Tinh thần lạc quan sau lễ 2-9 - Việt Nam vượt qua 3 cuộc khủng hoảng

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi dthn05, 03/09/2008.

261 người đang online, trong đó có 104 thành viên. 00:55 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 429 lượt đọc và 0 bài trả lời
  1. dthn05

    dthn05 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    09/05/2006
    Đã được thích:
    1
    Tinh thần lạc quan sau lễ 2-9 - Việt Nam vượt qua 3 cuộc khủng hoảng

    Việt Nam vượt qua 3 cuộc khủng hoảng


    63 năm đã qua, tính từ ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày nay là nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngoài các thành tựu về mặt chính trị, xã hội (như làm cho chế độ thuộc địa gần 100 năm bị đánh sập, chế độ phong kiến hàng nghìn năm bị xoá bỏ...), trong hơn hai mươi năm qua, Việt Nam đã vượt qua ba cuộc khủng hoảng.


    Cuộc khủng hoảng thứ nhất, tiềm ẩn từ cuối những năm 70, bùng phát vào những năm 80 của thế kỷ trước. Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ những khó khăn sau chiến tranh, từ những hạn chế của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp, từ hậu quả sai lầm về giá - lương - tiền, cộng hưởng với khó khăn do sự bao vây cấm vận của Mỹ. Hậu quả biểu hiện ở nhiều mặt. Tăng trưởng kinh tế thấp, có năm còn bị sút giảm; bình quân thời kỳ 1977- 1980, thu nhập quốc dân chỉ tăng 0,4%/năm, thấp xa so với tốc độ tăng dân số (2,31%/năm); bình quân thời kỳ 1977- 1985 chỉ tăng 3,7%/năm. Sản xuất chỉ đáp ứng được 80 - 90% sử dụng; toàn bộ quỹ tích luỹ và một phần quỹ tiêu dùng phải dựa vào viện trợ và vay nợ nước ngoài. Vay nợ và viện trợ của nước ngoài 1976 - 1980 chiếm 38,2% tổng thu ngân sách; 1981 - 1985 chiếm 22,4%; tính đến năm 1985, nợ nước ngoài lên đến 8,5 tỷ rúp và 1,9 tỷ USD. Lạm phát ngầm diễn ra với mức độ ngày càng cao; ngân sách bị thâm hụt và phải bù đắp bằng việc in tiền để chi tiêu; lại gặp sai lầm "giá - lương - tiền" năm 1985, nên lạm phát phi mã lên tới 774,7% vào năm 1986 và kéo dài ở mức 3 rồi hai chữ số cho đến 1990 - 1991. Thất nghiệp cao, tỷ lệ lên đến 12,7%.





    Nhờ đường lối đổi mới, cùng với sản xuất lương thực đạt kết quả thần kỳ, dầu thô được khai thác? các biện pháp chống lạm phát được thực hiện quyết liệt (với phương châm đối với ngân sách là thu lấy mà chi, đối với ngân hàng là vay lấy mà cho vay), đưa lãi suất huy động lên đến 13%/tháng để hút tiền về.




    Cuộc khủng hoảng thứ nhất đáng ra có thể được khắc phục sớm hơn, nhưng do chính sách bao vây cấm vận của Mỹ, lại bị hụt hẫng về vốn đầu tư, về thị trường từ Liên Xô (cũ) và các nước XHCN ở Đông Âu? đã làm cho cuộc khủng hoảng kéo dài thêm, mãi đến năm 1993 mới cơ bản thoát khỏi khủng hoảng.




    Sau thời kỳ này, tăng trưởng kinh tế đã cao lên. Nếu thời kỳ 1986 - 1991 tăng trưởng kinh tế đạt 4,67%/năm, thì từ 1992 đến 1997 đã tăng 8,77%/năm. Lạm phát giảm mạnh, nếu 1990, 1991 còn ở mức trên 67%, thì 1992 còn 17,5%, 1993 còn 5,2%. Năm 1992, giá vàng giảm 31,3%, giá USD giảm 25,8%? Tỷ lệ thất nghiệp còn dưới 10%. Năm 1992 lần đầu tiên đã xuất siêu? Việt Nam chuyển sang giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và mở cửa hội nhập.




