Tình Hình Thị Trường Hiện Nay :Nhận Định Và Bình Luận

Discussion in 'Thị trường chứng khoán' started by hoanghai01, Jan 31, 2008.

643 người đang online, trong đó có 257 thành viên. 18:21 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này(Thành viên: 0, Khách: 0)
thread_has_x_view_and_y_reply
  1. hoanghai01

    hoanghai01 Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Sep 19, 2007
    Likes Received:
    0
    Tình Hình Thị Trường Hiện Nay :Nhận Định Và Bình Luận

    e mở bát bằng tin này


    Ngân hàng Nhà nước đã công bố hướng sửa đổi việc điều hành chính sách tiền tệ liên quan đến thị trường chứng khoán trong thời gian tới. Trong đó, dư nợ cho vay kinh doanh chứng khoán sắp tới sẽ được áp dụng theo hạn mức dự kiến 15-20% vốn điều lệ, thay vì 3% tổng dư nợ như hiện nay. Ghi nhận ý kiến của các chuyên gia về sự thay đổi này.

    Ông Lê Đắc Sơn (tổng giám đốc VPBank):

    Vốn cho vay sẽ giảm 30%

    Tôi cho rằng nếu áp dụng qui chế cho vay kinh doanh chứng khoán theo hướng điều chỉnh vừa công bố, không những Ngân hàng Nhà nước đang "siết " lại hoạt động này mà chính sách mới cũng thiếu linh hoạt hơn. Chưa có số liệu cụ thể, nhưng theo tính toán của tôi, nguồn vốn cho vay kinh doanh chứng khoán theo hướng điều chỉnh này sẽ giảm khoảng 30% so với con số 3% tổng dư nợ của các ngân hàng.

    Với việc cho vay kinh doanh chứng khoán theo cách cũ (khống chế không quá 3% tổng dư nợ), khả năng biến động của khoản tín dụng này rất lớn, có thể thay đổi hằng ngày tùy theo mức độ "co" hay "giãn" của tổng dư nợ mỗi ngân hàng. Trong khi đó, nếu khống chế mức 15-20% vốn điều lệ, nguồn vốn tín dụng có thể cho vay kinh doanh chứng khoán gần như là một hằng số, không có sự thay đổi. Có thay đổi chăng cũng theo chu kỳ, phải sáu tháng hoặc một năm các ngân hàng mới có thể tăng vốn điều lệ.

    Ông Đinh Quang Nương (chủ tịch HĐQT Công ty CP chứng khoán Vincom):

    Hướng đến thị trường phát triển bền vững

    Nếu xem xét một cách thấu đáo, nguồn vốn tín dụng dành cho hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ giảm trong thời gian tới khi áp dụng hướng sửa đổi cho vay kinh doanh chứng khoán của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, tôi cho rằng đây không phải là "siết" lại hoạt động cho vay kinh doanh chứng khoán, mà là một động thái tích cực của Ngân hàng Nhà nước trong việc xây dựng một thị trường chứng khoán phát triển bền vững.

    Việc khống chế một tỉ lệ cho vay căn cứ vào vốn điều lệ tức là các ngân hàng chỉ có thể cho vay một khoản tín dụng hợp lý nào đó căn cứ trên nội lực của từng ngân hàng, chứ không phải huy động vốn từ đầu này rồi cho vay đầu kia như trước đây. Ngoài ra, cùng với một số ràng buộc khác như tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu..., chúng ta cũng thấy Ngân hàng Nhà nước đang hướng tới việc xây dựng một thị trường chứng khoán phát triển lành mạnh và ổn định.

    Ông Lê Hồng Trường - (chuyên viên phân tích Công ty chứng khoán Kim Eng VN):

    Ngân hàng sẽ "chạy đua" tăng vốn

    Với việc điều chỉnh này không những Ngân hàng Nhà nước đang "siết" lại hoạt động cho vay kinh doanh chứng khoán, mà còn có thể tạo ra cuộc chạy đua tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại, càng gây khó khăn cho thị trường. Theo tôi được biết, trừ Vietcombank, hầu hết các ngân hàng thương mại hiện nay đều có mức vốn điều lệ tương đối thấp. Do đó, trong trường hợp muốn tăng lượng tín dụng cho hoạt động kinh doanh chứng khoán, chắc chắn các ngân hàng này sẽ tăng vốn điều lệ.

    Có thể các ngân hàng này sẽ phát hành thêm cổ phiếu, hoặc sử dụng khoản thặng dư để thưởng cho cổ đông bằng cổ phiếu, cũng có thể trả cổ tức bằng cổ phiếu? Dù bằng hình thức nào, nguồn cung cổ phiếu trên thị trường chắc chắn sẽ tăng mạnh, càng làm loãng giá và gây khó khăn cho nhà đầu tư.

    Theo tôi, trong khi Bộ Tài chính đã công bố một số biện pháp cũng như khuyến cáo giảm cung cho thị trường, việc Ngân hàng Nhà nước đưa ra qui chế này lại đi theo hướng khuyến khích các ngân hàng tham gia "cuộc đua" tăng vốn, tức là tăng cung thị trường.
  2. oneheartonelove

    oneheartonelove Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Apr 5, 2006
    Likes Received:
    0
    Chỉnh Chỉ thị 03: Lợi ngân hàng mới, khó ngân hàng cũ

    http://tinchungkhoan24h.com/luotsongclub/viewforum.php?f=3

    Với phương thức cho vay đầu tư chứng khoán mới, các ngân hàng mới sẽ có ngay một cơ hội lớn, nhưng ngân hàng cũ có thể gặp khó.

    Dự kiến năm 2008, thị trường đón nhận thêm khoảng chục ngân hàng thương mại cổ phần mới. Khi phương thức cho vay đầu tư chứng khoán phương án mới được thông qua, lợi ích sẽ có cho cả hai phía: nhà đầu tư và ngân hàng.

