VSC lãi trước thuế kỷ lục 483 tỷ đồng 2021, giá mục tiêu 60k

Chủ đề trong 'Thị trường chứng khoán' bởi NamFERARI, 21/03/2022.

171 người đang online, trong đó có 68 thành viên. 01:48 (UTC+07:00) Bangkok, Hanoi, Jakarta
  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
Chủ đề này đã có 10576 lượt đọc và 46 bài trả lời
  1. NamFERARI

    NamFERARI Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    15/04/2014
    Đã được thích:
    5.318
  2. NamFERARI

    NamFERARI Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    15/04/2014
    Đã được thích:
    5.318
    SAFI không còn là cổ đông lớn tại Viconship
    Đại Lý Vận Tải SAFI hoàn tất bán ra 600.000 cổ phiếu VSC. SAFI giảm sở hữu xuống 4,53% vốn điều lệ, không còn là cổ đông lớn tại Container Việt Nam. Đóng cửa phiên giao dịch ngày 21/3, cổ phiếu VSC có 44.800 đồng/cp.

    [​IMG]
    Vy Anh Thứ ba, 22/3/2022, 13:13 (GMT+7)

    Đại Lý Vận Tải SAFI (HoSE:SFI) đã bán ra 600.000 cổ phiếu của Container Việt Nam (Viconship - HoSE:VSC) từ 11/3 đến 21/3 theo phương thức khớp lệnh. Sau giao dịch, SAFI giảm sở hữu từ 5,07% xuống 4,53% vốn điều lệ, tương đương 5 triệu cổ phiếu, qua đó không còn là cổ đông lớn tại Container Việt Nam.

    Trước đó, từ 3/3 đến 7/3, SAFI cũng vừa bán ra 800.000 cổ phiếu VSC để giảm sở hữu từ 5,8% về còn 5,07% vốn điều lệ.

    Đại Lý Vận Tải SAFI là tổ chức có liên quan của người nội bộ Viconship. Tổng Giám đốc SAFI Nguyễn Hoàng Anh là thành viên HĐQT Container Việt Nam. Tuy nhiên, vì lí do cá nhân, ngày 8/3, ông Nguyễn Hoàng Anh đã làm đơn xin từ nhiệm vị trí Thành viên HĐQT nhiệm kỳ 2020 - 2025.

    Tại thời điểm cuối năm 2021, SAFI có khoản chứng khoán kinh doanh 16 tỷ đồng, gấp nhiều lần con số 4 tỷ cùng kỳ năm 2020, chủ yếu đầu tư cổ phiếu VNM. Khoản góp vốn vào đơn vị khác giá gốc 191 tỷ đồng, giá trị hợp lý 351,6 tỷ đồng. Riêng khoản đầu tư vào Container Việt Nam giá gốc 119 tỷ đồng, giá trị hợp lý 278 tỷ đồng.

    Trong năm 2021, Viconship ghi nhận doanh thu thuần tăng 12%, đạt hơn 1.892 tỷ đồng, tăng 12% Lợi nhuận sau thuế đạt 414 tỷ đồng, tăng 39,6% so với năm 2020 và vượt 44% kế hoạch năm. Nguyên nhân là do doanh thu từ cung cấp dịch vụ tăng 12,4% so với cùng kỳ, chi phí sản xuất và chi phí bán hàng giảm, năng suất lao động nâng cao, chất lượng dịch vụ tiếp tục được cải thiện.

    Đóng cửa phiên giao dịch ngày 21/3, cổ phiếu VSC có 44.800 đồng/cp, giảm 7% so với mức đỉnh 48.180/cp ngày 11/3.

    [​IMG]
    Cổ phiếu VSC có giá 44.800 đồng/cp. Ảnh: TradingView
  3. NamFERARI

    NamFERARI Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    15/04/2014
    Đã được thích:
    5.318
    Ngành cảng biển: Tăng trưởng vững chắc
    Chuyên mục: KT vĩ mô
    Xem tiện ích cảnh báo giá CK
    [​IMG]
    Trong năm 2021, các doanh nghiệp chủ chốt ngành Cảng biển có doanh thu cải thiện. Trong đó SGP, STG, GMD, CDN ghi nhận doanh thu tăng mạnh. Bên cạnh đó, lợi nhuận hoạt động và lợi nhuận sau thuế hầu hết doanh nghiệp cũng ghi nhận tăng trưởng so với năm trước.

