tin vui cho TTCK viêt nam

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi thachanhisc, 21/09/2010.

113 người đang online, trong đó có 45 thành viên. 03:39 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 4665 lượt đọc và 36 bài trả lời
  1. HANGCONGTY

    HANGCONGTY Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    06/12/2006
    Đã được thích:
    112
    hay
    sắp phi rồi
  2. thachanhisc

    thachanhisc Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    29/03/2010
    Đã được thích:
    0
    Bác nghĩa đang dạy bác NGhèo cách ra TT13 .....=D>=D>=D>
  3. thachanhisc

    thachanhisc Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    29/03/2010
    Đã được thích:
    0
    "Nếu theo Basel III thì đến 2015 mới bắt đầu thực hiện tỉ lệ 6% thì ở Việt Nam hiện chưa thực hiện Thông tư 13 thì đã là 8% rồi". ... Bà Nguyễn Thị Anh Đào, Giám đốc Khối ngân hàng đầu tư, CTCK Beta ..."

    ??? TT 13 bị mổ sẻ nặng nề rồi ,,,,
  4. kingLionCK

    kingLionCK Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    27/08/2010
    Đã được thích:
    0
    Theo hướng tốt là được rồi =D>
  5. UyMinhVuong

    UyMinhVuong Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    30/06/2010
    Đã được thích:
    0
    Tin này em post lên roài hoàng thùy link đây http://f319.com/home/1325860
  6. thachanhisc

    thachanhisc Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    29/03/2010
    Đã được thích:
    0
    Sunday, September 19, 2010

    Basel III


    Ông Lê Xuân Nghĩa, phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, có vẻ khá lạc quan: "...cam kết của các ông chủ Việt Nam hiện cao hơn nhiều so với cam kết của các ông chủ nhà băng phương Tây”. Tại sao vậy? Vì theo ông Nghĩa CAR của các ngân hàng VN đều trên 8% và sẽ tăng lên 9% theo Thông tư 13 trong khi đó yêu cầu của Basel III cho tới năm 2019 mới chỉ là 4.5, 6, và 8% tính theo common equity, tier 1, total equity. Hơn nữa đa số total capital của các ngân hàng VN đều là tier 1, cho nên chưa cần tính đến TT13, qui định CAR hiện tại của VN thậm chí còn chặt hơn cả Basel III chỉ qui định 6%.


    Thật vậy không? Dưới đây là một bảng phụ lục trong thông cáo của Basel III (tôi lấy từ blog của Felix Salmon. Vì chưa có điều kiện đọc bản gốc của Basel nên tôi không chắc những gì Salmon viết, nhưng tôi trust thông tin từ Felix Salmon, ai nghi ngờ có thể vào website của BIS tìm hiểu.):


    [​IMG]


    Ông Nghĩa nói đúng là Basel III yêu cầu CAR tối thiểu cho Tier 1 capital là 6%, nhưng ông không nhắc đến conservation buffer 2.5%. Nếu tính cả buffer này thì CAR cho tier 1 sẽ là 8.5%, nghĩa là các ngân hàng nào có CAR dưới ngưỡng này sẽ bị đặt vào danh sách theo dõi đặc biệt và bị rất nhiều chế tài (không được trả dividend, không được thưởng cho executives). Con số tương đương cho total capital là 10.5%, cao hơn qui định của TT13. Có thể hiện tại total capital của các ngân hàng VN chủ yếu là tier 1, nhưng không thể vì thế mà áp dụng tiêu chuẩn tier 1 cho total capital được. Không thể giả định các ngân hàng sẽ giữ nguyên cơ cấu capital hiện tại, chắc chắn họ sẽ phát triển và nâng dần tỷ lệ tier 2 lên trong tương lai.