    Trước khi đi vào hoạt động, các ngân hàng mới sẽ ứng xử thế nào với nghiệp vụ cho vay đầu tư chứng khoán? Ngoài yêu cầu quản lý rủi ro, nghiệp vụ này có thuận lợi là nhu cầu cao, giải ngân thuận lợi và lợi nhuận khá nhanh chóng. Nhưng nếu theo Chỉ thị 03, năm đầu tiên, các ngân hàng mới chưa có cơ sở thực tế tổng dư nợ để có thể xác định hạn mức cho vay loại này.

    Một số ý kiến cho rằng hạn mức 3% theo Chỉ thị 03 được xác định theo mục tiêu tổng dư nợ ngân hàng mới đặt ra cho năm đầu tiên. Nhưng đây sẽ là một bước đi thận trọng, bởi thị phần cho vay chưa định hình, tốc độ giải ngân chưa có trong kinh nghiệm? Theo đó, phương thức cho vay mới theo 15 ?" 20% vốn điều lệ thực sự là một hướng mở thuận lợi từ Ngân hàng Nhà nước.

    Với cơ chế mới, các ngân hàng mới hoạt động sẽ chủ động và có thể đẩy mạnh ngay nghiệp vụ cho vay đầu tư chứng khoán, căn theo vốn điều lệ. Đây cũng là hướng mở cho kế hoạch giải ngân, thực hiện mục tiêu lợi nhuận và đặc biệt là tạo và lôi kéo khách hàng về phía mình.

    Mặt khác, cơ chế cho vay mới cũng tạo một thuận lợi lớn đối với nhà đầu tư chứng khoán, xét ở hướng tham gia của những ngân hàng trên. Ngay khi nhập cuộc, những ngân hàng này có ngay khả năng cung ứng hạn mức từ 15 - 20% vốn điều lệ.

    Dự tính tổng vốn điều lệ của những ngân hàng mới dự kiến nhập cuộc trong năm 2008 sẽ đạt trên 10.000 tỷ đồng, trong đó có những thành viên quy mô lớn như Ngân hàng Liên Việt (hơn 3.000 tỷ đồng), tạo ra khả năng cung ứng trên 2.000 tỷ đồng vốn cho nhà đầu tư.

    Đối với gần 10 ngân hàng thương mại cổ phần vừa chuyển đổi từ ngân hàng nông thôn, thị phần cho vay hiện đang khá thấp nên hạn mức cho vay loại này theo Chỉ thị 03 khá hạn chế. Đáng chú ý là trong đó có những thành viên đã và đang chuẩn bị tăng vốn điều lệ lên mức cao.

    Với phương thức cho vay mới, khối này cũng có khả năng cho vay đầu tư chứng khoán cao hơn hiện nay. Như Ngân hàng Sài Gòn Hà Nội (SHB), với vốn điều lệ mới (2.000 tỷ đồng), ?oroom? cho vay có thể lên đến 400 tỷ đồng, trong khi cho vay theo Chỉ thị 03 chỉ được khoảng 150 tỷ đồng (theo ước tính tổng dư nợ năm 2007).

    Tương tự, một số ngân hàng có vốn điều lệ cao như Ngân hàng Đông Nam Á (SeABank ?" 3.000 tỷ đồng), mức cho vay đó có thể lên đến 600 tỷ đồng thay vì chỉ khoảng 350 ?" 400 tỷ đồng theo Chỉ thị 03?

    Xét theo hướng này, nhà đầu tư chứng khoán đang có thêm thuận lợi. Thuận lợi đó cũng đi cùng với kế hoạch tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại cổ phần, nhất là khi phải đáp ứng yêu cầu vốn pháp định từ 3.000 tỷ đồng từ năm 2010.

    Ngược lại, có một thực tế là khả năng cho vay loại này của một số ngân hàng có tổng dư nợ lớn như Sacombank, ACB, Techcombank? trước mắt có thể bị giảm. Từ đây một ?ovô lý? là trong tương lai sẽ xuất hiện tình trạng có ngân hàng hoạt động hiệu quả, năng lực quản trị rủi ro tốt, có kinh nghiệm? nhưng lại chỉ được cho vay đầu tư chứng khoán ở mức thấp hơn những ngân hàng mới, năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động đang cần phải chứng minh; trong khi đây là loại hình cho vay có rủi ro cao. Liệu khi Ngân hàng Nhà nước khi xây dựng phương án có tính đến điều này?

    Mặt khác, dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán của ACB, Sacombank, Techcombank? hiện nay đang đúng theo hạn mức của Chỉ thị 03, nhưng khi ?osoi? theo phương thức mới có trường hợp lại cao hơn 20% vốn điều lệ thì sẽ xử lý thế nào? Từ đây lại là một câu hỏi gửi về Ngân hàng Nhà nước, mà sau đó có thể lại thêm những rắc rối trong thực hiện, ảnh hưởng đến hoạt động của những ngân hàng này, nhất là khả năng phải rút vốn về ?omực thước? mới.
  3. oneheartonelove

    oneheartonelove Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Apr 5, 2006
    Likes Received:
    0
    Đánh giá xu hướng của CP STB

    [​IMG]
  4. oneheartonelove

    oneheartonelove Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Apr 5, 2006
    Likes Received:
    0
    Tâm lý bầy đàn hay trí tuệ đám đông?

    http://tinchungkhoan24h.com/luotsongclub/viewforum.php?f=3

    Trong rất nhiều trường hợp, để đưa ra một quyết định đúng đắn hay giải quyết một vấn đề nào đó thì đám đông thường tỏ ra thông minh hơn là một vài chuyên gia riêng lẻ. Trong TTCK, khi đám đông nhà đầu tư (NĐT) nhận định một cổ phiếu nào đó đang có mức giá hấp dẫn, họ sẽ mua vào, và ngược lại; điều này sẽ khiến giá cổ phiếu đó tăng lên hoặc giảm xuống. Vì vậy, quyết định giao dịch cổ phiếu theo đám đông nhiều khi không phải là một quyết định tồi; dù rằng, hành động này thường được gắn cái mác không mấy dễ chịu: ?otâm lý bầy đàn?.

