi sự thiếu liên kết giữa giá và giá trị cổ phiếu? - Judd Clark Kinne, Phó giám đốc điều hành kinh doanh khu vực của tập đoàn Kim Eng Singapore, trả lời phỏng vấn TBKTSG. ?oTrạng thái phởn phơ? có lẽ là từ chính xác nhất để lột tả thị trường hiện nay. Trên nền phởn phơ đó, thị trường luôn dậy sóng những phiên điều chỉnh. ?oĐiều đó không thể nào tránh khỏi? - Judd Clark Kinne tiếp tục - ?oQuan trọng là những lần điều chỉnh không phá nát lòng tin của nhà đầu tư trong dài hạn. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước của Việt Nam cần có một cách tiếp cận mang tính khai sáng (enlightened approach) để điều hành thị trường. Một thị trường được điều hành tốt có thể giữ lòng tin lâu dài cho giới đầu tư?.

    Tiếc thay do phải đuổi theo thị trường, giới đầu tư không ít thời điểm tỏ ra mệt mỏi và lòng tin không phải mọi lúc đều bền gan. Một lớp nhà đầu tư cá nhân ra đi, lớp khác lại đến. Vì dù có không ổn định đến thế nào, sức hấp dẫn của chứng khoán Việt Nam vẫn chưa hề mất đi.

    Yếu tố Trung Hoa

    Khó có thể phác họa những nét bằng phẳng cho thị trường chứng khoán năm 2008 bởi yếu tố quyết định sự phát triển của bất kỳ thị trường chứng khoán nào cũng là chính sách tiền tệ, mà chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước hiện chưa rõ ràng. Nhưng nhìn từ bên ngoài, có một yếu tố có khả năng tác động đến chứng khoán trong nước. Chúng tôi tạm gọi đó là yếu tố Trung Hoa.

    Garry Evans, nhà phân tích cổ phiếu chiến lược của HSBC, viết từ Hồng Kông rằng năm tới sẽ có 219 tỉ đô la Mỹ của Trung Quốc được đầu tư vào châu Á. Nếu trừ đi 78 tỉ đô la Mỹ được rót vào Hồng Kông, thì phần còn lại của châu Á sẽ nhận được 141 tỉ đô la Mỹ. Mười hai quỹ đầu tư tương hỗ và tám công ty môi giới sẽ được Chính phủ Trung Quốc cấp phép để phục vụ cho mục đích này. Ngoài ra, Tổng công ty Đầu tư Trung Quốc (Chinese Investment Corp) cũng sẽ đầu tư 67 tỉ đô la Mỹ vào chứng khoán khu vực.

    Một so sánh để thấy sự tác động của yếu tố Trung Hoa lớn đến mức nào. Giá trị mua vào ròng của nhà đầu tư nước ngoài ở các thị trường chứng khoán châu Á năm 2007 (trừ Nhật Bản) là 44 tỉ đô la Mỹ (65 tỉ đô la Mỹ năm 2006). Giả sử dòng tiền Trung Quốc đổ vào chứng khoán châu Á năm tới chỉ là 50 tỉ đô la Mỹ, thì nó đã lớn hơn giá trị mua vào ròng của tất cả giới đầu tư nước ngoài năm nay!

    Một thị trường mới nổi như Việt Nam sẽ nhận được bao nhiêu vốn đầu tư từ Trung Quốc? Chưa ai có thể trả lời chính xác, nhưng đã có những chi tiết dự báo. Tháng 11 vừa qua, MSCI (Morgan Stanley Capital International) đã lập một chỉ số cho các thị trường mới nổi (Frontier Markets Indices) và Việt Nam lần đầu tiên được đưa vào chỉ số này cùng với Kazakhtan, Mauritius, Sri Lanka. ?oChúng tôi hy vọng Việt Nam sẽ hội đủ điều kiện để gia nhập chỉ số chính của MSCI vào cuối năm 2008 nếu việc cổ phần hóa và đưa lên sàn khoảng 5-6 doanh nghiệp có mức vốn hóa thị trường từ 500 triệu đô la Mỹ/công ty trở lên thành công trong năm tới? - Garry Evans nhấn mạnh. Việc gia nhập MSCI là vô cùng quan trọng bởi ở các nước khu vực, trước mặt các tay môi giới bao giờ cũng có hai màn hình: chứng khoán nội địa và MSCI.

