Vòng xoáy mới của thị trường chứng khoán :70% xác suất là chỉ số sẽ tìm đáy ở mức sát 400 điểm cho t

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi lequyen2005, 16/07/2009.

161 người đang online, trong đó có 64 thành viên. 01:57 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
Chủ đề này đã có 388 lượt đọc và 8 bài trả lời
  1. lequyen2005

    lequyen2005 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    11/10/2005
    Đã được thích:
    0
    Vòng xoáy mới của thị trường chứng khoán :70% xác suất là chỉ số sẽ tìm đáy ở mức sát 400 điểm cho tới mức 350


    Vòng xoáy mới của thị trường chứng khoán (15/07, 14:23)


    "Triển vọng của VN-Index trong vòng 4-6 tuần tới tương đối tiêu cực về mặt kỹ thuật. Có 70% xác suất là chỉ số sẽ tìm đáy ở mức sát 400 điểm cho tới mức 350 điểm"


    Thị trường Mỹ tăng điểm ngày thứ 2 liên tiếp
    STB đăng ký bán toàn bộ 1,1 triệu cổ phiếu HAG
    CTG: Bao nhiêu cổ phiếu có thể giao dịch ngày chào sàn?



    Vùng hỗ 420-440 điểm đóng vai trò quan trọng



    Chúng tôi sử dụng đồ thị tuần của VN-Index và nhận thấy rằng, xu hướng tăng giá (uptrend line) theo tuần kể từ đầu tháng 3 kéo dài trong vòng 18 tuần cho tới thời điểm hiện tại (xem đồ thị).





    Hỗ trợ cho xu hướng uptrend từ đầu tháng 3 là đường bình quân di động (EMA) 10 tuần - tương đương với đường bình quân 50 ngày. Hiện nay, vùng 420 - 440 đang là nơi hội tụ của uptrend line và EMA 10 tuần, do đó việc VN-Index duy trì trên vùng này đóng vai trò quan trọng tới xu hướng trung hạn 1 - 3 tháng tới của thị trường.



    Xu hướng tăng giá sẽ được duy trì khi những cú điều chỉnh của nó không vượt quá mức Fibonacci Retracement 38,2% hiện đang nằm tại xấp xỉ 415 điểm.



    Xu hướng giảm giá gần đây nghiêm trọng tới mức nào ?



    Rõ ràng là khi luồng tiền nóng được rút ra khỏi thị trường, giới đầu tư đã có những thời khắc hoảng sợ khi VN-Index mất gần 100 điểm, từ mức 520 điểm rồi biến động một cách trồi sụt kèm theo khối lượng giao dịch ngày càng giảm. Xu hướng giảm giá (downtrend line) xuất hiện từ trung tuần tháng 6 tới nay, nhất là khi xem xét các chỉ báo kỹ thuật theo tuần khác như sau.



    - Parabolic SAR đang chỉ báo xu hướng giảm giá hoặc giảm giá đồng thời củng cố (tích luỹ) trong vòng nhiều tuần tới Trong các trường hợp PSAR cho dấu hiệu tương tự trong quá khứ, quá trình giảm giá hoặc tích luỹ của VN-Index kéo dài ngắn nhất 7 tuần (tháng 3, 4/2007), dài nhất 27 tuần (12/2007 - 6/2008).



    - Money Flow Index (chỉ số dòng tiền MFI 6 tuần) đang suy giảm nhanh và mạnh từ mức đỉnh 100. Một quá trình tăng mạnh của chỉ số dòng tiền lên mức 80 - 100 tương ứng với quá trình tăng giá mạnh của thị trường thường kéo theo một quá trình điều chỉnh sâu với chỉ số MFI suy giảm về các mức rất thấp 0 - 20. Điều này minh hoạ cho sự trồi sụt thất thường của TTCK về điểm số và giá trị giao dịch. Trong thời điểm hiện tại, chỉ số MFI có khả năng trở về khu vực 0 - 20.