    Dòng cuối cùng trong bảng phụ lục bên trên có thêm một buffer nữa, Basel chỉ khuyến cáo từ 0-2.5% và để các ngân hàng trung ương các nước tự quyết định. Tất nhiên NHNN có thể quyết định buffer này bằng 0, nhưng ai lại thế. Ngộ nhỡ ngân hàng trung ương Campuchia quyết định countercyclical buffer của họ bằng 2.5% rồi nói "các ông chủ nhà băng Campuchia có cam kết cao hơn các ông chủ nhà băng VN" thì sao? Nếu cộng thêm 2.5% buffer này thì tier 1 CAR sẽ là 11% còn total capital sẽ là 13%. Vậy NHNN sẽ có thêm thông tư 14, 15,....?


    Chưa hết, Basel III tuy không đưa ra qui định cụ thể nhưng có khuyến cáo các ngân hàng trung ương phải "để ý" hơn các too-big-to-fail, tức là các đại gia trong giới ngân hàng. Nói nôm na là với những ngân hàng lớn có mức độ ảnh hưởng macro cao, lại phải có thêm một cái buffer vài % nữa cho riêng họ. Chẳng mấy chốc tier 1 CAR sẽ lên đến 15, thậm chí 20% như Simon Johnson kêu gọi cho một healthy banking system. Tóm lại với 8 hay 9% CAR của VN, dù cao hơn minimum 6% tier 1 CAR theo Basel III, các quan chức ngân hàng cũng không nên lạc quan về điều này.


    lần này sửa nhiều lắm ... VN tự đại cho mình là an toàn nhất , nhưng lợi nhuận ngân hàng còn đâu , DN phải vay lãi suất cao à!
  7. thachanhisc

    thachanhisc Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    29/03/2010
    Đã được thích:
    0
    Ông giàu thành ông nghèo roài .....!!!



    Ông Lê Đức Thúy nói gì về Thông tư 13?

    [​IMG] [​IMG] "Cần chỉnh sửa những điểm bất hợp lý, không thực tế mà khi áp dụng sẽ không áp dụng được hoặc đẻ ra vô số những rắc rối".