    Mối quan tâm đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam là khá hiện thực bởi tính thanh khoản của chứng khoán Việt Nam năm 2007 nhìn chung đã được cải thiện. Tổng giá trị giao dịch bình quân của sàn TPHCM đã gần đuổi kịp mức giao dịch hàng ngày của thị trường Manila (Philippines). Ngoài ra chứng khoán Việt Nam tỏ ra nhiệt tình với dòng vốn nước ngoài. Tuy tỷ lệ nắm giữ một loại cổ phiếu của nước ngoài giới hạn ở mức 49%, song không đi kèm những điều kiện ngăn cản vốn nào. Đây là điểm khá thoáng so với các nước châu Á. Mặt khác, sức tăng trưởng của thị trường Việt Nam từ năm 2003 trở lại đây được đánh giá là ấn tượng. Nếu nhìn dài hạn, Trung Quốc có thêm lý do để chọn Việt Nam. Nếu so với năm 2000, mức tăng trưởng của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay là 823%, so với năm 2003 là 523%, chỉ đứng sau Kazakhtan và Mông Cổ và cao hơn nhiều so với chỉ số MSCI, tương đương là 78,6% và 259,8% (nguồn HSBC Hồng Kông).
  2. oneheartonelove

    oneheartonelove Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    05/04/2006
    Đã được thích:
    0
    ?oNóng? và ?olạnh?

    http://tinchungkhoan24h.com/News/Phan-Tich-Danh-Gia/7205/

    Nói về những chuyển biến của ngành ngân hàng trong năm đầu tiên sau khi gia nhập WTO, có thể phân ra hai loại: nóng và lạnh.

    Ngành ?ohot?: Lợi nhuận vẫn cao

    Ngân hàng, sau một năm vào WTO, vẫn giữ nguyên ?ophong độ?, vẫn là một lĩnh vực nóng, đem lại lợi nhuận cao và đang thu hút nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư. Nhiều ngân hàng vào khoảng cuối tháng 10, tháng 11 đã hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận, bất chấp những khó khăn từ ?oChỉ thị 03?. Tín hiệu đáng mừng là nhiều ngân hàng đã nâng tỷ lệ lợi nhuận từ mảng dịch vụ lên 30%.

    ?oNóng? chuyện IPO, niêm yết

    Cứ nhìn cách người ta quan tâm đến chuyện IPO của Vietcombank tới mức có người bảo là ?ođáng quan tâm hơn lạm phát? thì chúng ta cũng hiểu tình hình IPO và niêm yết trong ngành ngân hàng đáng quan tâm như thế nào. Năm nay càng về cuối năm, càng nhiều ngân hàng cổ phần phát hành cổ phiếu mới, đến mức nhiều người cho rằng mức độ pha loãng giá cổ phiếu của ngành này đã trở nên quá cao. Mặt khác, một ngân hàng thương mại quốc doanh khác là Incombank cũng thông báo kế hoạch cổ phần hóa và IPO vào cuối năm nay và đầu năm sau. Có thể nói, càng về cuối năm, bức tranh IPO, niêm yết, phát hành mới của ngành ngân hàng càng sinh động, nhiều màu sắc, mà có lẽ chủ đạo là màu ?onóng?. Một phần nguyên nhân của gam màu nóng này là do tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt nên các ngân hàng phải nâng cao năng lực quản lý, năng lực tài chính, để duy trì và mở rộng hoạt động, đảm bảo chỉ tiêu lợi nhuận cho năm tới.