    Giá nào là hợp lý

    Giá cổ phiếu biến động hàng ngày vì rất nhiều nguyên nhân. Theo trường phái phân tích cơ bản (PTCB), giá cổ phiếu biến động vì lợi nhuận hoặc dự đoán về lợi nhuận của doanh nghiệp có sự biến động. Theo đó thì tất cả những gì ảnh hưởng đến khả năng thu lợi của doanh nghiệp đều làm cho giá cổ phiếu của doanh nghiệp đó biến động. Chẳng hạn, tăng trưởng kinh tế, triển vọng ngành, lạm phát, lãi suất, thuế, công nghệ, cạnh tranh, nhân sự, xu hướng tiêu dùng, hợp đồng mới, dự án khả thi, biến động giá nguyên liệu, thiên tai? Còn theo trường phái phân tích kỹ thuật (PTKT) thì giá cổ phiếu biến động có tính chất chu kỳ và theo những chiều hướng nhất định. Do đó, bằng việc lập biểu đồ giá, khối lượng giao dịch? trong quá khứ có thể cho thấy các dấu hiệu của xu thế thị trường, từ đó nhận biết được xu hướng vận động của giá trong tương lai.

    Trước mỗi thông tin, mỗi sự kiện, hiện tượng? NĐT đều xem xét và đánh giá rằng, nó sẽ tác động đến giá cổ phiếu theo chiều hướng nào, trong bao lâu, mức độ bao nhiêu. Nhưng mỗi NĐT có thời điểm và cơ hội tiếp cận thông tin khác nhau, có nhận định khác nhau nên sẽ có người bán ra và có người mua vào khi giá thị trường cao hơn hoặc thấp hơn so với mức giá hợp lý mà họ xác định. Lý thuyết và thực tế đều cho thấy, nếu bên bán nhiều hơn, khối lượng bán nhiều hơn và mức giá bán thấp hơn so với bên mua thì giá cổ phiếu đó sẽ giảm. Giá sẽ dừng nếu cung cầu đạt đến điểm cân bằng, hoặc tăng nếu mức giá trở lên hấp dẫn một số NĐT khác hoặc chính những người đã bán ra trước đó khiến lượng cầu lại lớn hơn lượng cung.

    Như vậy, nếu xác định được rằng, đám đông NĐT đang nghiêng về bên nào, thì ta có thể đoán được rằng, giá sẽ giảm hay tăng. Nhưng điều này dường như là không thể, bởi chẳng ai lại tiết lộ trước rằng, tôi sẽ bán cổ phiếu này với mức giá này. Nếu có, thì ai đủ khả năng thống kê để biết trước cung cầu sẽ nghiêng về bên nào? Đó là chưa tính đến trường hợp, nhiều NĐT thay đổi quyết định của mình chỉ trong tích tắc, từ bán sang mua, từ bán cao sang bán thấp?, bởi có những sự kiện mới xảy đến, hoặc đơn giản là một ý nghĩ chợt đến: ?oquyết định của mình chưa chính xác?. Do đó, giá cổ phiếu biến động từng giây, và cung cầu cũng chỉ thống kê được sau khi kết thúc phiên giao dịch.

    Mua dựa có hiệu quả?

    Cuối ngày, UBCK đều công bố thông tin về giao dịch trên sàn TP. HCM trên trang web: www.ssc.gov.vn, trong đó có những thông tin mà PTKT coi là ?okim chỉ nam? trong việc dự đoán giá cổ phiếu như tổng số lệnh mua - bán, tổng khối lượng mua - bán của từng mã... Những thông tin này cũng được các nhà PTCB sử dụng nhằm tạo thêm cơ sở cho việc ra quyết định. Thực tế cho thấy, một cổ phiếu tốt vẫn có thể giảm giá mạnh nếu như quyết định mua được đưa ra khi mức giá đang ở vùng đỉnh của mô hình trong PTKT hoặc đang được nhiều NĐT bán ra.

    Chính vì thế, các chuyên gia cũng như NĐT thành đạt thường khuyên rằng: ?oSử dụng PTCB để chọn cổ phiếu đầu tư, sử dụng PTKT để quyết định thời điểm đầu tư. Và chỉ nên đầu tư khi cả PTCB và PTKT cùng đưa ra một kết luận khả thi?. Bởi lẽ, một cổ phiếu có các chỉ số tài chính tốt, như ROE cao, EPS cao, P/E thấp, nhưng khi PTKT chỉ ra rằng, giá cổ phiếu đang ở ngưỡng kháng cự, thì nhiều khả năng NĐT sẽ bán ra. Giá sẽ giảm nếu nhiều NĐT sử dụng PTKT và có chung nhận định rằng: giá sẽ giảm. Khi đó, lượng đặt mua của các NĐT theo trường phái PTCB (hoặc những NĐT theo trường phái PTKT nhưng có nhận định trái ngược rằng, ngưỡng kháng cự sẽ bị phá vỡ) không thể hấp thụ hết lượng bán của các NĐT theo trường phái PTKT hoặc những NĐT đang cần tiền mặt hay tái cơ cấu danh mục mà bán ra.