    - RSI (Relative Strength lndex) và MACD liệu có lập lại mẫu hình của tháng 9/2008? Quá trình tăng giá vừa qua và đợt tăng giá trong mùa hè năm ngoái có nhiều điểm tương đồng về mặt diễn biến của các chỉ báo kỹ thuật. Diễn biến giảm giá từ đỉnh trong 3 - 4 tuần qua cũng khá tương đồng.



    Có thể lịch sử không hoàn toàn lặp lại nhưng rủi ro suy giảm trong vòng 4 - 10 tuần nữa của thị trường là rất đáng được quan tâm. Thanh khoản suy giảm, TTCK thế giới điều chỉnh và tín dụng tăng chậm lại là nguy cơ cho thị trường trong thời gian tới.



    Diễn biến trung tuần tháng 7 có thể quyết định xu thế



    Trong 1 - 2 tuần tới, nếu VN-Index tăng vượt mức 470 điểm với khối lượng giao dịch thuyết phục thì uptrend line có thể được duy trì, thị trường vẫn còn nhiều niềm tin và sự hào hứng. Điều đó sẽ dẫn đến việc 422 điểm gần như là một mức đáy vững chắc của VN-Index trong vòng vài ba tháng tới và nếu thị trường vượt qua được mùa hè thì khả năng khôi phục trên 500 điểm là khá cao.



    Ở chiều ngược lại, nếu VN-Index kiểm tra lại đáy 422 điểm thì có thể thấy, động lực tăng giá của thị trường là rất yếu. Trong trường hợp này, downtrend line được khẳng định chắc chắn hơn và xác suất VN-Index không phá vỡ mức 420 điểm là rất cao trong bối cảnh thanh khoản yếu .



    Ngay cả trường hợp VN-Index không phá vỡ mức 420 điểm thì quá trình giao dịch sideways quanh vùng 420-450 điểm gần như sẽ kéo dài nhiều tuần.



    Đáy của đợt điều chỉnh và thời điểm mua vào



    Trên khía cạnh phân tích kỹ thuật, chúng tôi đưa ra một số kịch bản về vùng đáy của đợt điều chỉnh hiện tại, thời điểm tạo đáy cũng như một số điều kiện kỹ thuật kèm theo .



    Các dự án của chúng tôi cho thấy triển vọng của VN-Index trong vòng 4-6 tuần tới tương đối tiêu cực về mặt kỹ thuật. Có 70% xác suất là chỉ số sẽ tìm đáy ở mức sát 400 điểm cho tới mức 350 điểm. Tuy nhiên , nhà đầu tư không nên quá lo lắng, mà nên coi đây là cơ hội mua vào tích lũy các cổ phiếu tốt , bởi triển vọng dài hạn của TTCK cuối năm 2009 và năm 2010 khá sáng sủa , mặc dù cuộc phục hồi hiện tại của thị trường buộc phải trải qua một số giai đoạn tương đối gập ghềnh và đầy hoài nghi.



    http://www.stox.vn/stox/view_news_detail.asp?id=30791&menuID=1&categoryID=179
  2. fish79

    fish79 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    03/06/2008
    Đã được thích:
    0
    bố chủ topic này giọng văn như vothuong,tiềnít thích hít của thơm,bài toàn đi copy từ từ bên nọ sang bên kia,chính kiến không có,toàn là hô nào thì sập,nào thì bem,mịa ko biết dựa cột mà nghe người ta đỡ chối
  3. lequyen2005

    lequyen2005 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    11/10/2005
    Đã được thích:
    0
    Lạm phát cao có thể quay lại ngay trong năm 2009
    Thứ sáu, 17/7/2009, 06:06 GMT+7
    6 tháng đầu năm, lạm phát thấp và dự kiến cả năm sẽ dưới 10% như dự báo của Chính phủ. Tuy nhiên, ngay từ bây giờ đã xuất hiện những dấu hiệu cho thấy, nguy cơ lạm phát có thể đến sớm ngay trong năm 2009, nếu nguồn tiền khổng lồ từ các gói kích cầu không được quản lý và sử dụng hiệu quả.