    Thông tư số 13/2010/TT-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 20/5/2010 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động các tổ chức tín dụng, sẽ có hiệu lực thi thành từ ngày 1/10/2010.
    Trước những nội dung trong Thông tư này, gần đây, 14 ngân hàng, công ty tài chính - thông qua Hiệp hội Ngân hàng - đã “phản ánh những vướng mắc mang tính kỹ thuật gửi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước để nghiên cứu, hoàn thiện Thông tư”.
    Mới đây, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước kiểm tra, rà soát các nội dung trong Thông tư 13 và báo cáo Thủ tướng Chính phủ và đề xuất các giải pháp xử lý trước ngày Thông tư số 13 có hiệu lực thi hành.
    Ngay trong chiều 20/8, NDHMoney đã có cuộc phỏng vấn với ông Lê Đức Thúy, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, xung quanh chủ đề về Thông tư 13.
    "Ban hành Thông tư 13 là ý tưởng đúng"
    Trước khi nói sâu hơn về Thông tư 13, xin ông cho biết những nguyên tắc khi tiếp cận thông tư này để làm cơ sở đánh giá và hướng xử lý?
    Trước hết, một hệ thống tài chính cần phải hoạt động một cách an toàn, và cơ quan quản lý nó phải quan tâm đến sự an toàn của hệ thống.
    Do đó, phải đưa ra những khuôn khổ pháp lý cụ thể, minh bạch, chặt chẽ để các tổ chức tín dụng, các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính hoạt động một cách an toàn, lành mạnh và phát triển bền vững.
    Việc ban hành Thông tư 13 là ý tưởng đúng, nó tiếp tục quá trình mà Ngân hàng Nhà nước đã làm trong nhiều năm qua. Từ chỗ Pháp lệnh ngân hàng quy định một cách đơn sơ rằng huy động vốn để cho vay không được quá 20 lần vốn tự có, chuyển đến Luật Các tổ chức tín dụng và Ngân hàng Nhà nước.
    Chúng ta quy định bám vào một số quy định của Basel I, và bây giờ thế giới còn đi xa hơn khi đưa ra tiêu chuẩn Basel II, thậm chí Basel II còn bị cho là vẫn tồn tại bất cập, cho nên phải tiến tới Basel III. Đấy là xu hướng đúng, và hoạt động của hệ thống tín dụng ở Việt Nam cũng phải dần theo chuẩn mực quốc tế.
    Thứ hai, về phía thực tiễn, khi đưa ra những tiêu chuẩn an toàn phải gắn liền với khả năng thực thi nó trong thực tế và kiểm soát được việc thực hiện các tiêu chuẩn đó. Chứ đưa ra mà không kiểm soát được, không vận dụng được vào thực tế thì nó cũng giống như là “đười ươi giữ ống”. Một khuôn khổ có vẻ như đã chặt chẽ nhưng thực tế vận hành chưa chắc đã được chặt.
    Thứ ba, phải tính đến hiệu quả kinh doanh của các định chế tài chính, các định chế tài chính là những doanh nghiệp phải quan tâm đến an toàn, nhưng quan tâm đến an toàn mà không tính đến khả năng hoạt động sinh lời, thì tổ chức đó, một là không tồn tại được, mà không tồn tại được là hệ thống không an toàn; hai là, nếu không tồn tại được họ phải cố để tồn tại, thì họ buộc phải luồn lách, và rất nhiều các rủi ro đạo đức có thể xảy ra.
    Cho nên, khi ban hành một quy định pháp lý nào để quản lý thì phải tính đến yếu tố đó. Đấy là chưa kể một yếu tố cuối cùng phải tính đến, đó là những tác động đến toàn bộ nền kinh tế, sự phát triển của đất nước, sự ổn định vĩ mô và lòng tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng và ổn định giá trị đồng tiền.
    Đó là những nguyên tắc khi ta tiếp cận Thông tư 13.
    "Thông tư 13 có những điểm chưa hợp lý"
    Vậy ông có đánh giá gì về Thông tư 13?