    Chính vì vậy, giá chứng khoán tăng giảm là do cung cầu chênh lệch có thể nói đã trở thành chân lý. Do đó, nhiều NĐT (biết hoặc không biết phân tích) thực hiện chiến lược mua dựa. Tức là, mua bán dựa theo quy luật số đông (bởi số đông là thông minh!). Khi bên mua (số lượng NĐT đặt mua hoặc khối lượng cổ phiếu đặt mua) có xu hướng lớn hơn bên bán thì họ sẽ đặt mua theo, và ngược lại. Thực tế thì không nhiều trường hợp xu hướng này sẽ kéo dài; thông thường, giá chỉ tăng 1 - 2 phiên là đảo chiều, rồi lại đảo chiều, tạo thành diễn biến hình sin trên đồ thị PTKT.

    Nhưng cũng không ít trường hợp, lượng cầu hoặc lượng cung có sự chênh lệch lớn trong nhiều phiên, và chiến lược mua dựa phát huy tác dụng. Khi đó, PTCB trở nên lạc lõng và tạm thời bị lãng quên bởi hiếm ai có đủ can đảm để mua vào khi giá tăng hàng chục phần trăm chỉ trong vài phiên giao dịch, cách quá xa mức giá mà họ cho là hợp lý (hoặc giá trị thật). Lúc này, ?otrí tuệ đám đông? không đại diện cho trí tuệ của đám đông, bởi lẽ phần lớn trong đám đông có ?otâm lý bầy đàn?, hành động theo phần nhỏ ?otrí tuệ đám đông?. Khi nhìn thấy lượng cầu và mức giá liên tục tăng, các nhà PTKT, các NĐT theo chiến lược mua dựa sẽ nhảy vào khiến tỷ trọng của ?otâm lý đám đông? trong ?otrí tuệ đám đông? ngày càng lớn dần. Đến một lúc nào đó, nó tạo thành cơn sốt, lôi kéo nhiều người tham gia với suy nghĩ, ?otôi có thể bán lại với giá cao hơn cho những người đến sau, vì nhiều người cũng có suy nghĩ như tôi nhưng hành động sau tôi?. Họ không mấy quan tâm đến giá trị thực của cổ phiếu mà chỉ nghĩ đến việc sẽ bán lại nó. Chính vì vậy mà trong cơn sốt, tính độc lập, tính đa dạng, sự xét đoán riêng đều biến mất, thay vào đó là suy nghĩ một chiều của phần lớn NĐT. Bong bóng lớn dần và đến một lúc nào đó sẽ nổ tung. Cuộc sụp đổ chỉ là điều ngược lại của cơn sốt. Tốc độ giảm giá thường nhanh hơn tốc độ tăng giá trước đó và mức giá có thể giảm sâu hơn mức giá trước khi nó bắt đầu tăng lên. Bởi trong cơn sốt, hầu hết NĐT tin chắc giá sẽ tiếp tục tăng, còn trong cuộc sụp đổ, họ lại tin chắc giá sẽ tiếp tục hạ.

    Nhưng những cơn sốt và sụp đổ hiếm khi xảy ra. Thường thì khi giá ?okhá cao?, những người ?oăn chắc?, những người theo PTKT cho rằng giá đã lên đến đỉnh, sẽ bán ra, có thể đồng loạt hoặc có thể từ từ. Tất nhiên, vẫn có người lạc quan cho rằng, giá sẽ còn lên nữa nên không bán ra, ngược lại sẽ tiếp tục mua vào. Chỉ đến khi nào bên bán (hoặc khối lượng bán) nhiều hơn bên mua thì lúc đó sự đảo chiều mới xảy ra. Nếu tất cả cùng có suy nghĩ rằng, giá đã quá cao, sự đảo chiều là tất yếu, thì sẽ không có người mua, giao dịch sẽ không được thực hiện nếu biên độ dao động giá là quá nhỏ so với biên độ mà bên mua cho rằng giá sẽ phải giảm xuống. Nhưng mỗi người đều có suy nghĩ, nhận định riêng, nên trong giai đoạn đảo chiều vẫn có người mua vì họ tin rằng, mức giảm của thị giá như vậy là hợp lý, là bước nghỉ để tăng tiếp, các chỉ số tài chính vẫn rất tốt, tương lai có triển vọng? Xu hướng giảm sẽ chấm dứt nếu tại mức giá đó, cung và cầu không quá chênh lệch. Lưu ý rằng, mức giá hợp lý (hay giá trị thật) chỉ đúng, chính xác hơn là tồn tại, trong một khoảng thời gian nhất định. Và mức giá này không phải được tất cả mọi người đồng ý. Nó chỉ nằm ở đoạn giữa của khoảng giá được cho là hợp lý mà thôi. Những ai cho rằng nó hơi cao thì sẽ bán ra, còn những ai cho rằng nó hơi thấp thì sẽ mua vào.

    Có một thí nghiệm nhỏ như sau: Nhiều người cùng dự đoán về số hạt đậu trong một chiếc lọ. Một số người có dự đoán sát thực nhất, nhưng nhìn chung, mỗi người đưa ra một con số khác nhau và tính trung bình thì số hạt đậu được dự đoán gần đúng với số hạt đậu có trong lọ. Trong TTCK cũng vậy, mỗi NĐT sẽ xác định một mức giá hợp lý cho cổ phiếu. Những ai thấy mức giá hiện tại cao hơn mức giá mà mình dự đoán thì sẽ bán ra, ngược lại thì sẽ mua vào. Chính vì vậy mà giao dịch luôn xảy ra, còn giá cả sẽ tăng hoặc giảm cho đến khi chạm mức giá mà nhiều người cho là hợp lý nhất.