    Cập nhật KQKD 2021: Tăng trưởng mạnh
    Trong năm 2021, các doanh nghiệp chủ chốt ngành Cảng biển có doanh thu cải thiện. Trong đó SGP, STG, GMD, CDN ghi nhận doanh thu tăng mạnh. Bên cạnh đó, lợi nhuận hoạt động và lợi nhuận sau thuế hầu hết doanh nghiệp cũng ghi nhận tăng trưởng so với năm trước. Tiêu biểu là SGP, STG, GMD, VSC.
    Biến động giá cổ phiếu trong năm vừa qua cũng phản ánh khá sát với KQKD của các doanh nghiệp tương quan với thị trường. Ở sàn HOSE, GMD, STG, VSC ghi nhận diễn biến giá vượt trội so với VN-Index trong khi PDN, DVP kém hiệu quả hơn. Tương tự, ở sàn HNX, SGP với sự nhảy vọt về DT và LNST, có biến động giá vượt trội so với HNX, trong lúc hầu hết các doanh nghiệp cảng biển khác như VGP, PHP, CDN, TCW kém hiệu quả hơn
    [​IMG]
    [​IMG]
    Cập nhật hoạt động XNK và thông quan hàng hóa
    Giá trị XNK tăng mạnh, sản lượng thông quan chậm lại: Trong năm 2021, kim ngạch XNK tăng mạnh 22.9% CK, đạt hơn 670 tỷ USD. Tổng KL thông quan cảng biển đạt hơn 706 triệu tấn (+2.5% CK). Sản lượng container thông quan đạt gần 24 triệu TEU (+8.4% CK). Mặt dù giá trị XNK tăng mạnh (so với mức 5.4% năm 2020), tăng trưởng sản lượng thông quan lại có tín hiệu chậm lại cả về khối lượng (so với mức 3.7% năm 2020) và sản lượng container (so với mức 12.8% năm 2020).
    Trong 2T2022, sự khác biệt này tiếp tục diễn ra khi giá trị XNK 2T2022 ước đạt 108.4 tỷ USD (+13.1% CK) trong khi khối lượng thông quan ước tính chỉ tăng 7% CK lên mức 116.8 triệu tấn và sản lượng container ghi nhận giảm nhẹ 1%, ước đạt 3.8 triệu TEU.
    Chúng tôi cho rằng cơ cấu hàng XNK thay đổi là nguyên nhân chính dẫn đến sự sai biệt trong tăng trưởng của giá trị XNK và KL thông quan khi các sản phẩm công nghệ như linh kiện điện tử, máy ảnh, điện thoại, máy móc phụ tùng – những hàng hóa có hệ số giá trị cao – tiếp tục ghi nhận tăng trưởng cao trong khi các sản phẩm XK truyền thống dệt may, gia giày, gỗ nội thất có mức tăng trưởng thấp hơn. Xu hướng này nhiều khả năng sẽ tiếp diễn trong tương lai khi thu hút FDI và sản xuất công nghiệp các sản phẩm công nghệ cao đang được ưu tiên và có khả năng tăng trưởng nhanh hơn các sản phẩm truyền thống. Điều này được thể hiện phần nào khi hệ số vốn FDI công nghiệp đăng ký/DA liên tục tăng từ năm 2018
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    Quy hoạch cảng biển đến năm 2030
    Tốc độ tăng trưởng công suất dự kiến 6%/năm
    Ngày 22/9/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1579/QĐ-TTg Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó:
    Tổng năng lực đáp ứng thông quan hàng hóa đến năm 2030 đạt 1,140 – 1,423 triệu tấn (trong đó container từ 38 – 47 triệu TEU). So với sản lượng thông quan năm 2021 là 706 triệu tấn và 24 triệu TEU, với mục tiêu này, tổng công suất hệ thống cảng biển được kỳ vọng sẽ tăng trung bình 6%/năm giai đoạn 2021 – 2030.
    Nhóm cảng biển số 1: Gồm 05 cảng biển: Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình. Đến năm 2030, KL hàng hóa thông quan từ 305-367 triệu tấn (riêng hàng container từ 11-15 triệu TEU). Tốc độ tăng trưởng công suất trung bình đến 2050 khoảng 5-5.3%/năm.
    Nhóm cảng biển số 2: Gồm 06 cảng biển: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, TT-Huế. Đến năm 2030, KL hàng hóa thông quan từ 172-255 triệu tấn (riêng hàng container từ 0.6-1 triệu TEU). Tốc độ tăng trưởng công suất trung bình đến 2050 khoảng 3.6-4.5%/năm.
    Nhóm cảng biển số 3: Gồm 08 cảng biển: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Đến năm 2030, KL hàng hóa thông quan từ 138-181 triệu tấn (riêng hàng container từ 1.8-2.5 triệu TEU). Tốc độ tăng trưởng công suất trung bình đến 2050 khoảng 4.5-5.5%/năm.