    Một số chuyên gia kinh tế, giá cả đã nhìn nhận như vậy tại một cuộc hội thảo do Viện Khoa học giá cả tổ chức ngày 16/7 tại Hà Nội.


    Theo ông Nguyễn Minh Phong - Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế xã hội Hà Nội, trong 6 tháng đầu năm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) không cao nhưng tăng chắc và nhanh trong những tháng gần đây.


    "Xu hướng tăng nhanh trong 3 tháng quý 2/2009 một mặt thể hiện sự hồi phục đáng kể của nền kinh tế, mặt khác cũng cho thấy dấu hiệu gia tăng mạnh dần các tác động của chính sách nới lỏng tiền tệ trong khuôn khổ các gói kích cầu của Việt Nam"- ông Phong nói.


    Ông Phong cảnh báo, độ trễ của các chính sách tiền tệ thường từ 3 - 6 tháng nên rất có khả năng chỉ số giá (CPI) tăng mạnh vào những tháng cuối năm.


    Cũng có cách nhìn nhận như vậy, ông Nguyễn Đức Thắng, Phó Vụ trưởng Vụ Thương mại Dịch vụ và giá cả (Tổng cục Thống kê), cho rằng, thực hiện kích cầu, một lượng tiền lớn được đưa ra trong những tháng gần đây và những tháng tiếp theo sẽ làm giá cả tăng lên.


    Thực tế việc nới lỏng chính sách tiền tệ và kích cầu đầu tư tiêu dùng đã góp phần làm cho tín dụng tăng trở lại khá nhanh.


    Số liệu thống kê cho thấy, đầu năm 2009, Chính phủ đề ra mức tăng trưởng tín dụng là 21 - 23%, nhưng để ngăn chặn suy giảm kinh tế đã chấp nhận đề xuất của Ngân hàng Nhà nước nâng lên tối đa 30%.


    Gần đây, nền kinh tế đã có dấu hiệu hồi phục, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp tăng lên, các ngân hàng có thời cơ tăng tín dụng. Tuy nhiên, khi tín dụng tăng lên đột ngột cũng chính là thời điểm nguy cơ rủi ro tín dụng rất cao.


    Do vậy, các ngân hàng cần kiểm soát chặt chẽ mức tăng trưởng tín dụng cho phù hợp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế.


    Ông Thắng cảnh báo, sự nới lỏng là cần thiết, nhưng cần có sự kiểm soát chất lượng chặt chẽ, điều hành thận trọng theo diễn biến giá cả thị trường trong nước và thế giới, để chủ động ngăn chặn lạm phát quay trở lại.


    Theo bà Phan Thanh Hà, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính-Tiền tệ (Bộ KH-ĐT), tín dụng tăng trưởng đến 17% trong 6 tháng đầu năm là kết quả của chính sách hỗ trợ lãi suất. Chính sách này sẽ còn tiếp tục đến hết năm 2009 và trong năm tiếp theo.


    "Với tác động độ trễ của tiền cung ứng khoảng 6 tháng, nếu không có biện pháp hút tiền về trong những tháng sắp tới thì tác động tăng mạnh lạm phát sẽ diễn ra ngay trong năm 2009 chứ không phải chờ đến 2010"- bà Hà phân tích.


    Một kịch bản đáng ngại hơn được ông Nguyễn Minh Phong cảnh báo, xu hướng gia tăng các tác động độ trễ và trái chiều của các chính sách kích cầu trong nước và quốc tế, sự hồi phục của kinh tế thế giới khiến cho CPI có thể chạm ngưỡng hai con số và tối đa lên đến 13 - 15% so với cùng kỳ 2008.