    Nhưng sau một thời gian (có thể là ngày, tuần, tháng, nhưng cũng có thể là phút), mỗi NĐT sẽ xác định lại mức giá hợp lý cho cổ phiếu sau khi có thông tin, sự kiện, hiện tượng mới nào đó có liên quan xảy ra. Và giá cổ phiếu sẽ tăng nếu nhiều người lạc quan nâng mức giá mà mình cho là hợp lý lên, giá cổ phiếu sẽ giảm nếu nhiều người bi quan hạ mức giá này xuống. Vấn đề là chẳng có ai biết được đâu là mức giá hợp lý mà nhiều người dự đoán. Do vậy, ở một khía cạnh nào đó, giá cổ phiếu biến động một cách ngẫu nhiên. Và việc kiếm được lãi do đầu tư ngắn hạn trên TTCK có một phần may mắn trong đó.
  5. oneheartonelove

    oneheartonelove Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Apr 5, 2006
    Likes Received:
    0
    Thị trường và sự táo bạo ?onhạy cảm?
    http://tinchungkhoan24h.com/luotsongclub/viewforum.php?f=3

    Những thành tựu đã đạt được, những khó khăn đang và sẽ phải vượt qua cũng như ý tưởng và chiến lược tương lai của Sở GDCK TP.HCM và TTGDCK Hà Nội qua các cuộc trao đổi với 2 người đứng đầu 2 sàn GD chứng khoán chính thức tại Việt Nam

    ?oNói có sách, mách có chứng?, ông Sinh chứng minh mục tiêu lớn của các DN

    Ông Trần Đắc Sinh
    khi niêm yết đều đạt được. ?o54,4 nghìn tỷ đồng là số vốn DN huy động được qua Sở GDCK TP. HCM. Số tiền cực lớn, mà là tiền thật, vào túi DN, để thực hiện các dự án theo Nghị quyết đại hội đồng cổ đông. Thị trường có tính thanh khoản tốt với 244 nghìn tỷ đồng giá trị chứng khoán mua bán trong năm qua, tính trên giá trị vốn thị trường 259 nghìn tỷ đồng, trong đó trừ đi giá trị cổ phần của nhà nước, của các cổ đông chủ chốt ?onhúc nhích? không đáng kể?, ông phân tích. Nhìn tổng thể, ông Sinh cho rằng năm 2007, thị trường thành công, cả về gia tăng các quỹ đầu tư, các CTCK?

    Tất nhiên, người đứng đầu sàn HOSE cũng không quên chỉ ra nhược điểm lớn của thị trường là, tâm lý đầu tư theo phong trào và sự thiếu đồng bộ trong chính sách của cơ quan quản lý, khó tránh khỏi ở một nền kinh tế đang chuyển đổi - nguyên nhân làm giá cả trồi sụt. Nhưng toát lên trong quan điểm của ông Sinh là niềm lạc quan vào sự phát triển của thị trường, một niềm lạc quan có lẽ không thể thiếu của người đứng đầu sàn giao dịch đang thu hút sự chú ý của cả thế giới. Theo ông, năm 2008, thị trường phải ?ođúp- bồ? năm trước về giá trị vốn hoá, tính thanh khoản cũng phải tăng 50% - 60%, nhiều công ty vươn mình ra sàn ngoại. Vị thế của HOSE đã thay đổi, khi năm 2007 có nhiều lời mời hợp tác của các sàn đại gia đến từ Mỹ, châu Âu, Nhật Bản...

    Nhưng làm sao để TTCK Việt Nam đủ lớn, đủ để sánh bước cùng bạn bè năm châu là câu chuyện được ông ?osếp? sàn HOSE trăn trở. Ý tưởng của ông là chuyển toàn bộ các DN niêm yết từ sàn Hà Nội vào sàn TP. HCM (cho dù rất dễ bị nhầm hiểu là ?ovơ quyền lợi vào mình?). Khi đó, sàn TP. HCM sẽ phân ra thành 2 bảng với mức độ điều kiện niêm yết cao - thấp khác nhau. Còn sàn Hà Nội sẽ tổ chức giao dịch cổ phiếu OTC và trái phiếu. Theo ông Sinh, giải pháp này có lợi ích là xây dựng một TTCK lớn, sánh vai với các thị trường khác trong khu vực và quốc tế. Các CTCK sẽ tiết kiệm được nguồn lực khi không phải đầu tư để tương thích với hai hệ thống phần mềm, có đại diện sàn ở hai nơi?

    ?oChúng ta phải cấu trúc thị trường sao cho hợp lý nhất. Tạo ra thị trường đủ độ lớn và rõ ràng đâu là thị trường niêm yết, đâu là thị trường OTC, có bảng của DN vừa và nhỏ, có bảng cổ phiếu blue -chip. Một thị trường tốt cho mai sau chứ không phải là thị trường đặt ở đâu và của ai. Tôi sang Malaysia, người ta bảo, chúng tôi mất 6 năm, tốn rất nhiều tiền để gom các sàn lại. Các ông nên làm, khi vẫn còn kịp?, ông Sinh kể.

    Phóng viên ĐTCK đã đem ý tưởng trên trao đổi với một số giám đốc CTCK, hầu hết đều lắc đầu: ?ochuyện này khó xảy ra?, khó đến mức không cần phải suy nghĩ xem là nên hay không nên. Ông Sinh biết điều này. Ông bảo, làm nhanh hay chậm phụ thuộc vào quyết tâm chính trị của các lãnh đạo cao cấp. Còn về phía HOSE, Sở đang xây dựng hệ thống công nghệ hoàn chỉnh để có quyết sách là làm. Bộ trưởng các nước ASEAN đã ký kết về việc thành lập TTCK chung đủ sức để cạnh tranh với thị trường Ấn Độ, Trung Quốc và các thị trường khác. Như vậy để thấy rằng, Việt Nam đã nằm trong xu thế phải khu vực hoá, toàn cầu hoá.

    Trong thời gian tại chức, ?osếp? Sinh có chứng kiến và tham gia vào việc sáp nhập 2 sàn niêm yết hay không là câu hỏi chưa thể trả lời ngay lúc này. Nhưng vấn đề là, một câu chuyện rất nhạy cảm và táo bạo được nêu ra, được chia sẻ để cùng bàn luận. Tôi nhớ người Đức có một câu ngạn ngữ rất hay: ?oHãy hỏi đi, bạn sẽ nhận được câu trả lời?. Với TTCK còn trứng nước ở ta, việc ?oxới xáo? những vấn đề khó nói để ?omất lòng trước, được lòng sau?, âu cũng là việc nên làm.