    Nhóm cảng biển số 4: Gồm 05 cảng biển: Tp.HCM, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Long An. Đến năm 2030, KL hàng hóa thông quan từ 461-540 triệu tấn (riêng hàng container từ 23-28 triệu TEU). Tốc độ tăng trưởng công suất trung bình đến 2050 khoảng 3.5-3.8%/năm.
    Nhóm cảng biển số 5: Gồm 12 cảng biển: Cần Thơ, Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang. Đến năm 2030, KL hàng hóa thông quan từ 64-80 triệu tấn (riêng hàng container từ 0.6-0.8 triệu TEU). Tốc độ tăng trưởng công suất trung bình đến 2050 khoảng 5.5-6.1%/năm.
    Với tốc độ tăng trưởng công suất được kỳ vọng ở mức 6% trong bối cảnh giá dịch vụ cảng biển nhiều khả năng chỉ được điều chỉnh dựa theo lạm phát kỳ vọng hàng năm (dự kiến ở mức trung bình 3%/năm), chúng tôi cho rằng doanh thu đến từ dịch vụ khai thác cảng biển dự phóng sẽ tăng trưởng quanh mức trung bình 9%/năm trong giai đoạn 2021-2030.
    Động lực tăng trưởng năm 2022
    Thu hút FDI tiếp tục tăng trưởng: Trong năm 2021, số dự án FDI CN chế biến, chế tạo còn hiệu lực đạt 15,592 dự án (+3.0% CK) với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 242 tỷ USD (+6.8% CK).
    Mặc dù tốc độ tăng trưởng số lượng dự án chậm lại (so với mức trung bình 7.2% trong 5 năm gần nhất), tốc độ tăng trưởng về vốn đầu tư có sự cải thiện so với mức 5.8% năm 2020. Quy mô vốn/dự án cũng tăng lên mức trung bình 15.5 triệu USD/DA (so với mức 14.9 triệu USD/DA năm 2020). Trong 2T2022, số dự án và tổng vốn đăng ký ghi nhận đạt 15,527 DA và 247 tỷ USD, tăng lần lượt 2.8% và 8.1% CK, tiếp tục xu hướng tăng về quy mô từng dự án với hệ số vốn/DA đạt 15.8 triệu USD.
    Hoạt động sản xuất cải thiện: Từ T11/2021 đến T2/2022, cả 2 chỉ số PMI và IIP liên tục cho thấy tín hiệu cải thiện mạnh. Cụ thể, PMI T2/2022 đạt mức 54.3, duy trì ở mức trên 50 trong 5 tháng liên tiếp tính từ T10/2021. IIP T2/2022 ước tăng 8.5% CK, ghi nhận tháng thứ 4 liên tiếp tăng trưởng so với cùng kỳ.
    Vận tải thủy phục hồi: Hoạt động vận tải thủy đường biển và thủy nội địa 2021 ghi nhận hồi phục so với 2020. Cụ thể, KL hàng hóa vận tải đường biển và thủy nội địa ước đạt lần lược 85 triệu tấn (+3.3% CK) và 315.5 triệu tấn (-6.4% CK), cải thiện đáng kể so với mức giảm 2.3% và 9.6% trong năm 2020. Trong 2T2022, KL vận tải biển và thủy nội địa ước đạt 14.8 triệu (+8.5% CK) và 50.8 triệu tấn (-3.6% CK), tiếp tục xu hướng cải thiện.
    Tình hình kinh tế ở các TT XK chính của VN hồi phục: GDP các thị trường tiêu thụ lớn trên thế giới như Mỹ, EU, Nhật, Trung Quốc được dự báo tiếp tục tăng trưởng trong năm 2022 và 2023. Điều này kéo theo tiêu thụ hàng hóa hồi phục và hoạt động XNK của VN tăng trưởng. Thêm vào đó, tỷ giá VND/USD duy trì ổn định quanh mức 23,000 và dự kiến không biến động lớn trong năm 2022 hỗ trợ sự ổn định của hoạt động XNK.
    Yếu tố rủi ro chính
    Dịch COVID-19 ảnh hưởng đến hoạt động cảng biển trên thế giới: Với chiến lược “ZeroCOVID”, Trung Quốc vào T8/2021 tạm dừng hoạt động tại ga Mi Sơn – cảng Ninh Ba. Trong những tháng đầu năm 2022, TQ tiếp tục phong tỏa các thành phố lớn để hạn chế bùng phát dịch COVID. Tương tự, hoạt động ở các cảng biển lớn trên thế giới bên cạnh việc ghi nhận mức tăng trưởng cao cũng xảy ra tình trạng ùn ứ do các biện pháp phòng dịch làm tăng thời gian thông quan. Theo đó, hoạt động vận tải biển trên toàn thế giới có nguy cơ bị xáo trộn và kém hiệu quả nếu tình trạng này vẫn tiếp diễn. Điều này ảnh hưởng xấu đến các tuyến hàng hải đến VN cũng như hoạt động XNK.
    Theo ghi nhận, đến cuối T1/2022, KL thông quan hàng hóa tại các cảng Bắc Mỹ đã giảm 10.2% CK; cảng Singapore giảm 0.4% CK; HongKong giảm 19.4% CK; các cảng TQ đại lục mặc dù ghi nhận mức tăng 2% CK nhưng tốc độ tăng đã chậm lại khi so với mức tăng 12.5% vào cuối T1/2021.
    Nguyễn Giang
  4. NamFERARI