    Cuộc khủng hoảng thứ hai là cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ xảy ra năm 1997 - 1998 ở khu vực. Việt Nam do bắt đầu mở cửa hội nhập, nên cũng bị tác động nhất định. Tăng trưởng kinh tế đang ở mức 9,54% năm 1995, 9,34% năm 1996 và 8,15% năm 1997, đến 1998 chỉ tăng 5,76%, 1999 chỉ tăng 4,77%. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký, nếu 1996 đạt gần 10,2 tỷ USD, thì từ 1997 bị giảm liên tục, đến 1999 chỉ còn gần 2,6 tỷ USD. Lạm phát năm 1998 lên mức 9,2%. Giá USD năm 1997 tăng 14,2%, năm 1998 tăng 9,65%. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu đến năm 1998 chỉ còn 1,9%. Nhập khẩu 1997 chỉ tăng 4% và 1998 giảm 0,8%, 1999 chỉ tăng 2,1%? Một mặt, do độ mở cửa chưa cao (xuất khẩu so với GDP mới đạt trên dưới 30%, đồng tiền chưa chuyển đổi?), do đã có dầu thô, gạo xuất khẩu; mặt khác do có sự chủ động ứng phó từ trong nước? nên Việt Nam không những không bị cuốn hút vào vòng xoáy, mà còn vượt qua được cuộc khủng hoảng này. Tăng trưởng kinh tế đã có xu hướng cao lên (2000 tăng 6,79%, 2001 tăng 6,89%). Giá tiêu dùng 1999 chỉ còn tăng 0,1%, 2000 còn giảm 0,6%, 2001 tăng 0,8%; giá vàng 1999 giảm 0,2%, 2000 giảm 1,7%; giá USD 1999 chỉ tăng 1,1%, 2000 tăng 3,4%. Xuất khẩu 1999 tăng 23,3%, 2000 tăng 25,5%. Năm 2000, Hiệp ước thương mại song phương Việt- Mỹ đã được ký kết?




    Cuộc khủng hoảng thứ ba xuất hiện từ Mỹ - nước vừa mới ký Hiệp định thương mại song phương với Việt Nam cuối năm 2000. Cuộc khủng hoảng này có dấu hiệu từ sau sự kiện 11/9/2001, cộng hưởng với cuộc khủng hoảng chu kỳ, cũng đã tác động đến kinh tế Việt Nam. Giá vàng tăng cao, tăng liên tục, tăng trong thời gian dài (từ 2001 đến tháng 7/2008 đã cao gấp trên 3,8 lần). Xuất khẩu 2001 chỉ tăng 3,8%? Nhưng với phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá trong quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã vượt qua tác động lớn của cuộc khủng hoảng này. Tăng trưởng kinh tế đã liên tục cao lên (2002 tăng 7,08%, 2003 tăng 7,34%, 2004 tăng 7,79%, 2005 tăng 8,44%, 2006 tăng 8,23%, 2007 tăng 8,48% - bình quân thời kỳ 2002 - 2007 đã tăng 7,89%/năm). Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký đã liên tục tăng (2003 đạt gần 3,2 tỷ USD, 2004 đạt trên 4,5 tỷ USD, 2005 đạt trên 6,8 tỷ USD, 2006 đạt trên 12 tỷ USD, 2007 đạt 21,3 tỷ USD, 7 tháng 2008 đạt 45,3 tỷ USD). Xuất khẩu tăng liên tục với tốc độ cao; tỷ lệ xuất khẩu so với GDP liên tục tăng, đến năm 2007 đã đạt 68,2%. Dự trữ ngoại hối tăng khá (nếu cuối năm 2002 đạt chưa được 3,7 tỷ USD, thì đến cuối 2007 đã lên đến 21 tỷ USD). GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái tăng nhanh (nếu năm 1995 mới đạt 289 USD, năm 2002 mới đạt 440 USD, thì đến năm 2007 đã đạt 835 USD).