    Lối đi ở dưới chân mình

    Nặng nỗi lo công nghệ, con người

    Ông Trần Văn Dũng
    ?oKhi thị trường phấn khởi vì có thêm nhiều thành viên mới, khi quy mô thị trường phát triển và khối lượng giao dịch gia tăng cũng là lúc chúng tôi đau đầu nhất?, ông Dũng nói và nêu dẫn chứng để cắt nghĩa: ?oNăm 2006 và 2007, TTCK Việt Nam chứng kiến sự phát triển quá nhanh của hệ thống thành viên cũng như quy mô giao dịch. Vì sàn Hà Nội tương đối nhỏ nên khi có thêm nhiều thành viên mới là phải mở rộng sàn. Điều này đồng nghĩa với việc phải đụng đến hệ thống. Khi phần mềm đang chạy ổn định, nếu mình đụng vào nó thì không ai có thể đảm bảo 100% không có trục trặc. Thêm một thành viên còn đỡ, nếu có nhiều thành viên, nhiều máy nhập lệnh cùng một lúc về hệ thống thì hệ thống có đảm bảo được hay không luôn là nỗi ám ảnh anh em ở Trung tâm, nếu không có giải pháp để chủ động xử lý sớm thì khó đảm bảo được?, ông Dũng nói.

    Chắc hẳn chưa có mấy người biết hệ thống giao dịch của HASTC là hệ thống đầu tiên do một công ty phần mềm của Việt Nam tự xây dựng theo đơn đặt hàng và bài toán của HASTC. Trong khi đó TTCK Việt Nam là thị trường mới phát triển, cán bộ nghiệp vụ của HASTC chưa thể lường hết được mọi tình huống phát sinh khi thiết kế hệ thống. ?oNhững tình huống xuất hiện bất ngờ buộc mình phải có cách xử lý. Xử lý về mặt kiến thức, logic chỉ là một vấn đề. Nhưng xử lý trên hệ thống thì lại là chuyện khác. Ở vị trí người tổ chức thị trường, chúng tôi không thể công bố là tình huống này mới quá, không xử lý được, mà bắt buộc phải can thiệp vào hệ thống để xử lý. Những lúc ấy là lúc căng thẳng, lo lắng, thấp thỏm nhất?, ông chia sẻ.

    Nhiều người đặt câu hỏi: công nghệ lạc hậu tại sao không ?obơm? tiền vào đầu tư? Nghe thật có lý nhưng họ có biết đâu rằng, câu chuyện đó không dễ. Để lựa chọn được một mô hình công nghệ phù hợp với điều kiện phát triển thị trường ở Việt Nam và thực hiện thủ tục giải ngân mua sắm theo đúng thủ tục chi tiêu ngân sách là vô cùng nan giải. Chẳng hạn, ai cũng biết sàn HOSE từ lâu đã được bố trí một khoản 15 triệu USD để đầu tư hạ tầng kỹ thuật, nhưng mãi tới gần đây mới công bố kế hoạch đến tháng 6/2009 sẽ vận hành theo công nghệ mới. Sàn Hà Nội cũng đã được bố trí một khoản hơn 11 triệu EURO, nhưng chưa hoàn thành được dự án để giải ngân.

    Tuy nhiên, công nghệ vẫn không phải là nỗi đau đầu lớn nhất của ông Giám đốc Trung tâm. Điều khiến ông canh cánh lại là chuyện thiếu nhân lực. Với một TTCK phát triển nhanh như hiện nay, việc tìm người hết sức khó khăn. Tìm được đủ người để đáp ứng được nhu cầu công việc gia tăng đã là khó, đào tạo để họ đáp ứng được yêu cầu công việc, nhất là khối công việc mới, cũng khó không kém. Đào tạo xong, làm thế nào để giữ chân nhân sự tốt là cả một vấn đề!



    1 năm, 3 việc lớn

    Nét chấm phá nổi nhất của HASTC năm 2007 chính là việc chuyển thành công từ đấu giá 1 cấp sang 2 cấp. Không còn cảnh NĐT chen lấn đặt lệnh tại Trung tâm, bởi công việc đấu giá đã được phân cấp cho các CTCK. Thứ hai, mảng đấu thầu trái phiếu chính phủ từ khi tập trung về HASTC đã phát triển rất mạnh, huy động được nguồn vốn lớn (20.000 tỷ đồng) cho đầu tư, phát triển. Nhưng đó chỉ là những công việc bề nổi. Theo ông Dũng, năm qua, HASTC đã âm thầm chuẩn bị cho 3 sự kiện lớn của năm 2008. Đó là chuyển toàn bộ giao dịch hiện nay sang giao dịch không sàn; mở thị trường giao dịch CP các công ty đại chúng; mở thị trường trái phiếu chuyên biệt. Với một khối lượng công việc khổng lồ, HASTC sẽ làm gì để hoàn thành 3 mục tiêu trên trong khi cả công nghệ và con người đang là vấn đề nan giải?

    ?oChúng tôi quyết tâm thực hiện và tôi tin là sẽ làm được?, ông Dũng nói một cách tự tin. Ông cho biết thêm rằng, 3 đề án lớn kể trên không phải đến nay mới làm, mà đã được chuẩn bị trong cả một quá trình dưới sự chỉ đạo của Bộ Tài chính và UBCKNN. Đối với thị trường trái phiếu chuyên biệt, HASTC đã có tổ nghiên cứu từ cách đây gần 3 năm. Đối với thị trường công ty đại chúng, ý tưởng có từ khi xây dựng Luật Chứng khoán. Giao dịch không sàn cũng chắc chắn không thể không hoàn thành, bởi nếu không làm thì năm 2008, sàn Hà Nội không còn đủ chỗ cho đại diện giao dịch của các thành viên ngồi nhập lệnh.