    Để tránh tái lạm phát, đảm bảo hiệu quả từ nguồn tiền kích cầu, Phó Giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Thường Lạng (Đại học Kinh tế Quốc dân) đề xuất, ngay từ bây giờ, cần rà soát lại việc thực hiện, thẩm định hiệu quả các dự án sử dụng gói kích cầu nhằm thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm cho người dân mang lại những hiệu ứng tích cực giải hạn, tránh tình trạng thất thoát gói kích cầu sẽ tạo hiệu ứng không lớn đối với DN và tác động tiêu cực cho nền kinh tế


    Tiến sỹ Vũ Đình Ánh - Viện phó Viện Nghiên cứu Khoa học thị trường giá cả cũng cho rằng, hiện có những ý kiến cho rằng, vòng xoáy tăng giá những nguyên liệu cơ bản như xăng, dầu... nhất là hệ quả trực tiếp của nới lỏng chính sách tiền tệ liên quan đến gói kích cầu 8 - 9 tỷ USD, khiến thâm hụt ngân sách đến 8%, nợ xấu ngân hàng thương mại tăng lên, bất ổn trên thị trường tỷ giá.


    Đó thực sự là gánh nặng dồn lên giá cả cuối năm.(Nguồn: VNN, 16/7)


  4. lequyen2005

    lequyen2005 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    11/10/2005
    Đã được thích:
    0
    Lạm phát cao có thể quay lại ngay trong năm 2009
    Thứ sáu, 17/7/2009, 06:06 GMT+7
    6 tháng đầu năm, lạm phát thấp và dự kiến cả năm sẽ dưới 10% như dự báo của Chính phủ. Tuy nhiên, ngay từ bây giờ đã xuất hiện những dấu hiệu cho thấy, nguy cơ lạm phát có thể đến sớm ngay trong năm 2009, nếu nguồn tiền khổng lồ từ các gói kích cầu không được quản lý và sử dụng hiệu quả.


    Một số chuyên gia kinh tế, giá cả đã nhìn nhận như vậy tại một cuộc hội thảo do Viện Khoa học giá cả tổ chức ngày 16/7 tại Hà Nội.


    Theo ông Nguyễn Minh Phong - Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế xã hội Hà Nội, trong 6 tháng đầu năm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) không cao nhưng tăng chắc và nhanh trong những tháng gần đây.


    "Xu hướng tăng nhanh trong 3 tháng quý 2/2009 một mặt thể hiện sự hồi phục đáng kể của nền kinh tế, mặt khác cũng cho thấy dấu hiệu gia tăng mạnh dần các tác động của chính sách nới lỏng tiền tệ trong khuôn khổ các gói kích cầu của Việt Nam"- ông Phong nói.


    Ông Phong cảnh báo, độ trễ của các chính sách tiền tệ thường từ 3 - 6 tháng nên rất có khả năng chỉ số giá (CPI) tăng mạnh vào những tháng cuối năm.


    Cũng có cách nhìn nhận như vậy, ông Nguyễn Đức Thắng, Phó Vụ trưởng Vụ Thương mại Dịch vụ và giá cả (Tổng cục Thống kê), cho rằng, thực hiện kích cầu, một lượng tiền lớn được đưa ra trong những tháng gần đây và những tháng tiếp theo sẽ làm giá cả tăng lên.


    Thực tế việc nới lỏng chính sách tiền tệ và kích cầu đầu tư tiêu dùng đã góp phần làm cho tín dụng tăng trở lại khá nhanh.


    Số liệu thống kê cho thấy, đầu năm 2009, Chính phủ đề ra mức tăng trưởng tín dụng là 21 - 23%, nhưng để ngăn chặn suy giảm kinh tế đã chấp nhận đề xuất của Ngân hàng Nhà nước nâng lên tối đa 30%.


    Gần đây, nền kinh tế đã có dấu hiệu hồi phục, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp tăng lên, các ngân hàng có thời cơ tăng tín dụng. Tuy nhiên, khi tín dụng tăng lên đột ngột cũng chính là thời điểm nguy cơ rủi ro tín dụng rất cao.


    Do vậy, các ngân hàng cần kiểm soát chặt chẽ mức tăng trưởng tín dụng cho phù hợp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế.


