Vai trò của Vàng trong danh mục đầu tư

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi tiutiu0209, 17/03/2025.

846 người đang online, trong đó có 338 thành viên. 08:22 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 1217 lượt đọc và 3 bài trả lời
  1. tiutiu0209

    tiutiu0209 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    07/10/2005
    Đã được thích:
    36
    Kể từ năm 1971, sau hội nghị Bretton Woods và cũng sau hàng nghìn năm giữ vai trò là tiền tệ thế giới, vàng đã trở thành một bán-hàng hóa với vai trò ngày càng bị xem nhẹ trong giới kinh tế toàn cầu, bị coi là tài sản đầu cơ, tài sản không sinh lời, hoặc ít nhất cũng chỉ là một phương tiện lưu trữ giá trị lỗi thời. Tuy nhiên, có một thực tế là các ngân hàng trung ương chưa bao giờ tìm cách loại bỏ vàng khỏi danh mục dự trữ, và luôn tìm cách gia tăng khối lượng mỗi khi có cơ hội. Các ngân hàng trung ương Mỹ, Anh, và IMF, những tổ chức nắm giữ khối lượng vàng lớn nhất, chưa bao giờ định giá lại tỷ lệ dự trữ của mình theo giá thị trường.

    Trong 5 năm gần đây, hào quang của vàng đã quay trở lại với mức độ tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên, kể từ đầu năm 2025, vàng đã trở thành tài sản có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong các kênh đầu tư truyền thống, chính thức vượt qua mức giá cao nhất mọi thời đại là 3,000 USD/ounce và đang tiếp tục gia tăng. Tuy nhiên, khác với các chu kỳ tăng giá trước đây, có một xu hướng thu hút sự quan tâm đặc biệt: việc dịch chuyển và tập trung vàng vật chất từ Luân Đôn về Mỹ. Vậy tại sao lại có chuyện này, và hàm ý của nó là gì?

    Để trả lời câu hỏi này, hãy xem xét bảng số liệu sau (tổng hợp bởi ChatGPT):

    Chỉ tiêu


    Năm 1975


    Năm 2024 (dự báo)

    GDP danh nghĩa (USD)


    1.7 nghìn tỷ


    26.7 nghìn tỷ

    Tốc độ tăng GDP năm gần nhất (%)


    -0.2% (suy thoái)


    2.8%

    Tỷ lệ lạm phát (%)


    9.1%


    2.0%

    Tỷ lệ bội chi ngân sách/GDP (%)


    2.6%


    4.5%

    Tỷ lệ nợ công/GDP (%)


    38.0%


    130.0%

    Giá trị nợ công (USD)


    0.65 nghìn tỷ


    34.7 nghìn tỷ

    Giá vàng giao ngay cuối năm (USD/ounce)


    161.02


    3,000.00

    Lãi suất trái phiếu CP 10 năm


    8%


    4.39%

    Nguồn số liệu:

    • Năm 1975: Dữ liệu lịch sử từ các báo cáo kinh tế và tài chính của Hoa Kỳ.
    • Năm 2024: Dự báo dựa trên các nguồn thông tin kinh tế hiện tại và dự báo của các tổ chức tài chính.
    • Lưu ý: Các con số trên chỉ mang tính tham khảo và có thể thay đổi theo các nguồn thông tin khác nhau.
    Cần lưu ý rằng, vào năm 1975, Mỹ đang kiệt quệ sau chiến tranh Việt Nam, phải đối mặt với cú sốc giá dầu và cú sốc tiền tệ từ Bretton Woods, khiến quốc gia này phải giảm giá đồng tiền, dẫn đến lạm phát trong nước. Trong giai đoạn trước năm 1975, Mỹ đã phản ứng bằng một chiến lược khá cứng rắn, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Richard Nixon, với một cuộc "chiến tranh tiền tệ," ép buộc các đồng minh phải phá giá và định giá lại đồng tiền của mình. Đặc biệt, Mỹ đã thỏa thuận với các nước sản xuất dầu mỏ Trung Đông, qua đó khôi phục lại giá trị cho đồng Dollar, nền tảng giúp các Tổng thống tiếp theo như Carter và Reagan tiếp tục điều chỉnh tiền tệ và duy trì thống trị thế giới trong suốt ba thập kỷ sau đó.