    Nhiều ngân hàng mới - cạnh tranh gay gắt

    Cái ?onóng? thứ ba của ngành ngân hàng năm nay là nhìn ở khía cạnh sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt. Tuy nhiên, trận tuyến chủ yếu năm nay không phải ở phía ngân hàng nước ngoài với ngân hàng trong nước như có người lo ngại từ năm ngoái, mà chính là từ phía các ngân hàng trong nước với nhau, cụ thể là khối ngoài quốc doanh.

    Trong cuộc cạnh tranh năm nay, có vẻ càng về cuối, khối ngân hàng thương mại nhà nước càng mất thị phần, khối ngân hàng nước ngoài chưa có những bước đột phá mạnh như nhiều người dự đoán, còn khối ngân hàng thương mại cổ phần đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị phần cao hơn, chiếm khoảng 26% dư nợ toàn hệ thống tính đến khoảng giữa quí 4.

    Ở khía cạnh ?ochìm? hơn của cuộc cạnh tranh, điểm đáng chú ý là năm nay khối ngân hàng thương mại cổ phần đón nhận sự gia nhập của nhiều ngân hàng mới với tiềm lực tài chính mạnh, do các tập đoàn, công ty lớn liên minh thành lập. Nhiều ngân hàng thương mại cổ phần và quốc doanh sẽ mất đi một lượng khách hàng quan trọng, và nhiều nhân sự chủ chốt của các ngân hàng này cũng sẽ bị thu hút đi sang ngân hàng mới. Như vậy, thực chất, cái ?onóng? của cuộc cạnh tranh năm nay trong lĩnh vực ngân hàng chỉ mới là ?okhúc dạo đầu?, sẽ còn kéo dài rất lâu và dự kiến còn tăng lên rất nhiều trong năm sau.

    Một phần chìm nữa là cạnh tranh từ các ngân hàng nước ngoài. Năm nay, từ số liệu về thị phần, lợi nhuận, sản phẩm, người ta chưa thấy rõ một sức ép cạnh tranh mạnh mẽ như nhiều người dự đoán từ năm ngoái. Nhưng thực tế, nếu nhìn vào những gì mà các tên tuổi đã nhiều năm ở Việt Nam tiêu biểu như HSBC, Citibank và ANZ đang và sẽ làm, bao gồm tham gia cạnh tranh cho vay nhà đất, Citibank thiết lập mạng lưới thanh toán qua Công ty Dịch vụ tiết kiệm bưu điện hay ANZ dự kiến mở hơn 10 chi nhánh trong năm 2008 thì ta cũng thấy, khối ngân hàng nước ngoài, sau một năm Việt Nam vào WTO, chỉ mới đi những bước chuẩn bị âm thầm mà mạnh mẽ. Năm đầu tiên sau WTO, trong cái nhìn của họ, có lẽ, chỉ mới là bước chuẩn bị. Sự cạnh tranh mạnh mẽ mà chúng ta chờ đợi, có lẽ sẽ đến, có thể không ?okhủng khiếp? như nhiều người sợ, nhưng sẽ không dễ dàng.

    ?oSốt? nhân sự

    Chưa bao giờ vấn đề nhân sự cho lĩnh vực tài chính ngân hàng lại nóng, đúng ra là ?osốt?, như hiện nay. Cái nóng này phần nào bị thúc đẩy bởi cái nóng về cạnh tranh, và chủ yếu mang tính chất tiêu cực vì nó bộc lộ sự thiếu chuẩn bị của ngành ngân hàng cho một sự phát triển mang tính bùng nổ. Sự xuất hiện của các ngân hàng mới cùng với sự phát triển và mở rộng mạnh mẽ của các ngân hàng trong và ngoài nước đã tạo ra một bước nhảy vọt về nhu cầu nhân sự (cả cấp cao và cấp thấp). Trong khi đó, nguồn cung về nhân sự vẫn chưa có sự phát triển đáng kể nào cả về chất và lượng. Theo quy luật kinh tế thông thường, khi cầu vượt quá cung thì sẽ đẩy giá cao lên nhằm làm giảm cầu để cân bằng thị trường nhưng đằng này ?ogiá? của nhân sự trong lĩnh vực này mặc dù đã tăng lên nhưng cầu vẫn không hề giảm.