    Ông Thắng cảnh báo, sự nới lỏng là cần thiết, nhưng cần có sự kiểm soát chất lượng chặt chẽ, điều hành thận trọng theo diễn biến giá cả thị trường trong nước và thế giới, để chủ động ngăn chặn lạm phát quay trở lại.


    Theo bà Phan Thanh Hà, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính-Tiền tệ (Bộ KH-ĐT), tín dụng tăng trưởng đến 17% trong 6 tháng đầu năm là kết quả của chính sách hỗ trợ lãi suất. Chính sách này sẽ còn tiếp tục đến hết năm 2009 và trong năm tiếp theo.


    "Với tác động độ trễ của tiền cung ứng khoảng 6 tháng, nếu không có biện pháp hút tiền về trong những tháng sắp tới thì tác động tăng mạnh lạm phát sẽ diễn ra ngay trong năm 2009 chứ không phải chờ đến 2010"- bà Hà phân tích.


    Một kịch bản đáng ngại hơn được ông Nguyễn Minh Phong cảnh báo, xu hướng gia tăng các tác động độ trễ và trái chiều của các chính sách kích cầu trong nước và quốc tế, sự hồi phục của kinh tế thế giới khiến cho CPI có thể chạm ngưỡng hai con số và tối đa lên đến 13 - 15% so với cùng kỳ 2008.


    Để tránh tái lạm phát, đảm bảo hiệu quả từ nguồn tiền kích cầu, Phó Giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Thường Lạng (Đại học Kinh tế Quốc dân) đề xuất, ngay từ bây giờ, cần rà soát lại việc thực hiện, thẩm định hiệu quả các dự án sử dụng gói kích cầu nhằm thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm cho người dân mang lại những hiệu ứng tích cực giải hạn, tránh tình trạng thất thoát gói kích cầu sẽ tạo hiệu ứng không lớn đối với DN và tác động tiêu cực cho nền kinh tế


    Tiến sỹ Vũ Đình Ánh - Viện phó Viện Nghiên cứu Khoa học thị trường giá cả cũng cho rằng, hiện có những ý kiến cho rằng, vòng xoáy tăng giá những nguyên liệu cơ bản như xăng, dầu... nhất là hệ quả trực tiếp của nới lỏng chính sách tiền tệ liên quan đến gói kích cầu 8 - 9 tỷ USD, khiến thâm hụt ngân sách đến 8%, nợ xấu ngân hàng thương mại tăng lên, bất ổn trên thị trường tỷ giá.


    Đó thực sự là gánh nặng dồn lên giá cả cuối năm.(Nguồn: VNN, 16/7)


  5. lequyen2005

    lequyen2005 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    11/10/2005
    Đã được thích:
    0
  6. giacmotrua26

    giacmotrua26 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2009
    Đã được thích:
    0
    Hôm nay, Tây bắt đầu bán ròng rùi bác nhỉ, chắc nó cũng sợ chết rồi.
  7. giacmotrua26

    giacmotrua26 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2009
    Đã được thích:
    0
    Khủng hoảng kinh tế làm tăng nợ xấu ngân hàng
    Thứ sáu, 17/7/2009, 09:37 GMT+7
    Nợ xấu ngân hàng (NH) đã tăng đáng kể trong 6 tháng đầu năm do ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu. Đó là nhận định của các chuyên gia trong hội thảo Quản lý nợ xấu tại VN, kinh nghiệm quốc tế và các chiến lược tối đa hoá lợi nhuận cho các NH do Hiệp hội NH VN (VNBA) tổ chức ngày 16.7 tại TP.HCM.


    Theo số liệu từ hội thảo, tỷ lệ nợ khó đòi hiện nay của VN khoảng 5% tổng dư nợ tín dụng. Mặc dù tín dụng tăng trưởng cao trong 6 tháng đầu năm (17%) nhưng xuất khẩu lại giảm. Nhiều doanh nghiệp (DN) khó khăn về thị trường vì vậy cũng gặp khó khăn trong thanh toán nợ NH. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nợ xấu cao hiện nay. Kết quả từ một cuộc khảo sát 2008 cho thấy có đến 50% DN vừa và nhỏ trong tình trạng không trả được nợ.