    Ngày nay, Mỹ đang ở vào một vị thế tương tự, với tỷ lệ thâm hụt và nợ công cao, nền tài chính công mong manh. So với tốc độ tăng trưởng GDP, nợ công của Mỹ đã tăng 53,4 lần trong khi GDP chỉ tăng 15,7 lần. Điều này có nghĩa là tỷ lệ nợ công/GDP của Mỹ hiện nay lên tới 3,5:1. Hơn nữa, phần lớn nợ công của Mỹ hiện nằm trong tay các quốc gia khác như Trung Quốc, Nhật Bản và EU. Donald Trump đã đúng khi chỉ trích rằng các đồng minh và đối thủ của Mỹ đã lợi dụng hệ thống tài chính toàn cầu do Mỹ tạo ra để kiếm lợi, trong khi hệ thống tiền tệ này không kích thích tăng trưởng của Mỹ, mà lại trở thành vũ khí trong tay các đối thủ khác.

    Ngày nay, giới tinh hoa nước Mỹ đã nhận thức rõ về tình trạng này. Mỹ hiện nay cũng có một Tổng thống khó lường, Donald Trump, người có xu hướng sử dụng các biện pháp cứng rắn tương tự như Richard Nixon đối với các đồng minh của mình. Các chính sách thuế, chiến tranh thương mại, và cắt giảm tài trợ là những biện pháp có vẻ phi lý trí, nhưng trên thực tế, chúng đang hướng đến việc thay đổi trật tự tiền tệ toàn cầu để tái phân phối lại nguồn lực và xây dựng lại nền tảng thương mại, công nghiệp và công nghệ có lợi cho Mỹ.

    Nhìn vào lịch sử, nếu vào năm 1971, đối tượng của cuộc chiến đó là vàng, thì hiện nay, đối tượng đó chính là đồng USD. Như những gì đã xảy ra trong quá khứ, có thể sẽ có một cuộc phá giá đồng USD nghiêm trọng để giải quyết sự mất cân đối trong nợ công, và cái giá phải trả có thể là lạm phát, đình đốn và suy thoái. Ai sẽ phải gánh chịu cái giá này sẽ phụ thuộc vào khả năng của Mỹ trong việc tận dụng vị thế siêu cường, giống như năm 1971, khi hóa đơn của việc từ bỏ bản vị vàng chủ yếu được trả bởi Châu Âu, Nhật Bản và tầng lớp lao động Mỹ.

    Các dấu hiệu hiện tại bao gồm việc chấm dứt thỏa thuận Petro-Dollar, giá vàng tăng mạnh kết hợp với việc tập trung vàng vật chất về Mỹ, chiến tranh thương mại, giảm thuế nội địa, cắt giảm chi tiêu chính phủ, xu hướng giảm lao động và tối ưu hóa tại các công ty lớn. Trong giai đoạn COVID, Mỹ đã bơm tiền không giới hạn cho các công ty lớn và người dân, thúc đẩy quá trình tích lũy tài sản và đầu tư vào công nghệ. Mỹ cũng đã nâng và giữ lãi suất ở mức cao hơn nhiều so với các thị trường đang phát triển để thu hút dòng vốn đầu tư, trong khi bắt đầu mua sắm và kiểm soát các tài sản chiến lược, bao gồm tuyến vận chuyển (Panama), khoáng sản (đất hiếm), và dầu mỏ. Tất cả đều là dấu hiệu cho thấy Mỹ đang chuẩn bị cho một quá trình phá giá đồng USD, và việc tăng giá của các tài sản cứng như thị trường chứng khoán, bất động sản, vàng và các hàng hóa không phải là dấu hiệu của tăng trưởng kinh tế, mà là chứng cứ rõ ràng của việc phá giá đồng tiền. Trong quá trình đó các khoản tiền tiết kiệm và mức sống của dân số toàn cầu và các tài sản tài chính của các quốc gia xuất khẩu sẽ bị gặm nhấm dần, cho đến khi Mỹ trở lại vị thế mạnh mẽ. Tuy nhiên, không ai có thể biết quá trình này sẽ kéo dài bao lâu—5 năm hay một thập kỷ.