    NamFERARI Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    15/04/2014
    Đã được thích:
    5.318
    Hàng container qua cảng biển tăng mạnh
    28-03-2022 - 09:39 AM | Kinh tế vĩ mô - Đầu tư

    3 tháng đầu năm, hàng container qua cảng biển Việt Nam tiếp tục giữ đà tăng, trong đó hàng container nhập khẩu tăng mạnh nhất.
    Cục Hàng hải VN cho biết, 3 tháng đầu năm 2022, khối lượng hàng hóa thông qua cảng biển Việt Nam ước đạt gần 180 triệu tấn. Trong đó, hàng container ước đạt 6,2 triệu TEUs.

    Riêng tháng 3/2022, lượng hàng hóa qua cảng biển ước đạt 67,3 triệu tấn, tăng 4% so với cùng kỳ năm 2021. Hàng container ước đạt 2,3 triệu TEUs tăng 6%.

    Trong đó, hàng container nhập khẩu có đà tăng mạnh với mức tăng trưởng 12%, đạt 826.000 TEUs. Hàng xuất khẩu tăng 7%, đạt 757.000 TEUs.

    Một số khu vực có khối lượng hàng hóa thông qua cao như: Khu vực Quảng Ninh tăng 48% (từ 14,6 triệu tấn lên 21,7 triệu tấn), khu vực Quảng Trị tăng 38% (từ 175 nghìn tấn lên 241 nghìn tấn), khu vực Nghệ An tăng 14% (từ 1,67 triệu tấn lên 1,9 triệu tấn).