    Theo bà Dương Thu Hương - Tổng thư ký VNBA, bên cạnh yếu tố khách quan do suy thoái kinh tế toàn cầu, tỷ lệ nợ xấu cao cũng do trình độ thẩm định hạn chế của nhân viên NH. Mặc dù vậy, bà Hương cho rằng tỷ lệ nợ xấu của VN không cao như thế mà chỉ ở mức 2,6% và vẫn nằm trong tỷ lệ an toàn cho phép của NH Nhà nước. Cuối năm 2008, tỷ lệ nợ xấu khoảng 2,1%.(Nguồn: TN, 17/7)


  8. lequyen2005

    lequyen2005 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    11/10/2005
    Đã được thích:
    0
    Các ngân hàng bắt đầu siết tín dụng, mảng bị hy sinh đầu tiên là tín dụng tiêu dùng, bị tác động tức thời là giá cổ phiếu.




    Thuỳ Lan, nhân viên một công ty nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, vào tuần trước đã phải từ bỏ ý định vay ở một ngân hàng khi đứng trước bảng yêu cầu hồ sơ của nhân viên tín dụng: giấy phép đầu tư của công ty, chứng nhận công ty có lãi trong hai năm gần nhất, và vốn đầu tư phải từ 1 triệu USD trở lên. Công ty không thể đưa ra những giấy tờ trên.



    Siết tiêu dùng, ngừng tín chấp


    Các tiêu chuẩn vay tiêu dùng, trước kia dừng lại ở mức tạo sự tiện lợi cho người tiêu dùng, nay đã dần bị nâng lên. Ở một ngân hàng TMCP mà trước kia mạnh tay trong mảng tín dụng tiêu dùng, đã nâng mức lương tối thiểu để vay từ 3 lên 5 triệu đồng, và đang dự định mức mới là 10 triệu đồng.


    Đồng thời tập trung cho vay tiêu dùng những người cư trú có hộ khẩu tại TP.HCM, còn KT3 thì phải tạm trú cả chục năm. Giám đốc khối khách hàng cá nhân ngân hàng này còn cho biết, hiện chỉ tập trung cho vay nhóm mua nhà ở, còn lại thì giảm dần.

    Tại ngân hàng Đông Á, người vay tín chấp có doanh nghiệp chi lương qua Đông Á được vay ba lần mức lương, tối đa vay 50 triệu đồng. Nếu lương được chi qua các ngân hàng thương mại khác, người vay được vay tối đa hai tháng lương, nhưng không vượt quá 3 triệu đồng.


    Cả với dịch vụ thấu chi, tối đa cũng 50 triệu đồng. Còn ACB, mức tối đa là 60 triệu đồng với bốn lần mức lương. Techcombank đã ngưng cho vay tiêu dùng tín chấp từ tháng 5 vừa qua.

    Tăng trưởng tín dụng sẽ giảm?

    Lợi nhuận của các ngân hàng trong sáu tháng đầu năm, thu nhập từ lãi chiếm từ 70 ?" 90%, vẫn là nguồn thu nhập chủ yếu của các ngân hàng. Vì vậy, lợi nhuận các ngân hàng chỉ cao hơn mong đợi khi nguồn này chiếm tỷ lệ cao.

    Có hai nhân tố dẫn đến tăng thu nhập từ lãi, đó là tăng trưởng tín dụng cao và tỷ lệ thu nhập lãi biên (NIM) được cải thiện. NIM, chi phí huy động vốn thấp thời gian qua đã tạo thuận lợi cho ngân hàng trong đàm phán lãi suất cho vay.