    Đối với mỗi cá nhân, chiến lược đầu tư cho giai đoạn tiếp theo cần được thay đổi để phù hợp với xu hướng này. Các quyết định đầu tư không chỉ cần tập trung vào việc gia tăng giá trị mà nên tính đến việc bảo tồn sức mua thực tế và phòng ngừa rủi ro khi quá trình USD bị phá giá diễn ra các cú sốc. Các lựa chọn này sẽ khác biệt đối với cá nhân với các ưu nhược điểm của từng tài sản như sau:

    Tài sản


    Bất động sản


    Chứng khoán (giao dịch)


    Vàng/ngoại tệ


    Chứng khoán (doanh nghiệp)


    Tiết kiệm

    Tính chất


    Tài sản nội địa


    Tài sản nội địa


    Tài sản quốc tế


    Tùy thuộc


    Tài sản nội địa

    Phản ứng với khủng hoảng tài chính quốc gia


    Kém


    Kém


    Tốt


    Tùy thuộc


    Kém

    Khả năng bảo tồn giá trị trong điều kiện thông thường


    Tốt


    Tốt


    Tốt


    Tốt


    Kém

    Khả năng bảo tồn giá trị trong điều kiện khủng hoảng


    Trung bình


    Kém


    Tốt


    Tùy thuộc


    Kém

    Mức độ yêu cầu vốn


    Lớn


    Nhỏ


    Nhỏ


    Lớn


    Nhỏ

    Mức độ hiểu biết và kiến thức


    Trung bình


    Cao


    Thấp


    Cao


    Thấp

    Bất động sản và thị trường chứng khoán đều là tài sản có tính chất nội địa cao. Khả năng bảo tồn giá trị của chúng trong trường hợp khủng hoảng quốc tế rất phụ thuộc vào khả năng chống chịu của quốc gia. Tiền gửi tiết kiệm và các đối tượng như hưu trí, trẻ em sẽ là những người bị ảnh hưởng đầu tiên khi tài chính quốc gia gặp khủng hoảng. Chúng ta cũng có thể lựa chọn bảo tồn giá trị bằng những đồng tiền mạnh, có độ mở thấp và có nền kinh tế mạnh như đồng nhân dân tệ hoặc Vàng.

    Nếu đồng USD bị phá giá, vàng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn giá trị. Nhìn lại biến động của vàng trong quá khứ sẽ chứng minh cho điều này:

    Năm 1971: Giá vàng trung bình trong năm 1971 là khoảng 40,80 USD/ounce (theo dữ liệu lịch sử từ Hội đồng Vàng Thế giới và Macrotrends). Đây là thời điểm trước khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ, khi vàng vẫn được neo giá với USD ở mức 35 USD/ounce cho đến tháng 8/1971, sau đó tăng nhẹ do chính sách thả nổi. Giá vàng tăng phi mã sau khi hệ thống Bretton Wood sụp đổ lên mức 161 USD/ounces năm 1974 tương đương tăng hơn 4 lần. Gần nhất (17/3/2025): Tính đến ngày 17/3/2025, giá vàng giao ngay (spot price) trên thị trường quốc tế được ghi nhận ở mức 3.000 USD/ounce. Con số này dựa trên các báo cáo gần đây từ Kitco và các bài đăng trên X, cho thấy giá vàng đã vượt ngưỡng 2.989,98 USD/ounce trong phiên giao dịch ngày 13/3/2025 tại Singapore và đạt mức kỷ lục 3.000 USD/ounce vào cuối tuần đó.