    Thông tư 13 là một nỗ lực theo hướng đưa ra những quy định rõ ràng hơn, cụ thể hơn, chặt chẽ hơn để hướng dần hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đi vào hoạt động an toàn và theo dần với thông lệ quốc tế.
    Và tôi thấy nhiều quy định vừa kế thừa những quy định đã có, vừa có bổ sung, hoàn chỉnh hơn, điều chỉnh những quy định trước đây chưa hợp lý, hoặc chưa được cụ thể. Về nguyên tắc tôi ủng hộ tư tưởng đó.
    Tuy nhiên, tôi nhận thấy Thông tư 13 có những điểm chưa hợp lý, nếu không cân nhắc, chỉnh sửa nó trước khi đem ra vận dụng thì:
    Thứ nhất là không thực hiện được.
    Thứ hai, nếu buộc phải thực hiện thì có những hậu quả bất lợi cho hệ thống và cho nền kinh tế.
    Tôi nghĩ rằng có những ý kiến này khác thông qua những kênh khác nhau. Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước phải rà soát lại, tiếp thu những ý kiến đóng góp để chỉnh sửa thông tư này và trình Thủ tướng trước khi thực hiện.
    Đó là việc nên làm cẩn trọng, vì một quy định, tuy chỉ trong lĩnh vực ngân hàng, nhưng nó nhạy cảm đối với hệ thống mà chúng ta vẫn gọi là huyết mạch của nền kinh tế và có thể phương hại đến cả cơ thể kinh tế, đến sự ổn định kinh tế cũng như ổn định chính trị, xã hội.
    "Nên có lộ trình áp dụng đối với từng ngân hàng"
    Ông có thể nêu cụ thể một vài điểm trong Thông tư 13 mà ông cho là “chưa hợp lý”?
    Tôi không có đủ thời giờ để đi vào chi tiết, nhưng có một số quy định là chưa hợp lý và cần phải chỉnh sửa, nếu không thì khó thi hành.
    Thứ nhất, quy định nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ 8% lên 9%. Một số nước đã đưa lên 12%, thậm chí 15%, Trung Quốc là 11,5%. Nhưng ở Việt Nam tại sao lại đang 8% lại lên 9%? Tôi cho rằng việc quy định như vậy hướng tới thì tốt, nhưng nếu áp dụng từ 1/10, thì các tổ chức tín dụng chưa kịp điều chỉnh các hoạt động của mình, các bố trí nguồn vốn của mình, đã phải đáp ứng điều kiện này. Do đó, tôi cho rằng hiệu lực của Thông tư 13 vào ngày 1/10 trên thực tế là chưa thực hiện được.
    Có thể có một lộ trình và có thể cần phải phân biệt ra đối với những ngân hàng khác nhau, để có những quy định khác nhau, chứ không thể ngay lập tức cả hệ thống phải tuân thủ một quy định như vậy.
    Thứ hai, quy định nguồn vốn cho vay không được quá 80% nguồn vốn huy động, quy định này theo thông lệ quốc tế là không có. Trừ Trung Quốc có quy định tiền cho vay so với tiền gửi không vượt quá 75%. Nhưng ở Việt Nam, quan niệm nguồn vốn và tiền gửi với những quy định trong Thông tư 13 sẽ dẫn đến có nhiều khó khăn trong thực tế.
    Ví dụ, quy định tiền gửi thanh toán của các tổ chức không được tính vào nguồn huy động. Chúng ta thấy tiền gửi để thanh toán của các tổ chức có thể có một tài khoản và khoản tiền để ở các tổ chức tín dụng nhưng không phải phải gửi ở đó là thanh toán ngay, nếu thế chỉ là dịch vụ chuyển tiền thanh toán.
    Còn tiền gửi để thanh toán là khi cần có lệnh thanh toán là ngân hàng phải chi, chứ không đồng nghĩa với việc tiền đó hoàn toàn không đọng lại ở ngân hàng khoảng thời gian nào cả.
    Thế mà trong cả hệ thống với nhiều tổ chức khác nhau thì tiền gửi thanh toán cũng như tiền gửi không kỳ hạn của các khách hàng khác, bao giờ cũng có một khoản tồn số dư và số dư là lợi thế mà các tổ chức tín dụng sử dụng làm vốn để quay vòng mà vẫn bảo đảm khả năng hoạt động thanh toán cho người gửi tiền thanh toán và bảo đảm an toàn cho hệ thống.