    Nhiều ngân hàng đã nâng mức lương và đưa ra những chế độ đãi ngộ hấp dẫn như được mua cổ phiếu với giá ưu đãi nhằm thu hút nhân lực, ?ochiêu dụ? nhân tài từ ngân hàng khác, ?olấn sân? sang cả những sinh viên tốt nghiệp ở các chuyên ngành khác nhưng vẫn không đủ nhu cầu. Điều này dẫn đến một cuộc chiến giành giật nhân sự giữa các ngân hàng, một điều không hề tốt cho hệ thống ngân hàng nói chung. Nên nhớ rằng, để vận hành tốt một ngân hàng, cần phải tốn không ít thời gian và chi phí đào tạo đội ngũ nhân viên, nếu nhân viên cứ ?ongười đi, kẻ đến? thì làm sao ngân hàng phát triển. Nhiều ngân hàng đơn lẻ không ổn định, thì hệ thống sẽ ra sao?

    ?oLạnh? mới đáng lo

    Cái ?olạnh? thứ nhất là về sản phẩm ngân hàng. Một năm sau WTO, chúng ta dường như không cảm nhận được một đột phá nào về sản phẩm ngân hàng, quanh đi quẩn lại vẫn là những cải tiến cho những sản phẩm đã có. Những sản phẩm tài chính cá nhân phổ biến ở các nước khác, kết hợp những biến động từ đầu tư, giá cả vào sản phẩm ngân hàng truyền thống như sản phẩm phức hợp (structured products), hợp đồng hưởng chênh lệch (CFD)... đều không có, còn sản phẩm phái sinh thì chả thấy phát triển gì. Nếu cho rằng tại những cái đó cao cấp quá, mình không phát triển được, thì e rằng không hợp lý. Những cái này nước người ta phát triển đã nhiều năm, nhiều nước châu Á như Hàn Quốc, Singapore đều có, mình không có, nghĩa là mình đi sau quá lâu, và còn đang... muốn tiếp tục đi sau.

    Ngay cả những sản phẩm phục vụ thanh toán thương mại điện tử, và những thanh toán thông thường cũng chưa có gì đột phá. So với mức độ nóng của nền kinh tế, thì những con số về tỷ lệ người dùng thẻ tín dụng, dịch vụ thanh toán thẻ, tiện ích hỗ trợ giao dịch điện tử... dường như chưa tương xứng. Một minh chứng nữa của việc chậm trễ và thiếu nhạy bén là trong giai đoạn vàng tăng giá, dường như chỉ có ACB đưa ra sản phẩm mới để thích ứng với tình hình. Các ngân hàng khác, kể cả nhiều ngân hàng có tiềm lực và kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh vàng và ngoại tệ, tỏ ra quá thận trọng và thụ động trong việc thiết kế sản phẩm mới.

    ?oLạnh? thứ hai là về khía cạnh pháp lý để quản lý ngành ngân hàng. Đã có nhiều bài báo công khai chỉ rõ cái hạn chế của việc dùng ?onghị định thay luật?, dùng ?ogiấy phép con? dưới dạng các quyết định, chỉ thị trong quản lý ngành ngân hàng. Đó là chưa kể cách chúng ta quản lý ngành ngân hàng theo kiểu ?omột cho tất cả?, bất kể ngân hàng tiềm lực mạnh, yếu, năng lực quản trị rủi ro, lợi nhuận thế nào. Tình hình như vậy cho thấy chúng ta lúng túng và đi sau diễn biến thị trường khá xa trong quản lý. Điều này là hết sức nguy hiểm đối với ngành ngân hàng, một lĩnh vực nhạy cảm và rủi ro.

    Bốn điểm nóng, hai điểm lạnh, có vẻ như ngành ngân hàng Việt Nam vẫn đang phát triển thuận lợi, nhưng lại hàm chứa nhiều sóng ngầm. Khi nào mà nhiều mặt ?olạnh? hơn xuất hiện, và những cái ?onóng? trở nên tiêu cực hơn, thì đó là lúc ngành ngân hàng nảy sinh vấn đề nghiêm trọng. Hy vọng chúng ta biết lo từ bây giờ để tránh trường hợp đó.