    So sánh với GDP và nợ công: Trong khi GDP danh nghĩa của Mỹ tăng 15.7 lần, giá vàng tính theo USD tăng 18,6 lần, cho thấy vàng không chỉ giữ giá trị mà còn vượt trội so với tốc độ tăng trưởng kinh tế danh nghĩa trong dài hạn.

    Nếu so với tốc độ tăng trưởng nợ công 53.4 lần trong cùng kỳ của Mỹ, rõ ràng để biến tỷ lệ nợ công về mức chấp nhận được tương đương khoảng 70-80%, đồng USD cần phải mất giá tương đối khoảng 50%. Trong quá trình này, mức giá vàng sẽ không chỉ dừng lại ở mức 3000 USD mà có thể lên tới 6000 USD vào cuối giai đoạn này. Cuốn Chiến tranh tiền tệ của James Rickards thậm chí dự kiến mức giá vàng phù hợp để định giá lại tiền tệ sẽ ở mức cao hơn khoảng 9,000 USD/ounces.

    Bản thân tôi cho rằng vàng vẫn sẽ đóng vai trò không thể thiếu trong chiến lược đầu tư của giai đoạn này, đặc biệt là trong trường hợp đồng USD mất giá mạnh.
    hungvctvSoigia271 thích bài này.
  2. VNKERRY

    VNKERRY Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    29/01/2013
    Đã được thích:
    2.198
    giai đoạn này cần gửi ở tiệm vàng, lấy xèng full margin chứng, lấy lãi ra nhận lại vàng đã gửi.
  3. tiutiu0209

    tiutiu0209 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    07/10/2005
    Đã được thích:
    36
    Giá trị vàng đã tăng lên 3.900 USD/ounce; so với mức giá vàng dự kiến định giá lại sức mua của USD tương ứng là 6,000 -9,000/ounce trong bài trước thì đã không còn là điều gì viễn tưởng. Chỉ còn vấn đề còn bao nhiêu thời gian để tất cả các thành phần của nền kinh tế sẽ nhận ra sự mất giá của USD và định giá lại các dịch vụ và hàng hóa thiết yếu tương ứng. Nếu điều này xảy ra trong thời gian ngắn sẽ là một thảm họa tài chính lớn, và rủi ro này đang ngày càng tăng lên như bài viết dưới đây:

    “Thế giới tự do” với những giá trị vốn được coi là chuẩn mực của thế giới trong suốt 50 năm trước như thương mại tự do, dân chủ, hội nhập quốc tế đã nhường chỗ cho bảo hộ thương mại, bảo thủ chính trị và đóng cửa về văn hóa. Bản chất các hoạt động kinh tế của thế giới không khó khăn như những gì chúng ta đang cảm nhận. Thế giới vẫn đã và đang tạo ra lượng của cải thực cao hơn nhiều lần so với 30 năm trước đây, và mức phúc lợi tiêu dùng cơ bản vẫn đang ở mức tốt nhất từ trước đến nay. Vậy điều gì đã khiến chúng ta cảm thấy ngày càng áp lực và khó sống hơn trước? Cá nhân tôi cho rằng câu trả lời chính là tiền tệ và giá cả. Hiện nay chúng ta không chứng kiến lạm phát bùng nổ theo hình thức phi mã hay siêu lạm phát trên toàn cầu như những giai đoạn trước đó bởi Đồng Dolla, nền tảng định giá của nền tài chính toàn cầu, vẫn đang được định giá cao. Đồng Dolla và thị trường tài chính Mỹ đã đóng vai trò là hầm chứa lạm phát toàn cầu rất tốt trong suốt thời gian qua. Tuy nhiên, hầm chứa này đang có dấu hiệu đạt tới giới hạn bởi sự thất bại của tăng trưởng kinh tế Mỹ thực, và vấn đề ngân sách công với số nợ công hơn 37 nghìn tỷ và mức lãi suất cao mà Mỹ đang ấn định.