    Nếu quy định không được tính vào nguồn thì khoản tiền đó lớn, và những ý tưởng của chúng ta về thực hiện thanh toán qua ngân hàng không chỉ để giảm bớt những tiêu cực khác về lưu thông tiền mặt, mà còn chủ yếu là để biến vốn sử dụng không hiệu quả thành có hiệu quả.
    Nguồn vốn nếu để riêng lẻ từng tổ chức thì nó không thể thành vốn được mà chỉ là khoản để thanh toán, còn khi nó đưa qua ngân hàng, thì nó sẽ có một khoản trở thành vốn tín dụng.
    Ví vụ khác, quy định về đi vay liên ngân hàng, chúng ta nói rằng, tiền vay liên ngân hàng, hay nói chung là đáp ứng những nhu cầu thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, nhưng điều ấy không đủ, bởi vì ở Việt Nam, hay nước ngoài, hệ thống ngân hàng có những ngân hàng bán buôn và những ngân hàng bán lẻ.
    Những ngân hàng ấy cũng có thể chuyển vốn cho những ngân hàng bán lẻ khi mà họ dư vốn thì trách nhiệm quản lý thanh khoản là của tổ chức tín dụng, chứ không phải là biến biến thị trường liên ngân hàng chỉ đơn thuần là điều tiết thanh khoản, tạm thời thiếu thanh khoản cho cho hoạt động tín dụng ngân hàng. Nó phải là một trung gian điều tiết vốn, một cái hồ điều hòa thủy lợi để bảo đảm cắt lũ khi lũ và xả nước khi chống hạn, thì mới tạo cho hệ thống này vận hành một cách suôn sẻ được.
    Tôi nói ví dụ như vậy để hình dung là những quy định đó nếu không minh bạch thì:
    Một là, khi thực hiện sẽ gây ra những khó khăn làm tăng chi phí vốn cho các hoạt động tín dụng.
    Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay giảm từ khoảng 4,5% năm 2005 xuống còn có 2,5% hiện nay. Nghĩa là dưới mức hợp lý để bù đắp chi phí và hoạt động bền vững của hệ thống ngân hàng.
    Nếu chỉ cần làm tăng thêm những chi phí - bởi vì tất cả những khoản đấy không được quy định là tiền vốn tín dụng nhưng mà tổ chức tín dụng khi nhận những khoản tiền ấy thì vẫn phải trả lãi và vẫn phải chi phí để vận hành vốn ấy - thì dẫn đến, theo tính toán của chúng tôi, rất có thể các tổ chức tín dụng chỉ sử dụng được 63% đến 65% tổng nguồn vốn mà lâu nay họ vẫn sử dụng cho hoạt động tín dụng.
    Điều này có nghĩa chi phí về vốn có thể tăng lên khoảng 30%. Khi đó, các tổ chức tín dụng không hoạt động được bình thường và chủ trương giảm lãi suất chắc chắn không thể thực hiện được, mà chỉ có thể là lãi suất phải tăng lên.
    Tổ chức tín dụng hoạt động thua lỗ thì chắc cũng phải đóng cửa phá sản và hệ thống không an toàn. Hoặc tổ chức tín dụng, muốn tồn tại thì phải luồn lách các quy định, ví dụ tiền gửi thanh toán, tài khoản tiền gửi thanh toán sẽ được thương thảo giữa người gửi và ngân hàng để chuyển tên là tiền gửi, nhưng cam kết rằng khi cần thanh toán có thể ra lệnh lấy tiền trong tài khoản đó, thì họ lách được.
    Cho nên tôi cho rằng, đấy là những quy định có thể dẫn đến làm cho chi phí hoạt động tăng lên, mà chưa chắc đã bảo đảm thực sự tuân thủ.
    Hai là, hệ thống các quy định về kế toán của chúng ta còn rất lạc hậu và chưa theo kịp chuẩn mực quốc tế. Cho nên nhiều các khoản chúng ta tính toán chưa phù hợp để đo lường mức độ rủi ro của các hợp đồng tín dụng và ngân hàng. Vì vậy sẽ còn phải làm nhiều việc khác thì mới có thể làm cho quy định này đi vào cuộc sống, ngay cả khi nó đã được chỉnh sửa một cách hợp lý.
    Nói tóm lại, tôi nghĩ rằng Thông tư 13 là một ý tưởng tốt và với việc xem xét một cách nghiêm túc, lắng nghe các ý kiến về chỉnh sửa những điểm bất hợp lý, đồng thời đưa ra một lộ trình áp dụng cụ thể đối với từng ngân hàng, trên cơ sở khám sức khỏe và đánh giá đúng cách xử lý khả năng sử dụng của nó, thì sẽ làm chuyển biến hệ thống ngân hàng theo hướng an toàn, lành mạnh hơn nhưng không gây ra những hậu quả đáng tiếc cho sự ổn định hệ thống, cũng như tăng trưởng kinh tế.