    Chưa bao giờ vấn đề nhân sự cho lĩnh vực tài chính ngân hàng lại nóng, đúng ra là "sốt", như hiện nay. Cái nóng này phần nào bị thúc đẩy bởi cái nóng về cạnh tranh, và chủ yếu mang tính chất tiêu cực vì nó bộc lộ sự thiếu chuẩn bị của ngành ngân hàng cho một sự phát triển mang tính bùng nổ.


  3. oneheartonelove

    oneheartonelove Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    05/04/2006
    Đã được thích:
    0
    Câu hỏi lớn về Room


    Gần 20 tỷ USD là tổng giá trị danh mục đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) trên thị trường chứng khoán chính thức và không chính thức tại Việt Nam, tính đến giữa tháng 12/2007. Đây là con số được UBCK thống kê dựa trên báo cáo của các thành viên lưu ký trong và ngoài nước.

    Bóc tách trong 20 tỷ USD giá trị đầu tư của nhà ĐTNN hiện nay, UBCK cho biết, có 7,6 tỷ USD được ghi nhận trên thị trường chính thức (HOSE và HASTC), phần còn lại được thực hiện trên TTCK tự do. Nếu so với lượng vốn ĐTNN chảy vào TTCK Việt Nam tính đến thời điểm cuối năm 2006 là 2,3 tỷ USD, thì năm 2007 đáng được gọi là năm đột phá trong thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI).

    Một so sánh nữa cho chúng ta thấy độ lớn của dòng vốn FPI trong năm nay. Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì năm 2007 là năm lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chảy vào Việt Nam cao nhất từ trước đến nay, với 20,3 tỷ USD. Đó là kết quả của nhiều sự cải cách trong suốt 20 năm thực thi Luật Đầu tư nước ngoài.

    Về lượng, gần 20 tỷ USD vốn FPI so với 20,3 tỷ USD vốn FDI không có nhiều sự khác biệt, cho thấy một thành quả đáng ghi nhận của TTCK Việt Nam năm 2007. Nhưng đằng sau kết quả này, công tác thu hút và quản lý dòng vốn ngoại trên TTCK còn nhiều vấn đề phải bàn, nhất là câu chuyện về tỷ lệ sở hữu tối đa của nhà ĐTNN trong DN (room), dư luận đã nói cả năm nay vẫn chưa đâu vào đâu?



    WTO và quyền mua cổ phiếu của người nước ngoài

    Ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Sự kiện này cộng với nhiều sự kiện kinh tế - chính trị lớn khác diễn ra tại Việt Nam trong cùng thời kỳ đã tạo nên sức mạnh cộng hưởng, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Hàng chục tỷ USD vốn FDI và FPI cùng đổ vào Việt Nam trong năm 2007, góp phần vào việc thay đổi cục diện kinh doanh của nhiều DN, thiết lập vị thế mới cho TTCK và đóng góp không nhỏ vào sự tăng trưởng của nền kinh tế nước nhà.

    Năm 2007 sắp đi qua và một cam kết hết sức quan trọng khi Việt Nam gia nhập WTO cần được quan tâm và bàn luận lúc này là cam kết nới rộng tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà ĐTNN trong các DN thuộc ngành dịch vụ tại Việt Nam. Biểu cam kết về dịch vụ của Việt Nam đề cập: nhà ĐTNN được phép mua không quá 30% vốn cổ phần của một DN trong nước và quy định này sẽ được xoá bỏ sau 1 năm, kể từ ngày Việt Nam gia nhập WTO. Thời điểm 11/1/2008 đang cận kề. Vậy chúng ta sẽ ứng xử như thế nào với cam kết nêu trên?