    Hãy so sánh 10 quốc gia có GDP lớn nhất theo danh nghĩa và theo ngang giá sức mua năm 200-

    Bảng so sánh GDP danh nghĩa và GDP theo PPP – Năm 2000

    Xếp hạng


    Quốc gia


    GDP Danh nghĩa (tỉ USD)


    GDP PPP (tỉ USD quốc tế)


    Tỉ lệ PPP / Danh nghĩa

    1


    Hoa Kỳ


    10,251


    10,251


    1.00×

    2


    Nhật Bản


    4,080


    3,699


    0.91×

    3


    Đức


    2,266


    3,405


    1.50×

    4


    Vương quốc Anh


    1,987


    2,430


    1.22×

    5


    Pháp


    1,662


    2,078


    1.25×

    6


    Ý


    1,541


    1,678


    1.09×

    7


    Canada


    1,438


    1,635


    1.14×

    8


    Trung Quốc


    1,211


    3,194


    2.64×

    9


    Mexico


    1,012


    1,628


    1.61×

    10


    Tây Ban Nha


    977


    1,580


    1.62×

    Nguồn: IMF, CEOWORLD

    Trong danh sách này, 10 quốc gia lớn nhất chỉ có 2 thuộc nhóm đang phát triển là Trung Quốc và Mexico với hệ số PPP cao hơn so với mặt bằng chung. Các quốc gia còn lại trong top 10 ngoại trừ Tây Ban Nha và Đức có hệ số PPP tương đối cao, còn lại đều nằm xung quanh 1 lần. Điều này cho thấy mức độ tương đồng tương đối giữa nền kinh tế của các quốc gia phát triển. Trong top 10, kinh tế Mỹ thể hiện sự vượt trội tuyệt đối đều gấp trên 2 lần về quy mô so với quốc gia liền sau trên cả giác độ PPP và Danh nghĩa, và sức mạnh đồng USD trong bối cảnh này cũng tương đối phù hợp với vị thế này.

    Còn đây là bảng so sánh GDP Danh nghĩa và GDP theo PPP năm 2024

    Bảng so sánh GDP danh nghĩa và GDP theo PPP – Năm 2024

    Xếp hạng


    Quốc gia


    GDP Danh nghĩa (tỉ USD)


    GDP PPP (tỉ USD quốc tế)


    Tỉ lệ PPP / Danh nghĩa

    1


    Hoa Kỳ


    30,340


    30,340


    1.00×

    2


    Trung Quốc


    19,530


    37,100


    1.90×

    3


    Đức


    4,920


    6,000


    1.22×

    4


    Nhật Bản


    4,390


    6,720


    1.53×

    5


    Ấn Độ


    4,270


    16,000


    3.75×

    6


    Vương quốc Anh


    3,730


    4,030


    1.08×

    7


    Pháp


    3,280


    3,990


    1.22×

    8


    Ý


    2,460


    3,350


    1.36×

    9


    Canada


    2,330


    2,600


    1.11×

    10


    Brazil


    2,310


    4,700


    2.04×

    Nguồn: IMF, CEOWORLD

    Tại thời điểm 2024, có tới 3 quốc gia đang phát triển nằm trong top 10 thuộc khối BRICS là Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil. Cả 3 quốc gia này đều có hệ số PPP 2 hoặc 4 lần so với Mỹ. Sức mạnh đồng USD so với các quốc gia phát triển còn lại đa phần ổn định, một số có sự suy yếu tương đối so với Mỹ thể hiện ở Nhật Bản, Ý và một số cải thiện như Đức và Anh và điều này cũng phù hợp với vị thế tương ứng của đồng USD so với các quốc gia này. Tuy nhiên, vấn đề phát sinh khi xem xét Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil. Trung Quốc hiện là vị thế thứ 2, với sức mạn tương đối vượt Mỹ ở chỉ tiêu PPP và gấp hơn 60% quy mô nếu tính ở GDP danh nghĩa. Tuy nhiên, hệ số sức mua tương ứng với sức mạnh đồng tiền của Trung Quốc vẫn chỉ bằng ½ so với Mỹ hạ không đáng kể so với giai đoạn thập niên 2000. Điều này cũng tương tự nếu chúng ta xem xét với vị thế của Brazil và Ấn Độ.Thực trạng này cho thấy đồng USD đang được định giá cao hơn giá trị thực trong mối quan hệ tương đối với các quốc gia đang phát triển nằm ngoài phạm vi đồng minh truyền thống của Mỹ. Hiện trạng này rõ ràng tiềm ẩn sự nguy hiểm hơn nhiều khi mà kinh tế Mỹ không còn giữ vị thế độc tôn như giai đoạn 2000.