    Lẽ thường, khi gặp quá nhiều khó khăn, thách thức trong công việc, người ta ngại nói thẳng và cảm thấy nản lòng. Nhưng theo ông Dũng, những khó khăn nhìn thấy trước lại là những thử thách không quá đáng ngại. ?oPhải đặt ra tiến độ, lộ trình và phải có quyết tâm cùng nhau vượt khó. Nếu không mọi việc sẽ dẫm chân tại chỗ?, ông nói.

    Nghe đến đây, tôi chợt nhớ đến câu ngạn ngữ nhiều người vẫn thường nói: ?oLối đi ở dưới chân mình?.
  6. oneheartonelove

    oneheartonelove Thành viên rất tích cực

    Joined:
    Apr 5, 2006
    Likes Received:
    0
    Liệu sẽ phải sửa Quyết định 03?
    http://tinchungkhoan24h.com/luotsongclub/viewforum.php?f=2

    Quyết định 03/NHNN ngày 1/2/2008 thay thế Chỉ thị 03/NHNN ngày 28/5/2007 lại tiếp tục thu hút sự chú ý của dư luận.

    Có ý kiến phân tích Quyết định 03 tuy là một bước tiến nhưng cũng là một bước lùi (bài viết của tác giả Mạc San trên VnEconomy). Có ý kiến cho rằng ảnh hưởng của Quyết định này là tiêu cực trong ngắn hạn nhưng tích cực về dài hạn (Vina Securities). Còn theo TS. Lê Xuân Nghĩa - Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) - thì việc ban hành một chính sách như vậy rất khó đi vào cuộc sống.

    Người viết bài này cho rằng dự báo ảnh hưởng của Quyết định 03 đến thị trường chứng khoán nhìn về ngắn hạn là tiêu cực, trong khi nhìn về dài hạn thì chưa rõ ràng. Quyết định 03 có khả năng sẽ phải sửa đổi lại, bởi vì ba tham số (vốn điều lệ, tỷ lệ hạn mức 20% vốn điều lệ và hệ số rủi ro chứng khoán 250%) trong mô hình hạn mức tín dụng còn thiếu căn cứ...

    Điểm chính của Quyết định 03 là hạn mức cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán là 20% vốn điều lệ thay vì 3% tổng dư nợ. Hơn thế nữa các khoản vay để đầu tư chứng khoán thuộc nhóm tài sản có với hệ số rủi ro tăng từ 150% lên 250%.

    Giảm cung, giảm cả cầu

    Dựa trên số liệu về vốn điều lệ và tổng dư nợ của 25 ngân hàng đang hoạt động, báo cáo phân tích của Vina Securities đưa ra con số: tổng hạn mức cho vay đầu tư chứng khoán ước giảm 7,6 ngàn tỷ từ 23,5 ngàn tỷ xuống 15,9 ngàn tỷ và kết luận tác động của Quyết định 03 là tiêu cực trong ngắn hạn.

    Nhận định trên có phần đúng, nhưng chưa đủ! Con số 7,5 ngàn tỷ chỉ phản ánh mức giảm về hạn mức. Trên thực tế, tác động của Quyết định 03 có thể còn lớn hơn nhiều nữa. Bởi lẽ, việc nâng hệ số rủi ro từ 150% lên 250% đối với các khoản vay đầu tư chứng khoán thuộc nhóm tài sản ?ocó? sẽ làm cho giá trị tài sản ?ocó? rủi ro chứng khoán tăng thêm tương ứng 40% với cùng giá trị khoản vay như trước đây.

    Để đảm bảo yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, các ngân hàng bắt buộc phải điều chỉnh hoặc là giảm tương ứng 40% các khoản cho vay đầu tư chứng khoán họăc là phải cơ cấu lại tài sản ?ocó? bằng cách giảm các tài sản ?ocó? rủi ro khác. Do đó, tác động ngắn hạn của Quyết định 03 chính là việc làm giảm cung tín dụng cho vay chứng khoán và giảm thu nhập lãi vay của ngân hàng.

    Các khoản cho vay đầu tư chứng khoán có hệ số rủi ro 250% cao gấp 2,5 lần so với các khoản cho vay thương mại khác có hệ số rủi ro 100%. Điều đó đồng nghĩa với việc nếu duy trì tổng giá trị tài sản ?~có? rủi ro không đổi thì khi tăng 1 đơn vị giá trị tài sản ?~có? cho vay đầu tư chứng khoán, sẽ phải giảm 2,5 đơn vị giá trị tài sản ?ocó? cho vay thương mại.

    Nói cách khác, chi phí vốn cho các khoản vay đầu tư chứng khoán cao gấp 2,5 lần so với chi phí vốn của các khoản cho vay đầu tư khác (giả định các yếu tố khác là bất biến). Do đó, xu hướng lãi vay đầu tư chứng khoán sẽ phải tăng là điều khó tránh khỏi và tác động trực tiếp sẽ làm giảm tổng cầu về vay đầu tư chứng khoán.

    Về trung và dài hạn: việc gắn hạn mức cho vay đầu tư chứng khoán với vốn điều lệ của ngân hàng có lẽ theo quan điểm của một vài phân tích cho rằng sẽ kích thích các ngân hàng tăng vốn điều lệ và do vậy sẽ làm gia tăng cả giá trị hạn mức lẫn cung cầu vay đầu tư chứng khoán. Nhưng chúng tôi cho rắng lập luận này còn thiếu cơ sở.