    ADVERTISING
    iTVC from Admicro
    Tuy nhiên, nhiều khu vực cảng biển lại có khối lượng hàng hóa thông qua giảm như: Khu vực Bình Thuận giảm 38%, khu vực Cần Thơ giảm 24%, khu vực Đồng Tháp giảm 28%. Khu vực cảng biển lớn như TP.HCM và Vũng Tàu cũng ghi nhận mức giảm nhẹ lần lượt là 5% (giảm 1,2 triệu tấn) và 2% (giảm 396 nghìn tấn).
  5. NamFERARI

    NamFERARI Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    15/04/2014
    Đã được thích:
    5.318
    Qúy 1 này ngành cảng biển sẽ ln khá : VSC, GMD múc :-bd\m/
  6. NamFERARI

    NamFERARI Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    15/04/2014
    Đã được thích:
    5.318
    Vượt khó khăn dịch bệnh, GDP quý 1 của Việt Nam tăng 5.03%
    29-03-2022 09:08:00+07:00
    1 giờ trước 0
    Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê mới công bố, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý 1 năm 2022 ước tính tăng 5.03% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng 4.72% của quý 1 năm 2021 và 3.66% của quý 1 năm 2020 nhưng vẫn thấp hơn tốc độ tăng 6.85% của quý 1 năm 2019.

    https://image.*********.vn/2022/03/29/GDP-quy-3-2022-cua-viet-nam.jpg
    Tổng sản phẩm trong nước quý 1 năm 2022 ước tính tăng 5.03% so với cùng kỳ năm trước
    Cụ thể, trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp quý 1 năm 2022 tăng 7.07% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 6.44% của quý 1 năm 2021, đóng góp 2.42 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế với mức tăng 7.79%, đóng góp 2.05 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng tăng trưởng dương 1.23% (khai thác than tăng 3.2% và quặng kim loại tăng 5%), làm tăng 0.04 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành xây dựng tăng 2.57%, thấp hơn tốc độ tăng 6.53% của quý 1 năm 2021, đóng góp 0.16 điểm phần trăm.

    Khu vực dịch vụ trong quý 1 năm 2022 tăng trưởng khởi sắc khi nhiều hoạt động dịch vụ sôi động trở lại. Đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của quý 1 năm nay như sau: Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9.75% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0.54 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 7.06%, đóng góp 0.43 điểm phần trăm; ngành bán buôn và bán lẻ tăng 2.98%, đóng góp 0.31 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 1.79%, làm giảm 0.04 điểm phần trăm.

    Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, năng suất lúa mùa vùng Đồng bằng sông Cửu Long tăng khá (tăng 7.4 tạ/ha) so với vụ mùa năm trước; ngành chăn nuôi đang dần phục hồi, sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý 1 năm 2022 đều tăng so với cùng kỳ năm trước; chế biến và xuất khẩu tiêu thụ gỗ có nhiều tín hiệu tích cực; nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định, giá cá tra, tôm nuôi trồng đang ở mức cao do nhu cầu xuất khẩu tăng mạnh. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp quý 1 năm 2022 tăng 2.35% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0.22 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3.86% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0.02 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 2.54%, đóng góp 0.05 điểm phần trăm

    Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm 2022, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,94%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37.97%; khu vực dịch vụ chiếm 41.70%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9.39% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2021 là 11.61%; 36.61%; 42.38%; 9.40%).

    Về sử dụng GDP quý 1 năm 2022, tiêu dùng cuối cùng tăng 4.28% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 3.22%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 5.08%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 4.20%.
  7. Bff_vn

    Bff_vn Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    13/01/2010
    Đã được thích:
    984
  8. NamFERARI

    NamFERARI Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    15/04/2014
    Đã được thích:
    5.318
    Hôm nay Vsc sẽ khởi nghĩa chăng :D
  9. tho2411

    tho2411 Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    17/09/2014
    Đã được thích:
    5.219
    Em vsc yeu sinh ly ma chay gi noi. Qus gmd di
    NamFERARI thích bài này.
  10. NamFERARI

    NamFERARI Thành viên gắn bó với f319.com

    Tham gia ngày:
    15/04/2014
    Đã được thích:
    5.318
    Mình có cả 2 con bác ạ :)
    --- Gộp bài viết, 04/04/2022, Bài cũ: 04/04/2022 ---
    VSC đang mua một ICD tại Đình Vũ, Hải Phòng, thông qua công ty con GLC. ICD có diện tích 20ha và vốn đầu tư trên 400 tỷ đồng. Dự kiến bắt đầu đi vào hoạt động trong tháng 7/2022.

    Hôm nay đã ký kết hợp đồng vs QBS rồi nhé.
    ~o)%%-**==
    130m46 thích bài này.

Chia sẻ trang này