    Nếu nhìn vào sự thay đổi về nợ công so với GDP của một số quốc gia chủ chốt ở trên, chúng ta cũng thấy rõ sự suy yếu tương đối về tài chính công của Mỹ và đồng minh so với Trung Quốc từ năm 2000 đến 2024: tất cả các quốc gia bao gồm của Mỹ tăng mạnh nợ công vượt mức 100% GDP tại năm 2024 trong khi Trung Quốc vẫn duy trì được tỷ lệ nợ công ở mức 70%.

    Quốc gia


    Tỷ lệ nợ công 2000 (%)


    Tỷ lệ nợ công 2024 (%)

    Mỹ


    55,5


    120

    Trung Quốc


    20


    70

    Nhật Bản


    130


    279

    Đức


    57,6


    62,4

    Anh


    40


    100

    Pháp


    56


    112

    Ý


    107


    145

    Chính sách kinh tế dưới thời Trump (và có thể là Trump 2.0): Không chỉ là bảo hộ thương mại

    Dù thường được giới thiệu như là chính sách bảo hộ hay chiến lược thương mại, các chính sách lớn của ông Trump khiến tôi cảm thấy có một điểm tương đồng: định hình lại vai trò kinh tế - tiền tệ của Mỹ trong hệ thống toàn cầu.

    Mỹ không muốn (và cũng không thể) từ bỏ vị thế của đồng USD như đồng tiền dự trữ quốc tế. Tuy nhiên, Washington cũng không thể mãi duy trì một đồng USD quá mạnh, vì điều đó làm suy yếu năng lực cạnh tranh thương mại, đặc biệt so với Trung Quốc như đã nói ở trên. Những chính sách kinh tế chủ chốt của Trump mang nhiều "vỏ bọc" khác nhau nhưng đều hướng tới một mục tiêu chung: hỗ trợ xử lý nợ công cao và giảm giá trị tương đối của đồng USD.

    Dưới đây là những chính sách cụ thể và mục tiêu tiềm ẩn của chúng:

    1. Áp thuế nhập khẩu toàn diện

    • Chính sách: Đánh thuế 10% lên tất cả hàng nhập khẩu, cao hơn (gấp đôi hoặc hơn) với các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc.
    • Mục tiêu kỳ vọng:
      • Tăng giá hàng hóa nội địa (dẫn đến lạm phát trong nước)
      • Tăng nguồn thu từ thuế (giảm thâm hụt ngân sách)
      • Giảm thâm hụt nhập khẩu khiến cho giảm nhu cầu sử dụng USD của các nước khác, đồng thời điều này cũng làm tăng GDP danh nghĩa của Mỹ
      • Tác động phụ: Làm USD yếu đi hoặc dẫn tới giảm nhu cầu dự trữ ngoại hối bằng USD từ đó có thể gây ra biến động mạnh trong lãi suất và thanh khoản quốc tế.
    2. Dự luật OBBBA: Tăng chi và cắt giảm thuế

    • Chính sách: Chấp nhận bội chi ngân sách, đồng thời giảm thuế.
    • Mục tiêu kỳ vọng:
      • Tăng GDP danh nghĩa (làm tỷ lệ nợ công so với GDP thấp đi)
      • Kích thích kinh tế ngắn hạn
      • Mâu thuẫn: Chính sách này có thể làm nợ công tăng nhanh nếu GDP không tăng kịp.
    3. Ép FED giảm lãi suất điều hành