    Một loạt câu hỏi về room đã được một số chuyên gia đặt lên bàn cân. Nếu phải xoá bỏ tỷ lệ khống chế mua cổ phần của nhà ĐTNN trong DN ngành dịch vụ thì sẽ xoá như thế nào, xoá bao nhiêu? Các DN ngành sản xuất (do không đề cập trong WTO) thì room cho nhà ĐTNN có điều chỉnh không, điều chỉnh như thế nào? DN vừa hoạt động sản xuất, vừa cung cấp dịch vụ (hầu hết các DN lớn đều thực hiện cả 2 mảng này) thì quy định về room sẽ phân định ra sao? DNNN hoạt động trong ngành dịch vụ khi cổ phần hoá có chịu sự điều chỉnh của cam kết WTO nói trên không?...

    Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về room có thể chia làm 2 mảng. Mảng thị trường chính thức có Quyết định 238/2005/QĐ-TTg (trong đó quy định room cho nhà ĐTNN tối đa 49%, trừ DN ngành ngân hàng). Mảng thị trường tự do (cổ phiếu của các DN chưa niêm yết) có nhiều văn bản điều chỉnh như Luật Đầu tư, Quyết định 36/2003/QĐ-TTg, Nghị định 139/2007/NĐ-CP; cam kết của Việt Nam gia nhập WTO? Tuy nhiên, nhiều quy định trong các văn bản kể trên chưa khớp nhau. Dễ nhận thấy nhất là sự khác biệt giữa Quyết định 36 khi quy định room trong DN chưa niêm yết là 30%, còn Nghị định 139 cho phép mở room đến 100% trong loại DN này (trừ một số trường hợp). Hiện nay, Nghị định 139 chưa có hướng dẫn cụ thể để thực hiện, gây ra sự lúng túng của các thành viên thị trường trong thực thi quy định mới. Sâu hơn một chút, một số ngành không có trong biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ (tại WTO) như phát thanh, truyền hình? theo quy định của Nghị định 139 là được mở room đến 100%, nhưng đây lại là những ngành thuộc danh mục hạn chế đầu tư được quy định tại Luật Đầu tư. Vậy room cho những ngành này được phân định như thế nào?



    Cần một nghiên cứu nghiêm túc về room

    Room vốn là một câu chuyện rất nhạy cảm trên TTCK, bởi 2 lần Chính phủ ra quyết định mở room trên TTCK (từ 20% lên 30% và từ 30% lên 49%) là 2 lần TTCK tiếp thêm luồng sức mạnh để bứt phá lên một ngưỡng mới. Trong lúc thị trường suy giảm hiện nay, tâm lý chung của nhiều nhà đầu tư trên sàn là chờ đợi những chính sách mới của Nhà nước để kích thích TTCK, trong đó có chính sách mở room, với hy vọng sẽ được tiếp tục chứng kiến (và hưởng thụ) sự bứt phá ngoạn mục của giá cổ phiếu. Vì vậy, những phát ngôn về room trở nên rất nhạy cảm và dễ gây ra những tác động tâm lý tới thị trường.

    Bối cảnh quy định pháp lý về room hiện chưa thống nhất; thị trường dễ phản ứng thái quá với loại thông tin này, đang đặt ra một đòi hỏi lớn với cơ quan quản lý, đó là phải có một sự nghiên cứu nghiêm túc về room. Theo thông tin từ Bộ Tài chính, công việc này hiện được giao cho Cục Tài chính doanh nghiệp. Còn tại UBCK, tỷ lệ sở hữu của nhà ĐTNN trong DN từng là vấn đề được tranh luận để tìm ra một quy định hợp lý cho thị trường cổ phiếu của công ty đại chúng (thị trường đăng ký giao dịch). Tuy nhiên, cũng do các quy định hiện hành có nhiều điểm chưa thống nhất, nên cuối cùng, giải pháp room cho nhà ĐTNN trên thị trường đăng ký giao dịch bằng với room trên thị trường niêm yết (49%, trừ DN ngành ngân hàng) đã được Bộ Tài chính tạm chọn lựa để tạo cơ sở pháp lý cho thị trường này đi vào hoạt động (Quyết định số 3567/QĐ-BTC). Tuy nhiên, TTCK Việt Nam đương nhiên gồm 2 mảng thị trường lớn là thị trường được quản lý và thị trường tự do, nên vấn đề về room cần được giải quyết rốt ráo trên cả 2 thị trường này.