    Việt Nam đang chịu tác động của cuộc khủng hoảng thứ tư cũng từ nước Mỹ, bắt đầu từ nhà đất, lan sang hệ thống tài chính, cộng hưởng với giá dầu, giá lương thực - thực phẩm trên thế giới đã tác động mạnh tới Việt Nam, khi Việt Nam vừa mới gia nhập WTO. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam quý I tăng thấp so với cùng kỳ mấy năm trước, quý II còn tăng thấp hơn, tính chung 6 tháng chỉ tăng 6,5% và cả năm phải có sự phấn đấu quyết liệt mới có thể đạt được mục tiêu tăng 7%. Tốc độ tăng giá tiêu dùng cao trong năm 2007 (12,63%), tiếp tục tăng cao trong những tháng đầu năm 2008: sau 8 tháng (tức là tháng 8/2008 so với tháng 12/2007) đã tăng tới 21,65%; tính theo năm (tức là tháng 8/2008 so với tháng 8/2007) đã tăng tới 28,32%, bình quân 8 tháng 2008 so với cùng kỳ năm trước đã tăng trên 22,14%. Tính thanh khoản của một số ngân hàng gặp khó khăn? Giá USD tháng 8/2008 so với tháng 12/2007 đã tăng 3,71%. Nhập siêu 8 tháng 2008 đã lên đến 15,97 tỷ USD, cao hơn mức kỷ lục 14,2 tỷ USD trong cả năm 2007?




    Đứng trước tình hình trên, Đảng, Nhà nước đã sớm đề ra mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng bền vững. Ngân hàng Nhà nước từ giữa năm 2007 đã đưa ra nhiều biện pháp thắt chặt tiền tệ. Tăng dự trữ bắt buộc từ 5 lên 10% và sau đó đưa tiếp lên 11%. Khống chế tỷ lệ cho vay đầu tư chứng khoán không vượt quá 3% tổng dư nợ tín dụng, sau đó sửa thành 20% vốn điều lệ theo hướng thắt chặt hơn. Khống chế tốc độ tăng dư nợ tín dụng cả năm không vượt quá 30%. Sớm có biện pháp để dập tắt cơn sốt giá USD trên thị trường tự do; đưa biên độ giao dịch mua bán USD từ ± 1% lên ± 2%? Đặc biệt đã 2 lần đưa lãi suất cơ bản từ 8,75% lên 12% và từ 12% lên 14%? Đẩy mạnh xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu?




    Kết quả, tốc độ tăng giá tiêu dùng đã có xu hướng giảm trong vài tháng nay, tính bình quân hai tháng qua chỉ còn tăng 1,36%/tháng, thấp hơn lãi suất huy động tính theo kỳ hạn năm hiện nay. Tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại được cải thiện. Mặt bằng lãi suất có xu hướng giảm để tạo điều kiện cho sản xuất, xuất khẩu. Nhập siêu giảm dần và ở mức dưới 1 tỷ USD từ tháng 6; cán cân thanh toán tổng thể được bảo đảm. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh cả về vốn đăng ký và vốn thực hiện. Lượng ngoại tệ vào nước ta từ các kênh khác tăng mạnh, làm tăng tính thanh khoản của quốc gia?




    Cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới chưa chấm dứt; hiện Nhật Bản, Eu đang đứng trước nguy cơ suy thoái, vừa đứng trước nguy cơ lạm phát? Cuộc khủng hoảng trên sẽ còn tác động đến nước ta. Nhưng với sự chủ động, quyết liệt ngăn chặn và tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ có sự linh hoạt, với dự trữ ngoại hối tăng khá so với trước kia? chắc chắn Việt Nam sẽ lại vượt qua cuộc khủng hoảng thứ tư này. Bĩ cực sắp qua, thái lai sắp tới.




    Từ chỗ không có tên trên bản đồ thế giới, từ chỗ còn là một trong vài chục nước nghèo nhất thế giới? nay Việt Nam đã trở thành nước độc lập, tự chủ, có quan hệ ngoại giao với trên 170 nước, có quan hệ buôn bán với trên 200 nước và vùng lãnh thổ, tham gia hầu hết các tổ chức và định chế quốc tế, gia nhập Liên hợp quốc và là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, thành viên WTO, đang phấn đấu sớm ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp trước năm 2010, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.




    Minh Đức


    Ngày 03/09/2008

    https://www7.vndirect.com.vn/vndirect-online/online/brokerage/research/NewsViewDetail_123321_122041463116538b523615b1aaa118656003274c51254.do?caller=VNMarkets&id=84746

Chia sẻ trang này