    Quyết định tăng vốn điều lệ của mỗi ngân hàng họăc là do yêu cầu về vốn pháp định họăc do yêu cầu đáp ứng chiến lược kinh doanh dài hạn được các cổ động đồng ý phê chuẩn. Nếu chưa có nhu cầu bức bách thì tăng vốn điều lệ đồng nghĩa với việc pha loãng giá trị cổ phiếu và các nhà quản lý điều hành sẽ luôn phải cân nhắc và các cổ đông không dễ dàng đồng tình.

    Hơn nữa, điều này còn làm tăng chi phí vốn chung của ngân hàng vì chi phí vốn vay luôn thấp hơn chi phí vốn chủ sở hữu.
    Mặt khác, tăng vốn điều lệ đối với ngân hàng chỉ có ý nghĩa nới lỏng hạn mức cho vay chứ không đồng nhất với tăng cung cầu vay đầu tư chứng khoán. Như đã phân tích ở trên, lãi suất cho vay đầu tư chứng khoán sẽ cao hơn do chi phí vốn và hệ số rủi ro cho vay chứng khoán bị đẩy lên cao hơn sẽ là rào cản đối với cả ngân hàng và nhà đầu tư chứng khoán.

    Ngân hàng là tổ chức tài chính trung gian là kênh dẫn vốn chính từ chủ thể có nhu cầu thừa vốn cho vay/tiết kiệm đến chủ thể thiếu vốn có nhu cầu vay vốn đầu tư. Nguồn vốn điều lệ chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng giá trị tài sản của ngân hàng (ví dụ: Ngân hàng ACB vốn điều lệ chiếm 3% tổng tài sản). Kỳ vọng về việc tăng vốn điều lệ sẽ tăng cung cầu tín dụng đầu tư chứng khoán trong dài hạn là thiếu căn cứ.

    Ba tham số chưa rõ nguồn gốc

    Nút thắt hạn mức cho vay đầu tư chứng khoán chính là ở chỗ hạn mức vay gắn chặt với vốn điều lệ; tỷ lệ hạn mức 20% trói chăt vào vốn điều lệ và hệ số rủi ro gán cho tài sản ?ocó? thuộc nhóm cho vay đầu tư chứng khoán 250% là những con số chưa rõ nguồn gốc.

    - Vốn điều lệ: Quyết định 457/2005 của Ngân hàng Nhà nước là cơ sở pháp lý để các ngân hàng thương mại tự xác định và tuân thủ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% tài sản ?ocó? rủi ro. Thực ra nội dung trong quyết định 457 tương tự như những quy định trong công ước Basel 1.

    Nhưng đáng tiếc ở chố, như đã được TS. Lê Xuân Nghĩa và tác giả Mạc San phân tích, thì không có nước nào dựa trên vốn điều lệ để xác định các tiêu chí tài chính như ở ta.

    - Hạn mức bằng 20% vốn điều lệ: Dư luận cũng như các nhà phân tích chưa tìm ra căn cứ để lý giải tại sao lại là 20% mà không phải 50% hay 60% vốn điều lệ. Lấy Ngân hàng ACB làm ví dụ. ACB có tổng dư nợ tín dụng là 31 ngàn tỷ gấp gần 12 lần vốn điều lệ 2630 tỷ. Hạn mức 20% vốn điều lệ chỉ tương đương 1.6% tổng dư nợ tín dụng. Theo chủ trương kích cầu chứng khoán như tuyên bố của Chính phủ thì Quyết định 03 sao sửa nhưng lại thắt chặt hơn?

    - Hệ số rủi ro 250%: Thông lệ trên thế giới thì hệ số rủi ro 100% là cao nhất. Tất nhiên tùy theo đặc điểm mỗi nước hệ số rủi ro có thể nâng cao hơn 100% để cảnh báo mức độ rủi ro tín dụng. Nhiều chuyên gia phân tích cũng đồng tình rằng không thể tùy tiện nâng hệ số rủi ro các khoản cho vay chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán lên 250% từ 150% trước đây.

    Cơ sở nào để đưa ra những con số này? Phải chăng do VN-Index lên xuống thất thường trong vài tháng qua hay cổ phiếu các doanh nghiệp niêm yết và chưa niêm yết còn tiềm ẩn quá nhiều rủi ro mà trước đây chưa tính hết nên nay phải nâng lên 250%!

    Sẽ phải sửa?

    Vốn điều lệ là đại lượng có tần suất thay đổi ít nhất của ngân hàng; 20% là con số không thể hiện chủ trương kích cầu đầu tư chứng khoán mà là bó chặt hơn so với Chỉ thị 03 trước đây; hệ số rủi ro các khoản cho vay đầu tư chứng khoán 250% là con số chưa có cơ sở lý giải. Hạn mức cho vay đầu tư chứng khoán bị cột chặt vào đại lượng ít biến đổi và không phản ánh thật tình hình tài chính doanh nghiệp.

    Trong khi đó, thị trường chứng khoán ngày càng có nhiều công ty có nhu cầu niêm yết, và giá trị vốn hóa của các công ty niêm yết đang tăng rất nhanh, nhiều khả năng đạt đến con số 1000 ngàn tỷ VND cuối năm 2008, khi các đại gia Vietcombank, Incombank, MobiFone, Sabeco, Habeco, Bảo Việt đồng loạt lên sàn trong năm nay.

    Quyết định 03 sửa mới nhưng lại bó chặt hơn kênh tín dung cho vay đầu tư chứng khoán. Theo TS. Lê Xuân Nghĩa thì một quyết định ban hành theo chiều hướng như thế sẽ rất khó đi vào cuộc sống. Quyết định 03 với ba tham số trong mô hành hạn mức tín dụng đều thiếu căn cứ. Tác động của Quyết định 03 trong ngắn hạn là tiêu cực và trong dài hạn có lẽ cũng khó mà sáng sủa hơn.

    Và có lẽ, Quyết định 03 sớm hay muộn cũng sẽ phải sửa đổi lại, cho phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường và thông lệ quốc tế.

Share This Page