    • Chính sách: Gây áp lực để Cục Dự trữ Liên bang (FED) hạ lãi suất.
    • Mục tiêu kỳ vọng:
      • Tăng lạm phát trong nước
      • Giảm chi phí trả lãi cho nợ công,
      • Giảm giá trị đồng USD trên thị trường quốc tế
    4. Đưa vàng về nước

    • Chính sách: Hồi hương dự trữ vàng quốc gia.
    • Tác động:
      • Tăng niềm tin vào sức mạnh tài chính Mỹ hỗ trợ quá trình điều chỉnh giá trị USD
      • Có thể dẫn đến tăng giá trị USD trong ngắn hạn (tuy nhiên mang tính biểu tượng nhiều hơn)
    5. Thị trường tài sản "phi mã": Chứng khoán, vàng, Bitcoin tăng mạnh

    • Ý nghĩa:
      • Phản ánh kỳ vọng thị trường về việc USD sẽ mất giá
      • Nhà đầu tư tìm đến tài sản thay thế (vàng, bitcoin) để tránh rủi ro tiền tệ
    6. Cắt giảm chi tiêu ra bên ngoài, thu hẹp hoạt động chính phủ

    • Chính sách:
      • Giảm viện trợ nước ngoài, thu hẹp quy mô chính phủ, cắt giảm phúc lợi xã hội.
    • Mục tiêu:
      • Giảm chi tiêu công, giảm nợ
      • Thu hẹp cung USD toàn cầu
    7. Thu hẹp vai trò toàn cầu của Mỹ, cô lập hóa

    • Chính sách:
      • Rút khỏi các cuộc chiến tranh, giảm can thiệp quân sự và chính trị quốc tế.
    • Mục tiêu:
      • Giảm chi tiêu ngân sách quốc phòng
      • Giảm nhu cầu phát hành USD cho các hoạt động toàn cầu
    Dưới vỏ bọc các chính sách bảo hộ thương mại, cắt giảm thuế hay kiểm soát chi tiêu, Trump và đội ngũ của ông thực chất đang cố tái cấu trúc hệ thống tiền tệ quốc tế theo hướng có lợi hơn cho Mỹ – bằng cách làm suy yếu USD có kiểm soát, giảm gánh nặng nợ công và phục hồi năng lực cạnh tranh quốc tế.

    Đây sẽ là quá trình điều chỉnh đau thương trong nhiệm kỳ này của Trump 3-5 năm tới cho toàn bộ thế giới bởi đồng tiền dự trữ mà phần lớn con người sử dụng làm cơ sở lưu trữ giá trị bị mất giá. Ai sẽ là nạn nhân chính:

    - Người lao động, tầng lớp trung lưu toàn cầu dựa vào tiền lương và tiết kiệm: các đồng tiền dự kiến cũng sẽ mất giá theo vòng xoáy của USD để duy trì lợi thế canh tranh danh nghĩa. Kiểu chiến tranh tiền tệ như vậy cuối cùng chỉ gây ra thiệt hại cho các đối tượng này là chính

    - Châu Âu: đã mất năng lực sản xuất chính, nợ công cao, khả năng phúc lợi giảm mạnh do phụ thuộc nhập khẩu nhiều.

    - Mỹ và Nhật Bản: khối nợ trái phiếu của Mỹ là gánh nặng lớn với dân số già và khả năng sản xuất suy giảm, nền kinh tế phụ thuộc dịch vụ và thiếu sức cạnh tranh sản xuất.

    Ai sẽ là người thắng cuộc?

    - Quốc gia Sở hữu tài sản cứng và năng lực sản xuất (châu Á, Trung Quốc, Nga)

    - Tầng lớp giàu toàn cầu có tài sản chứng khoán, bất động sản, vàng, công nghệ…
  4. tiutiu0209

    tiutiu0209 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    07/10/2005
    Đã được thích:
    36
    giá vàng đang thực sự hiện thực hóa các mốc giá 6000 và 9000, vậy liệu dự kiến USD mất giá 50% có thành hiện thực?

Chia sẻ trang này