    Một lý do nữa buộc các cơ quan liên quan cần để tâm hơn đến việc sớm ban hành một quy định thống nhất về tỷ lệ sở hữu của nhà ĐTNN trong DN Việt Nam là khả năng nhà ĐTNN dựa vào văn bản pháp lý có hiệu lực quốc tế (cam kết tại WTO) để phản ứng với các quy định đang áp dụng tại Việt Nam về vấn đề này.

    Tham khảo của ĐTCK đối với một số tổ chức đầu tư lớn đang hoạt động tại Việt Nam cho thấy, họ không quá bức bối với tỷ lệ khống chế đầu tư hiện nay và cho rằng, tại nhiều DN, room cho nhà ĐTNN còn chưa được lấp đầy (chỉ có khoảng 20 DN niêm yết trong số 240 DN niêm yết đầy room). Sức ép mở room từ các tổ chức ĐTNN đang hoạt động tại Việt Nam là không lớn. Tuy nhiên, theo một số luật sư, khả năng nhà ĐTNN phản ứng với sự bất nhất trong quy định về room tại Việt Nam vẫn có thể xảy ra. Tâm lý chung của nhà ĐTNN khi đến Việt Nam là muốn được đầu tư, kinh doanh trong một môi trường minh bạch, bình đẳng và ổn định về pháp lý.

    Trong bối cảnh TTCK Việt Nam đã xác lập được vị trí trong nền kinh tế và được coi là một trong những thị trường mới nổi hấp dẫn bậc nhất thế giới, ngoài việc quản lý, điều hành, một nhiệm vụ quan trọng khác là phải duy trì và phát triển hình ảnh TTCK Việt Nam trên trường quốc tế. Có lẽ đã là khá muộn để cơ quan có thẩm quyền bắt tay xây dựng một văn bản mới về room, và vì thế chúng ta không nên muộn thêm nữa, khi chỉ còn hơn 10 ngày nữa là kỷ niệm 1 năm ngày Việt Nam gia nhập WTO.



    Theo thống kê của UBCK, số lượng tài khoản giao dịch của nhà ĐTNN trên TTCK hiện nay khoảng 7.500 tài khoản, trong đó có khoảng 300 tài khoản của nhà đầu tư tổ chức, tăng gấp 3 lần so với năm 2006. Nhà ĐTNN hiện đang nắm giữ từ 25-30% số cổ phần của công ty niêm yết và doanh số giao dịch của loại nhà đầu tư này chiếm khoảng 18% giao dịch toàn thị trường.
  4. thantai007

    thantai007 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    20/06/2007
    Đã được thích:
    0
  5. oneheartonelove

    oneheartonelove Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    05/04/2006
    Đã được thích:
    0
    Tạo sức cầu mới


    Cùng lúc phiên đấu giá Vietcombank diễn ra, thị trường chính thức cũng bắt đầu tìm lại ?omàu xanh hy vọng?. Chỉ số VN - Index phiên giao dịch ngày 26/12/2007 đã lên 5,94 điểm, đạt 924,37 điểm. Động thái này đã thắp lên niềm hy vọng trong các nhà đầu tư về một hình ảnh tươi sáng của thị trường sau khi đợt đấu giá Vietcombank kết thúc, cũng như sau đợt nghỉ Tết Dương lịch 2008.

    Sức nóng của không khí đấu giá cổ phiếu Vietcombank cũng khiến các nhà đầu tư trên sàn chính thức ngày càng trở nên hứng khởi. Cho dù kết quả đấu giá của Vietcombank được dự đoán là không cao, nhưng đến 16h00 ngày 26/12/2007, theo công bố của Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (HoSE), lệnh đặt mua cao nhất đối với Vietcombank đã lên tới 191.000 đồng/cổ phiếu.