    "Tiền phải sinh ra lời"
    Mới đây, Thủ tướng *************** đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước kiểm tra, rà soát các nội dung trong Thông tư 13, vậy theo ông, có nên có những hướng điều chỉnh gì đối với Thông tư 13?
    Tôi cho rằng, từ nay đến lúc thông tư có hiệu lực, Ngân hàng Nhà nước có đủ thời gian để làm hai việc.
    Một là, chỉnh sửa những điểm bất hợp lý, không thực tế mà khi áp dụng sẽ không áp dụng được hoặc đẻ ra vô số những rắc rối.
    Hai là, cần có một số lộ trình tính toán xem xét thực tế của hệ thống ngân hàng, bởi vì ở Việt Nam có khoảng 100 tổ chức tín dụng, trong đó 30 chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì đơn giản hơn, còn 70 tổ chức tín dụng và công ty tài chính trong nước thì chúng ta đã biết tình trạng và có thể đưa ra những lộ trình cụ thể với từng điều khoản. Đối với tổ chức này thì lộ trình tăng đủ vốn để đạt 9%, đối với tổ chức kia có thể là vấn đề tỷ lệ sở hữu của các cổ đông… để mà xử lý, bởi không thể xử lý ngay lập tức được.
    Ngay cả tiền gửi Kho bạc Nhà nước, nói là không được tính vào nguồn huy động nhưng như vậy thì tiền gửi Kho bạc Nhà nước sẽ để ở đâu? Nếu để ở Ngân hàng Nhà nước thì trong Luật Ngân sách có quy định là tiền gửi Kho bạc thì phải gửi ở Ngân hàng Nhà nước, ở những nơi có chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, vậy những nơi không có, ai sẽ làm dịch vụ này?
    Và Kho bạc Nhà nước tuy là thu để chi, nhưng chúng ta cũng biết là thu chưa phải là chi ngay mà có những khoản chưa thu được đã phải chi, phải ứng, vì vậy tiền gửi của Kho bạc bao giờ cũng có khoản tồn dư nhất định. Với mấy chục nghìn tỷ đồng trên hệ thống ngân hàng, nếu chúng ta không có cách sử dụng nó một cách hiệu quả thì bất lợi cho nền kinh tế.
    Tiền phải sinh ra lời để đem về lợi ích cho người sở hữu tiền và cho nền kinh tế, chứ không phải sinh lời cho những người tìm kiếm tư túi. Nhưng rõ ràng quản lý Nhà nước thì phải hướng đồng tiền ấy sinh lời. Để có điều đó thì phải có lộ trình làm việc với Bộ Tài chính về việc xử lý tiền gửi Kho bạc thế nào để cho họat động đó thông thoáng.
    Nếu từ nay đến lúc Thông tư 13 có hiệu lực mà chưa thực hiện được thì phải đưa ra một lộ trình cụ thể.
    "Tôi không ủng hộ việc đình hoãn"
    Vậy với một số điểm còn "chưa hợp lý" như ông nêu mà chưa kịp hoàn thiện thì có nên giãn hiệu lực thi hành Thông tư 13?
    Tôi không ủng hộ việc đình hoãn thực hiện Thông tư 13, bởi nếu làm như vậy, nó sẽ làm cho hiệu lực quản lý nhà nước kém đi. Nhưng thông tư có điểm bất hợp lý, thì cần chỉnh sửa, còn những điểm chưa thể thi hành được ngay nên đưa ra lộ trình.
    Và như vậy thì được cả uy tín và hiệu lực quản lý Nhà nước, đồng thời cũng để cho các tổ chức, doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi những quyết định đó, có thể điều chỉnh được các tác động một cách phù hợp.
    Duy Cường
    NDHMoney

    Nhận xét Độc giả (4)
    Phát biễu cũa ông Lê Đức Thúy rất hay và cụ thể
    Tuấn Mexico, TP/HCM
    Bài pân tích của Ông Thúy về thông tư 13 rất rõ ràng và có lý . Các ngân hàng cũng đã kiến nghị . Mong Ông Giàu đừng tự ái , hãy lấng nge để dân đực nhờ.
    Nguyễn Nhật Minh, Vũng tàu
    ong giau la ke bat tai len thay the
    xuancuong, tpHCM

Chia sẻ trang này