    Tăng trưởng tín dụng sáu tháng đầu năm ở mức 17% so với 17,53% của cùng kỳ năm ngoái, theo ngân hàng Nhà nước (NHNN). Tăng trưởng tín dụng trong năm nay được cho là sẽ không vượt quá 30%. Nghĩa là, tín dụng đã vượt hơn 50% kế hoạch 2009, và sẽ không thể vượt mức tăng 12,5% cho sáu tháng còn lại.

    Trong bản tin hằng ngày (15.7), công ty Chứng khoán TP.HCM (HSC) tính toán, sáu tháng đầu năm, có ngân hàng như Techcombank đã vượt 100% kế hoạch tăng trưởng tín dụng của năm. Còn so với cuối năm 2008, ACB đã tăng tín dụng hơn 45%, Eximbank tăng 43%, Sacombank tăng 37% ABBANK tăng 33%...

    Theo HSC, dựa vào tình hình kinh tế vĩ mô còn nhiều khó khăn, việc tăng trưởng tín dụng cao sẽ không phải là sự tăng trưởng bền vững và gây áp lực tăng lạm phát lên trong năm 2010. Chính vì vậy, NHNN đã bộc lộ sự lo lắng và thực hiện kiềm chế tăng trưởng tín dụng.


    Trong cuộc họp ngày thứ ba đầu tuần này, ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các ngân hàng thương mại phải kiểm soát tín dụng chặt chẽ, không được hạ thấp điều kiện tín dụng, và tập trung mở rộng tín dụng đối với lĩnh vực sản xuất, giảm tín dụng phi sản xuất.

    NHNN cũng đang xem xét thay đổi một số điều khoản trong quyết định số 457 quy định tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng. Trong đó, điểm đáng chú ý là xem xét giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn từ 40% xuống 30%. Như vậy, ngân hàng nào có tỷ lệ này cao phải giảm dư nợ cho vay trung dài hạn, tăng huy động và tìm kiếm nguồn vốn mới.

    Nếu sửa đổi được thực hiện, HSC cho rằng, các ngân hàng sẽ tìm kiếm nguồn mới bằng cách phát hành trái phiếu. Như BIDV, tính đến cuối năm 2008, với tỷ lệ cho vay trung dài hạn 19,5%, Sacombank 22% đã có kế hoạch phát hành trái phiếu sáu tháng cuối năm.

    Việc tăng trưởng tín dụng nhanh trong sáu tháng đầu năm đã là câu chuyện của quá khứ, và có thể lợi nhuận sáu tháng cuối năm của các ngân hàng sẽ không đạt mức cao như trong sáu tháng đầu năm. Đồng thời, việc giảm tăng trưởng tín dụng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.

    Theo Hồng Sương
    SGTT


  9. lequyen2005

    lequyen2005 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    11/10/2005
    Đã được thích:
    0
    Rủi ro nợ xấu: Chưa dễ đánh giá!
    Có 20% DN nhỏ và vừa chịu ảnh hưởng nặng nề từ khủng hoảng toàn cầu và 50% sắp trong tình trạng không trả được nợ.


    Luật sư Văn phòng luật sư Leadco, ông Alexandre Legendre nhận định, khả năng tỷ lệ nợ khó đòi của ngành ngân hàng sẽ tăng so với con số được công bố chính thức là 5%, bởi các công ty xuất khẩu bị ảnh hưởng khá mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

    Theo ông Alexandre, cuộc khảo sát năm 2008 cho thấy, có 20% DN nhỏ và vừa chịu ảnh hưởng nặng nề từ khủng hoảng toàn cầu và 50% sắp trong tình trạng không trả được nợ, do đó rất khó để đánh giá đúng tỷ lệ thực của nợ khó đòi.

    Các chuyên gia trong ngành ngân hàng nhận định, sau khủng hoảng sẽ khó tránh được tình trạng nợ khó đòi gia tăng. Vì vậy, với các ngân hàng, phát triển tín dụng trong bối cảnh hiện nay cần có sự kiểm soát chặt điều kiện cho vay.

    Theo đánh giá của ông Matthew Lourey, Giám đốc Khối dịch vụ tư vấn tài chính DN của Grant Thornton Việt Nam, hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển nhanh, nhưng vẫn chưa hoàn thiện.