    Sự hứng khởi của thị trường ngày 26/12/2007 thể hiện rất rõ trong suốt phiên giao dịch. Nếu như mở đầu phiên giao dịch, nhiều nhà đầu tư vẫn còn tâm lý e dè, thì càng về cuối phiên, tâm trạng phấn chấn càng biểu hiện rõ. Đợt khớp lệnh đầu tiên diễn ra khá tẻ nhạt, thậm chí VN - Index còn giảm thêm 1,12 điểm so với phiên trước. Trong khi đó, những phút đầu của đợt khớp lệnh thứ 2 cũng không mấy sáng sủa, khi đỏ vẫn là màu chủ đạo trên bảng điện tử. Thế nhưng, sự hồ hởi chỉ thực sự bùng lên từ những phút cuối của đợt khớp lệnh thứ hai, sau khi những lệnh mua với giá cao ngày càng được tung vào nhiều, đẩy VN - Index liên tục ?oleo dốc? lên tới 924,24 điểm vào cuối đợt khớp lệnh thứ 2 và chỉ thực sự chốt lại với 924,37 điểm sau khi đợt khớp lệnh thứ 3 kết thúc.

    Sức nóng sàn giao dịch ngày 26/12/2007 cho thấy, những dự đoán về sức tăng của thị trường sau đợt nghỉ Tết Dương lịch là rất khả thi. Nếu như trước đợt đấu giá Vietcombank, các ?ođại gia? và các tổ chức đầu tư nước ngoài cố tình ?oán binh bất động? với mong muốn có thể mua được cổ phiếu Vietcombank với giá ?omềm?, thì sau sự kiện trên, chắc chắn, sau Tết Nguyên đán, họ sẽ quay trở lại và tạo ra một sức cầu lớn đối với thị trường. Hơn nữa, nhìn lại diễn biến thị trường trong suốt 1 năm qua, VN - Index thường lên điểm mạnh sau những ngày lễ lớn (30/4, 1/5, Quốc khánh 2/9).

    Giải thích cho sự lên điểm sau các đợt nghỉ lễ, nhiều ý kiến cho rằng, sau mỗi đợt nghỉ lễ dài, các nhà đầu tư có thêm thời gian để bình ổn tâm lý. Hơn nữa, lượng vốn khả dụng cũng thường gia tăng từ những nguồn tiền thưởng lễ, Tết. Đặc biệt, giai đoạn đầu năm dương lịch cho đến sau Tết Âm lịch cũng là giai đoạn khả năng tăng giá mạnh nhất trong năm và điều này đã từng diễn ra như một quy luật trong suốt mấy năm vừa qua. Điều này cũng có thể lý giải bởi lượng vốn gia tăng từ những khoản thưởng Tết đầu năm thường cũng lớn hơn nhiều so với những đợt nghỉ lễ khác trong năm. Hơn nữa, giai đoạn gần Tết Âm lịch cũng là lúc lượng kiều hối từ nước ngoài chuyển về nhiều và một phần lớn trong số này cũng được nhiều nhà đầu tư đổ vào chứng khoán.

    Hiện nay, nhóm cổ phiếu được xem là ?ohot? trên thị trường vẫn là các cổ phiếu bất động sản. Tuy nhiên, giá các cổ phiếu này hiện đã khá cao, nên việc tăng giá của các cổ phiếu bất động sản đã niêm yết cũng không được giới đầu tư đặt nhiều kỳ vọng. Trong khi đó, một số ngành khác như thủy sản, hàng tiêu dùng? lại đang được nhiều người quan tâm. Ngay cả cổ phiếu blue - chips của ngành thủy sản là AGF (Thủy sản An Giang) cũng chỉ ở mức trên 80.000 đồng/cổ phiếu, nên có nhiều khả năng tăng cao do mức giá này vẫn còn ?omềm? hơn rất nhiều so với các cổ phiếu bất động sản (với giá ít nhất là trên 100.000 đồng cho đến vài trăm nghìn đồng/cổ phiếu).

Chia sẻ trang này