    Trong khi đó, thị trường tín dụng phát triển tương đối mạnh. Các DN có thể tiếp cận vốn từ nhiều nguồn cung cấp tài chính một cách khá dễ dàng. Chính điều này sẽ dẫn đến nguy cơ rủi ro nợ xấu gia tăng.

    Để hạn chế rủi ro và xử lý tình trạng nợ xấu, ông Matthew Lourey cho rằng, điều quan trọng là các ngân hàng cần nắm bắt được tình hình hoạt động của DN để tìm ra biện pháp tốt nhằm kiểm soát và hạn chế tối đa nguy cơ nợ xấu, nhất là khi thị trường có khó khăn.

    Ông Philip Paterson, Giám đốc Bộ phận khách hàng DN và các định chế tài chính ANZ cho rằng, ngân hàng là một ngành kinh doanh rủi ro. Do đó, nếu ngân hàng nào không chấp nhận rủi ro thì sẽ không có lợi nhuận. Các khoản nợ xấu là một phần trong việc kinh doanh của các ngân hàng.

    Tuy nhiên, các khoản rủi ro đó phải ở mức chấp nhận được. Đồng thời, hệ thống quản lý rủi ro của ngân hàng phải luôn sẵn sàng. Điều này đã được các ngân hàng quốc tế, trong đó có ANZ quan tâm đặc biệt. Các ngân hàng trên thế giới đều có phòng quản lý rủi ro được điều hành bởi những chuyên viên giàu kinh nghiệm.

    Theo ông Philip, vai trò của phòng quản lý rủi ro không phải chỉ để đòi lại khoản vốn hay phát mãi tài sản thế chấp, mà họ chính là những người được tham gia giải quyết các khoản nợ xấu một cách sớm nhất để có thể tránh hậu quả xấu. Các khoản vay có thể được tái cơ cấu, bán một phần tài sản, tăng vốn, tìm nhà đầu tư mới mua lại khoản nợ?

    "Nếu những người quản lý rủi ro được tham gia giải quyết vấn đề càng sớm chừng nào thì ngân hàng sẽ có nhiều sự lựa chọn chừng ấy. Tuy nhiên, phòng quản lý rủi ro không phải cứu được tất cả các khoản nợ xấu, mà quyết định quan trọng là khi nào biết và phát mãi tài sản cầm cố", ông Philip nói.

    Nhưng làm thế nào để phát hiện những khoản nợ xấu luôn là vấn đề cần được ngân hàng quan tâm. Theo ông Philip, có 2 bước để có thể phát hiện nợ xấu. Thứ nhất, xem xét tình hình khoản vay và nếu khoản vay xấu, tức là ngân hàng đã đánh giá sai khi xét duyệt, thì cần phải đánh giá lại chứng từ, dòng tiền ngắn hạn, tài sản thế chấp.

    Đồng thời, đánh giá phải được tiến hành thực hiện bởi những nhân viên giàu kinh nghiệm, trước đó chưa từng làm việc với khách hàng này. Bước kế tiếp là kế hoạch hành động và sau đó là tiền hành kiểm tra. Song, các đánh giá không phải để tìm kiếm lý do "tại sao khoản vay trở thành nợ xấu", mà chính là tìm kiếm một giải pháp tốt để xử lý.

    Tuy nhiên, ông Philip cho rằng, điều quan trọng nhất để quản lý rủi ro nợ xấu là các ngân hàng cần có kinh nghiệm và am hiểu thị trường.

    Mặt khác, các chuyên viên quan hệ khách hàng phải báo ngay cho cấp có thẩm quyền về vấn đề tiềm ẩn nợ xấu để có những bước chuẩn bị thích hợp. Ngoài ra, ngân hàng có thể đầu tư thêm tiền khi khách hàng gặp khó khăn để giúp họ vượt qua.


    Theo Vân Linh
    ĐTCK

Chia sẻ trang này